Thứ Ba, 12 tháng 9, 2023

NVE40- ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM

 Những năm qua, tại Biển Đông xảy ra một số vụ việc phức tạp, có lúc diễn biến căng thẳng, trong đó có các hành động gây hấn, xâm phạm chủ quyền biển đảo như: Vụ việc tàu Viking 02 và tàu Bình Minh 02 của Việt Nam bị cắt cáp năm 2011 và 2012; vụ giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam trên Biển Đông năm 2014; sự kiện tàu Hải Dương 8 của Trung Quốc khảo sát trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa phía Nam Biển Đông của Việt Nam (từ ngày 4/7/2019 đến ngày 24/10/2019); Hay ngày 07/8/2023, vụ xịt vòi rồng tàu Philippines… và nhiều nội dung xuyên tạc đường lối đối ngoại, chính sách quốc phòng và chủ trương giải quyết tranh chấp để bảo vệ chủ quyền biển, đảo; kích động, gây chia rẽ mối quan hệ ngoại giao Việt Nam - Philippies; Việt Nam - Trung Quốc,các hoạt động tập trận trên Biển Đông tại một số thời điểm…

Những sự việc này được các tổ chức, đối tượng phản động triệt để khai thác, nhào nặn, biến tấu thành những luận điệu xảo trá, vu cáo như “Việt Nam nhu nhược, hèn nhát”, “chính quyền Việt Nam làm ngơ về Biển Đông”, trên trang blog BBC Tiếng Việt tán phát bài “Biển Đông: Xịt vòi rồng tàu Philippines, Trung Quốc muốn thử phản ứng, Việt Nam cần ứng phó như thế nào”; kích động, gây chia rẽ mối quan hệ ngoại giao Việt Nam - Philippies; Việt Nam - Trung Quốc,… Không những thế, các thế lực xấu còn vẽ ra “thuyết âm mưu” khi cho rằng Việt Nam cần phải liên minh quân sự với những nước lớn có thực lực kinh tế, quốc phòng - an ninh mạnh thì mới đủ sức bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia. Nhiều bài viết phê phán rằng, Việt Nam thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không” là “tự trói mình” vì tiềm lực kinh tế, quốc phòng - an ninh Việt Nam hiện nay là quá yếu, không thể ba không, bốn không mà xoay xở được; từ đó họ vẽ ra một viễn cảnh cần phải liên minh với Mỹ thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền biển, đảo và bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc…

Như chúng ta đã biết Biển, đảo là bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, cấu thành chủ quyền quốc gia, cửa ngõ giao lưu quốc tế, có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước. Bảo vệ biển, đảo chính là bảo vệ một phần máu thịt thiêng liêng của Tổ quốc, giữ vững chủ quyền biển, đảo sẽ góp phần giữ vững chủ quyền của đất nước. Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Việt Nam là điều kiện, nội dung giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, duy trì hòa bình, ổn định và phát triển bền vững.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”. Thực tế cho thấy, mỗi khi chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên Biển Đông bị xâm phạm, lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta luôn thể hiện tinh thần đấu tranh kiên quyết, kiên trì bằng các biện pháp hòa bình, đó là thông qua các diễn đàn, các cuộc gặp gỡ trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao...

Điều này đã được nêu rõ trong các nghị quyết của Đảng và được chứng minh qua việc giải quyết vấn đề Biển Đông của Việt Nam, với tinh thần thượng tôn pháp luật, giải quyết hòa bình các tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế và Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982); kiềm chế, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực; thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và sớm đạt được Bộ quy tắc ứng xử tại Biển Đông (COC).

Còn luận điệu “Biển Đông: Xịt vòi rồng tàu Philippines, Trung Quốc muốn thử phản ứng, Việt Nam cần ứng phó như thế nào?” là sự kích động nằm trong âm mưu của chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực phản động, thù địch nhằm chia rẽ mối quan hệ giữa Việt Nam và Philippines. Hai nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Philippines được thiết lập ngoại giao vào ngày 12/7/1976 sau khi kết thúc chiến tranh lạnh. Cùng với việc mở rộng chính sách đối ngoại của Việt Nam, quan hệ giữa hai nước đã ấm lên và phát triển không ngừng trên nhiều lĩnh vực và trước thềm hội nghị APEC 2015 ở Manila, Chính phủ hai nước đã ký kết thoả thuận nâng cấp mối quan hệ lên tầm đối tác chiến lược. Đối với Trung Quốc, Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng, núi liền núi, sông liền sông, có nhiều điểm tương đồng về lịch sử, văn hóa và thể chế chính trị, tình cảm hữu nghị giữa hai nước đã được xây dựng qua nhiều thế hệ; đến nay, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn coi trọng quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác bình đẳng đôi bên cùng có lợi. Cùng với đó, những năm gần đây, hai nước đã có những đàm phán, ký kết và thỏa thuận là kiên trì giải quyết hòa bình vấn đề Biển đông trên cơ sở luật pháp quốc tế, Công ước Liên hiệp quốc về Luật Biển năm 1982 và tinh thần tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển đông. Như vậy, luận điệu “Biển Đông: Xịt vòi rồng tàu Philippines, Trung Quốc muốn thử phản ứng, Việt Nam cần ứng phó như thế nào?" chính là sự khiêu khích, bởi quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước ta về vấn đề Biển Đông đã rõ ràng, chứng tỏ họ không có tinh thần xây dựng đất nước, mà thực chất là đang kích động bạo lực, kích động chiến tranh và làm xấu đi quan hệ ngoại giao của Việt Nam với các nước láng giềng.

Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã chủ động, tích cực giải quyết từng bước những tồn tại về biên giới lãnh thổ trên biển và đất liền với các nước liên quan nhằm thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác, góp phần củng cố hoà bình, an ninh khu vực, đồng thời tăng cường thế và lực của đất nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam đã ký nhiều văn bản với các nước liên quan đến biển, đảo. Bên cạnh đó, Việt Nam đã xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia về biển, tạo khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động khai thác, quản lý và bảo tồn các nguồn tài nguyên biển phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, phục vụ nhiệm vụ tập trung phát triển kinh tế, thúc đẩy quan hệ kinh tế của Việt Nam với các nước, nâng tầm vị thế của nước ta trên trường quốc tế. Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Chính sách quốc phòng của Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế; tích cực, chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, thực hiện phương châm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, sẵn sàng chống chiến tranh xâm lược. Chúng ta không đi với nước này để chống lại nước kia; không thụ động chịu tác động hay sự lôi kéo của bất cứ nước lớn nào, nhất là tránh việc trở thành con bài trong tay các nước lớn. Chúng ta thực hiện đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển, góp phần duy trì môi trường hoà bình, ổn định cho phát triển.

Vì vậy chúng ta cần nhận diện, đấu tranh với những chiêu trò suy diễn, phê phán đường lối đối ngoại, đường lối bảo vệ độc lập, chủ quyền của Tổ quốc, đòi hỏi phải “chọn phe” để bảo vệ chủ quyền biển đảo. Chúng ta quán triệt phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong giải quyết vấn đề biển, đảo, trong đó chủ quyền biển, đảo là bất biến, sách lược bảo vệ chủ quyền biển, đảo thì mềm dẻo, linh hoạt; chủ động, cần kiên trì, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc vấn đề chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Mục đích của việc đấu tranh này là làm cho nhân dân Việt Nam hiểu rõ về lập trường, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề chủ quyền biển, đảo; củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay/..

NVE40- CHỦ ĐỘNG ĐẤU TRANH PHẢN BÁC NHỮNG THÔNG TIN XUYÊN TẠC, NÓI XẤU CÁN BỘ QUÂN ĐỘI

 Lợi dụng việc một số cán bộ quân đội vi phạm kỷ luật, pháp luật, thời gian qua trên mạng xã hội lan truyền nhiều thông tin sai trái, bóp méo, xuyên tạc nói xấu đội ngũ cán bộ quân đội. Với trò “vơ đũa cả nắm”, bằng cách cắt xén tư liệu, dựng chuyện, bóp méo thông tin, suy diễn một chiều, “nhào nặn” thật - giả lẫn lộn, kẻ xấu lợi dụng một số vụ án liên quan đến cán bộ quân đội để xuyên tạc bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, làm suy giảm uy tín quân đội, kích động chia rẽ mối quan hệ đoàn kết gắn bó giữa quân đội với nhân dân. Những thông tin sai trái ấy không thể đánh lừa được dư luận, bởi lẽ đại đa số cán bộ, đảng viên và nhân dân ta luôn cảnh giác, bình tĩnh, tỉnh táo, sáng suốt trong việc chọn lọc và tiếp nhận thông tin. Tuy nhiên, ở một góc độ nào đó, những thông tin sai trái, bịa đặt kia đã gieo rắc sự hoài nghi trong nhân dân, đặc biệt là trong một bộ phận “cư dân mạng” nhận thức hạn chế, nhẹ dạ, cả tin, thiếu tin tưởng vào bản lĩnh, lòng trung thành, tinh thần tận trung với nước, tận hiếu với dân của đội ngũ cán bộ quân đội.

Sự quan tâm của người dân đến sự trưởng, lớn mạnh và cả những hạn chế, khuyết điểm, nhất là trong việc chấp hành kỷ luật, pháp luật của đội ngũ cán bộ quân đội cũng là điều dễ hiểu. Bởi lẽ có quan tâm đến sự trưởng thành, lớn mạnh của quân đội, có quan tâm đến chất lượng đội ngũ cán bộ quân đội thì nhân dân mới có nhu cầu thông tin và tỏ ra lo lắng trước những sự việc, vụ việc liên quan đến cán bộ quân đội. Thế nhưng, bên cạnh những thông tin tích cực góp phần định hướng dư luận, một thực tế đang diễn ra là các thế lực thù địch, những phần tử phản động, cơ hội chính trị gia tăng các hoạt động chống phá quân đội. Nắm bắt được nhu cầu thông tin cao của người dân về công tác cán bộ và đội ngũ cán bộ quân đội, các thế lực thù địch, phản động tung lên mạng đủ các loại thông tin bịa đặt, suy diễn, nhận định hồ đồ, vô căn cứ về đội ngũ cán bộ quân đội nói chung và một số cán bộ cụ thể nói riêng nhằm mục đích gây rối, làm nhiễu loạn thông tin, chia rẽ nội bộ và làm phai mờ hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân.

Cần phải khẳng định rằng, sự phát triển của đội ngũ cán bộ là nhân tố quyết định sự trưởng thành, lớn mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; “muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hay kém”. Quán triệt tư tưởng của Người, qua từng thời kỳ cách mạng, Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng luôn đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác cán bộ nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ đủ về số lượng, nâng cao về chất lượng, đáp ứng ngày càng tốt hơn với yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đảng ta xác định xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội là một bộ phận quan trọng trong công tác cán bộ của Đảng. Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” thì trước hết và nòng cốt phải tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh, bởi đây là nhân tố quyết định sức mạnh chiến đấu của quân đội ta.

Thực tế những năm qua cho thấy, đội ngũ cán bộ trong quân đội có lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng; phẩm chất đạo đức trong sáng; phong cách, năng lực lãnh đạo, quản lý, chỉ huy tốt; có tư duy đổi mới, sáng tạo; có tầm nhìn chiến lược, phương pháp làm việc khoa học; có khả năng phân tích và xử lý các tình huống; tinh thần trách nhiệm cao, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, được cán bộ, chiến sĩ và nhân dân tin tưởng, yêu mến.

Tuy nhiên, chúng ta không phủ nhận trong quân đội có một số cán bộ vi phạm kỷ luật, pháp luật. Nhưng cần phải thức rằng, những khuyết điểm, sai phạm của một số cá nhân trong quân đội chỉ là “con sâu làm rầu nồi canh”. Chúng ta không thể “thấy cây mà không thấy rừng”, không thể lấy cái cá thể để suy diễn, quy chụp cái tổng thể. Không thể chủ quan, phiến diện dựa vào khuyết điểm, sai phạm của một vài cá nhân mà phủ nhận sạch trơn vai trò của đội ngũ cán bộ quân đội và công tác cán bộ.

Trước sự chống phá của các thế lực thù địch, trước hết chúng ta phải tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục làm sao để người dân hiểu sâu hơn về bản chất, truyền thống quân đội từ đó có thể tự phòng vệ trước luồng thông tin tiếp nhận, biết đâu là thông tin độc hại và thông tin hữu ích. Mặt khác, cán bộ, đảng viên và người dân, trước hết là cán bộ, chiến sĩ trong quân đội phải luôn đề cao cảnh giác để kịp thời nhận diện, vạch trần, tẩy chay, không tiếp tay cho kẻ xấu lan truyền những thông tin xuyên tạc, bịa đặt, nói xấu cán bộ quân đội. Đặc biệt, các thế lực thù địch, phản động triệt để khai thác ưu thế của công nghệ thông tin, Internet, mạng xã hội đến chống phá, do vậy, chúng ta cần tích cực, chủ động cung cấp thông tin chính thống về quân đội và đội ngũ cán bộ quân đội đến nhân dân. Kịp thời cung cấp thông tin chính thống là cách tốt nhất để không tạo ra khoảng trống cho sự tồn tại của các luận điệu bóp méo, xuyên tạc, bịa đặt. Cung cấp thông tin một cách kịp thời, thường xuyên, chính xác, đầy đủ là sự phản bác có hiệu quả nhất đối với những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, phản động. Trách nhiệm của mỗi chúng ta là phải kịp thời lên tiếng, đấu tranh, đẩy lùi thông tin xuyên tạc, bịa đặt, kiên quyết không để kẻ xấu coi thường kỷ cương phép nước, bôi nhọ uy tín, danh dự của cán bộ quân đội và cá nhân các đồng chí lãnh đạo Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, gây hoang mang dư luận, gây nghi kỵ, chia rẽ đoàn kết nội bộ, ảnh hưởng không tốt đến đội ngũ cán bộ và công tác bộ trong quân đội. Đối với những trường hợp đăng phát những thông tin đăng sai sự thật, mang tính vu khống, bôi nhọ cán bộ quân đội nhất quyết phải làm rõ và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật./.

NVE40- NHỮNG MINH CHỨNG KHẲNG ĐỊNH CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM

Biển đảo Việt Nam là một phần lãnh thổ thiêng liêng không thể tách rời của Tổ quốc được cha ông truyền lại. Cúng ta phải ra sức gìn giữ toàn vẹn phần lãnh thổ này như lời Bác Hồ năm xưa đã dặn “các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước”. “Lãnh thổ Việt Nam là một khối thống nhất và toàn vẹn bao gồm vùng đất, vùng biển và vùng trời. Nước ta có đường bờ biển dài 3260 km, cong hình chữ S, chạy từ thị xã Móng Cái  (Quảng Ninh) ở phía Bắc đến thị xã Hà Tiên (Kiên Giang) ở phía Tây Nam… Nước ta có hơn 4000 hòn đảo lớn nhỏ, phần lớn là các đảo ven bờ và có hai quần đảo ở ngoài khơi xa trên biển Đông là quần đảo Hoàng Sa (thuộc thành phố Đà Nẵng) và quần đảo Trường Sa (thuộc tỉnh Khánh Hòa)… Biển Đông đối với nước ta là một hướng chiến lược quan trọng trong công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế và bảo vệ đất nước. Các đảo và quần đảo tạo thành hệ thống tiền tiêu bảo vệ đất liền, hệ thống căn cứ để nước ta tiến ra biển và đại dương trong thời đại mới, khai thác có hiệu quả các nguồn lợi vùng biển, hải đảo, thềm lục địa.


Biển Đông được coi là 1 trong 5 bồn trũng chứa nhiều dầu khí lớn nhất thế giới. Kinh tế ven biển và thuần biển đã có đóng góp quan trọng vào tổng GDP của cả nước, và cùng với đó, thu nhập bình quân của người dân ven biển đang tăng nhanh. Vùng biển của Việt Nam được phê chuẩn theo công ước của Liên Hiệp Quốc về luật biển năm 1982 và vào năm 1994. Theo đó, một quốc gia ven biển sẽ có 5 vùng biển là: nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Căn cứ để tính chiều rộng của các vùng biển của một quốc gia chính là đường cơ sở và đơn vị đo chính là hải lí. Một hải lí bằng 1852m.

Nước Việt Nam nằm bên bờ phía tây của Biển Đông. Bao đời nay, biển và hải đảo đã gắn bó chặt chẽ với các hoạt động sản xuất và đời sống của dân tộc ta. Ngay từ thời Hùng Vương, tổ tiên chúng ta đã biết khai thác biển, lúc đầu là đánh bắt các hải sản ven bờ, sau tiến ra các đảo và vùng biển xa hơn. Câu chuyện về chàng Mai An Tiêm bị vua cha hiểu lầm đuổi ra đảo hoang đã cùng vợ bỏ sức khai phá và trồng dưa hấu trên hòn đảo gần bờ biển vùng Nga Sơn (Thanh Hóa) đã phần nào phản ánh: Từ xa xưa, người Việt đã tới sinh sống và sản xuất trên các hải đảo ven bờ. Không những vậy, cư dân Lạc Việt thời đó cũng đã có khả năng vượt biển tới những vùng đất xa, bằng chứng là những chiếc thuyền vũ trang có chở nhiều đồ đồng quý giá như trống, bình đồng… mà người ta thấy được ở hầu khắp các đảo lớn thuộc Inđônêxia và ven bờ biển Malaixia, Thái Lan.

Các triều đại phong kiến Việt Nam sau này đều thấy rõ vai trò của biển đối với sự phát triển kinh tế và an ninh quốc phòng.Trên nhiều tấm bản đồ cổ của nước ta cũng như của nước ngoài đều thể hiện chủ quyền biển đảo Việt Nam. Bộ Hồng Đức bản đồ gồm bản đồ cả nước và các địa phương, trong đó có vùng biển, đảo đã ghi lại khá toàn diện hình ảnh của quốc gia Đại Việt ở cuối thế kỉ 14. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu thì trên những bản đồ cổ của Tây Phương và cả những bản đồ từ thế kỉ 15 của Trung Quốc đều dùng địa danh biển Giao Chỉ (tức là biển của Việt Nam) để chỉ vùng biển ở phía đông nước ta. Giao Chỉ là tên gọi do các triều đại phong kiến Trung Quốc dùng để chỉ người và nước Việt Nam xưa. Giao Chỉ là một trong 15 bộ của nước Văn Lang. Các triều đại phong kiến Trung Quốc sau này nhiều khi vẫn dùng tên Giao Chỉ cũng như tên An Nam để chỉ quốc gia và nhân dân Đại Việt.

Sang thế kỉ XIX hoạt động chủ quyền của nhà Nguyễn được tổ chức chặt chẽ, thường xuyên và phong phú hơn, nhất là dưới các triều vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị. Nhà Nguyễn nối tiếp chúa Nguyễn và vương triều Tây Sơn đã thực thi chủ quyền của mình ở Hoàng Sa và Trường Sa dưới nhiều hình thức và biện pháp khác nhau như vãng thám kiểm tra kiểm soát, khai thác các hóa vật và hải sản, tổ chức thu thuế và cứu hộ tàu bị nạn, khảo sát, đo vẽ bản đồ, dựng miếu thờ, lập bia chủ quyền, dựng bài gỗ lưu dấu để ghi nhớ, trồng cây để cho người qua lại dễ nhận biết… Lực lượng ra làm nhiệm vụ ở Hoàng Sa, Trường Sa không chỉ có các đội Hoàng Sa, Bắc Hải, các đội Thủy quân, biền binh, vệ giám thành mà cả binh đinh, dân phu (chủ yếu ở hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định). Mỗi chuyến đi ra Hoàng Sa, Trường Sa đều phải có quyết định của nhà nước dưới hình thức “tờ sai để thi hành công vụ” và nhiều khi chính nhà vua trực tiếp chỉ đạo việc quyết định cho thuyền ra khơi hay tạm dừng lại vì bão gió. Tập tài liệu của Trung Quốc Ngũ quốc Nam hải chư đảo sử liệu hội biên do Hàn Chấn Hoa chủ biên, trang 115 thiên thứ nhất, cũng ghi chép dấu vết trên đảo Vĩnh Hưng (Phú Lâm) ở Hoàng Sa có miếu gọi là Hoàng Sa tự (Hoàng Sa tự được vua Minh Mạng triều Nguyễn cho xây dựng).

Từ khi chiếm lĩnh được hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, ông cha ta đã cho người ra cắm mốc chủ quyền. Khi chính quyền Pháp bảo hộ, họ cũng đã cắm bia chủ quyền ghi “Cộng hòa Pháp- Đế quốc An Nam quần đảo Hoàng Sa”. Vào năm 1956, khi người Pháp rút, bàn giao 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa.Như vậy, qua các căn cứ trên ,chúng ta hiểu rằng Hoàng Sa,Trường Sa là của Việt Nam.Bất kì sự xâm phạm của quốc gia nào vào vùng biển thuộc chủ quyền của chúng ta là đã đi ngược Công ước về luật biển năm 1982 của Liên Hiệp Quốc.

Trong thời gian qua,Trung Quốc đã nhiều lần tái diễn hành vi xâm phạm vùng biển Việt Nam: Tập trận ở vùng biển Hoàng Sa, tàu cá Trung Quốc, tàu dân quân biển, tàu khảo sát Trung Quốc…đi vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Biển Đông của chúng ta lại “nóng”lên trước các hoạt động của Trung Quốc. Trả lời câu hỏi của một số phóng viên trong và ngoài nước liên quan đến diễn biến gần đây ở Biển Đông, Người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng cho biết: “Như đã nhiều lần khẳng định, Việt Nam có chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển ở Biển Đông được xác định theo đúng các quy định của công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 và các nước ở Biển Đông đều là thành viên. Do đó, mọi hoạt động của nước ngoài trên các vùng biển Việt Nam phải tuân thủ các quy định có liên quan của Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, pháp luật Việt Nam. Mọi hoạt động của nước ngoài trên các vùng biển Việt Nam nếu không được phép của Việt Nam đều vô giá trị, xâm phạm vùng biển Viện Nam, vi phạm luật pháp quốc tế và công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982. 

Có thể khẳng định rằng chủ trương nhất quán của Việt Nam là kiên quyết, kiên trì đấu tranh bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 trước bất cứ hành vi nào xâm lược chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên các vùng biển, được xác định phù hợp với công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982. Việt Nam hết sức coi trọng hòa bình, hữu nghị, hợp tác, thiện chí và sẵn sàng giải quyết các tranh chấp bất đồng bằng các biện pháp hòa bình. Trên cơ sở đó, trong thời gian qua, Việt Nam đã triển khai đồng bộ các biện pháp hòa bình để giải quyết vấn đề, đấu tranh yêu cầu tôn trọng vùng biển Việt Nam, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam trên vùng biển của mình, không có hành động làm phức tạp tình hình. Các lực lượng chức năng trên biển của Việt Nam đã và đang thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán một cách hòa bình, đúng pháp luật nhằm bảo vệ vùng biển Việt Nam”. Chúng ta kiên quyết, kiên trì đấu tranh để giữ vững chủ quyền quốc gia của tổ quốc, không để bị động, bất ngờ, không để mất đảo, mất dân, mất đất. Biển đảo là của tiền nhân để lại, một viên đá trên đảo, một ngụm nước biển thuộc chủ quyền của nước mình cũng khống thể để mất đi.   

Vì vậy chúng ta cần có nhận thức đúng đắn về vị trí vai trò của biển, đảo, hiểu biết sâu sắc về truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc để tìm ra phương thức bảo vệ chủ quyền một cách hữu hiệu; Xây dựng, củng cố lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lập tự cường, nâng cao ý thức bảo vệ tổ quốc; Tích cực học tập huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu nhận và hoàn thành các nhiệm vụ Quân đội./. 

Thứ Tư, 9 tháng 8, 2023

VẠCH TRẦN SỰ XUYÊN TẠC CỦA VIỆT TÂN

 Nhân chuyến thăm của Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng tới các nước Áo, Ý và Vatican, Việt Tân hoạt động khá tích cực trong vai trò xuyên tạc nhằm phá hoại sự thành công của chuyến thăm này. Trong đó, Việt Tân dành nhiều thời gian, công sức để ngắm từng bức ảnh, đọc từng bản tin để tìm cách xuyên tạc.

Xuất phát từ lời phát biểu của Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng trước Tổng thống Áo Alexander Van der Bellen rằng: “Việt Nam đề nghị Áo đưa Việt Nam vào danh sách ưu tiên nhận ODA và có chính sách cho vay ưu đãi hơn…”. Bằng một cách thần kỳ nào đó, Việt Tân xuyên tạc chữ “đề nghị” thành chữ “xin” và cứ lải nhải trong suốt mấy ngày hôm nay. Qua sự xuyên tạc này mới thấy:

Việt Tân nghèo nàn về ý tưởng nên khi vừa ý tưởng là bám riết không thôi. Mà ý tưởng hay ho gì cho hay, đây toàn những người nước ngoài nói tiếng Việt hoạt động cho Việt Tân thành ra xuyên tạc câu chữ không nền hồn.

Cần phải hiểu rằng, ODA là một hình thức đầu tư nước ngoài, tuy nhiên khoản đầu tư này mang tính chất chính trị, ngoại giao nhiều hơn nên lãi suất khoản vay rất thấp nên nó cũng còn được gọi là viện trợ. Nhưng bản chất nó vẫn là khoản vay và khi đi cho vay thì các nước cung cấp ODA cũng kèm theo nhiều điều kiện thay cho lãi suất như ưu tiên các công ty, ưu tiên sử dụng nguồn lao động của nước đó. Bên cạnh đó, nó cũng tăng cường sự ảnh hưởng về chính trị, ngoại giao, công nghệ, mở rộng thị trường đến các quốc gia đang phát triển cần nguồn vốn. Như vậy, quốc gia cho vay ODA vừa được tình vừa được cả lợi ích vật chất. Cho nên chẳng thế mà Tổng thống Áo vui vẻ nhận lời khi Chủ tịch nước ta đề nghị.

Đi vay ODA chưa chắc đã nghèo như Việt Tân tuyên truyền. Bởi khi Việt Nam ngày càng giàu mạnh thì nhu cầu về nguồn vốn phát triển lại ngày càng lớn hơn rất nhiều. Nó cũng như một công ty, một doanh nghiệp càng làm ăn lớn thì vốn đi vay càng nhiều và lúc này, người ta mong muốn tìm được nguồn vốn vay ưu đãi nhất có thể. Nó cũng giống như Mỹ là siêu cường thế giới nhưng cũng là con nợ thế giới. Nhưng vốn vay của họ là để phát triển chứ không phải là chi tiêu.

Nếu xuyên tạc từ “đề nghị” thành từ “xin” thì Mỹ “xin” Việt Nam suốt. Đoàn lãnh đạo cấp cao của Mỹ mà gặp Việt Nam, hôm nào chẳng “đề nghị nâng cấp quan hệ ngoại giao”.

Tóm lại, Việt Tân XUYÊN TẠC vẫn hoàn xuyên tạc mà thôi.

TỤ TẬP ĐÔNG NGƯỜI, GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG LÀ VI PHẠM PHÁP LUẬT CẦN PHẢI BỊ XỬ LÝ

 Thời gian vừa qua, tại một số tỉnh, thành cả nước do một bộ phận người dân nhận thức thiếu hiểu biết cộng với sự nhẹ dạ, cả tin nên đã bị các phần tử xấu của “diễn biến hòa bình” lợi dụng, mua chuộc, đã xuống đường tụ tập đông người để biểu đạt ý kiến về dự thảo Luật đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt và dự thảo Luật An ninh mạng. Những vụ tụ tập này bị biến thành các hoạt động gây rối, đặc biệt ở một số địa phương có khu công nghiệp, vùng trung du miền núi là các hoạt động bạo động, đập phá cơ sở chính quyền, công an. Các hành động đó hoàn toàn trái với quy định Pháp luật Việt Nam và cần phải lên án, xử lý nghiêm minh theo Pháp luật.

Theo đó, cơ quan công an địa phương đã triệu tập, khởi tố nhiều đối tượng tham gia, trong đó đã bắt “một vài tên cầm đầu” do bọn Việt Tân lưu vong nuôi dưỡng. Đám đông được cơ quan chức năng xác nhận chủ yếu là các thanh, thiếu niên hiếu kỳ, say rượu, nghiện ngập, thiếu nhận thức hoặc bị xúi giục kích động hay cho tiền để quậy phá. Có thể thấy các hành vi trên khi bị xác định là vi phạm pháp luật thì được quy vào các trường hợp như sau:

Thứ nhất, về hành vi tụ tập gây rối nơi công cộng. Hành vi này được quy định tại điểm đ khoản 2 điều 5, Nghị định 167/2013/NĐ-CP - quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình. Theo đó, hành vi này chỉ đơn thuần là tụ tập nhiều người gây rối trật tự công cộng mà không có mục đích chính trị và không gây thiệt hại đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì có thể bị phạt tiền từ 500.000 - 1 triệu đồng.

Trường hợp gây rối trật tự công cộng mà có mang theo các loại vũ khí thô sơ hoặc công cụ hỗ trợ có thể bị phạt tiền 3-5 triệu đồng. Nếu hành vi tụ tập gây rối nơi công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt hành chính thì người đó hoàn toàn có thể phạm vào tội gây rối trật tự công cộng theo điều 318 Bộ Luật Hình sự (BLHS) 2015, sửa đổi bổ sung 2017.

Thứ hai, về hành vi kích động người khác tham gia gây rối. Hành vi này có thể bị phạt 2-3 triệu đồng theo quy định tại điểm b, g khoản 3 điều 5, Nghị định 167/2013/NĐ-CP. Trong trường hợp người nào có mục đích chống chính quyền mà kích động, lôi kéo, tụ tập nhiều người phá rối an ninh, chống người thi hành công vụ, cản trở hoạt động của cơ quan, tổ chức thì có thể sẽ phạm vào một trong 2 tội là phá rối an ninh - Điều 118 BLHS 2015 hoặc bạo loạn - Điều 112 BLHS 2015.

Thứ ba, về hành vi đập phá tài sản công. Nếu người nào thực hiện hành vi đập phá tài sản công nhằm chống chính quyền nhân dân thì có thể bị truy tố trách nhiệm hình sự về tội phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của Nước CHXHCN Việt Nam theo quy định tại Điều 114, BLHS 2015.

Thứ tư, việc không tham gia sản xuất làm ảnh hưởng, thiệt hại cho doanh nghiệp là hành vi vi phạm nghĩa vụ của người lao động theo điểm b Khoản 2 Điều 5, Bộ Luật Lao động (BLLĐ) 2012. Đây là cơ sở để người sử dụng lao động áp dụng các biện pháp xử lý kỷ luật đối với người lao động. Tùy theo thiệt hại thực tế mà doanh nghiệp có các biện pháp xử lý khác nhau phù hợp với quy định của BLLĐ, như khiển trách, kéo dài thời hạn nâng lương không quá 6 tháng, cách chức, sa thải…

Thứ năm, về vấn đề bị kích động, cho tiền, xúi làm bậy. Các đối tượng thực hiện các hành vi phân tích trên đa số đều khai báo họ được người khác cho tiền, xúi giục gây rối. Tuy nhiên, đây không phải là một trong những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm nếu họ thuộc các trường hợp phải truy cứu trách nhiệm hình sự theo điều 51 BLHS. Thực tế trong các vụ đập phá trụ sở, đốt cháy nhiều ôtô, xe máy… tại Bình Thuận đã đủ cơ sở xác định hành vi này có dấu hiệu tội phạm hình sự. Giá trị tài sản bị đập phá, đốt cháy là rất lớn nên sự phá hoại này có dấu hiệu hình sự của tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản quy định tại Điều 178, BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) với khung hình phạt cao nhất đến 20 năm tù khi giá trị tài sản gây thiệt hại trị giá 500 triệu đồng trở lên. 

Với các hành vi gây thương tích cho người khác - như có hàng chục trường hợp lực lượng vũ trang bị gây thương tích - thì cũng có dấu hiệu vi phạm của tội chống người thi hành công vụ, quy định tại Điều 330 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) hoặc tội cố ý gây thương tích, quy định tại Điều 134, BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) với khung hình phạt cao nhất lên đến chung thân.

PHH

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC

 

Thành tựu của công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta trong thời gian qua đã góp phần củng cố vững chắc niềm tin của các tầng lớp nhân dân. Tuy nhiên, các thế lực thù địch lại vin vào đó để phát tán thông tin sai trái, thực hiện các chiến dịch truyền thông xuyên tạc về công cuộc phòng chống tham nhũng, tiêu cực của Việt Nam, cố tình lật ngược bản chất, đánh tráo khái niệm, phủ bóng đen tối lên đời sống chính trị - xã hội của đất nước ta.

Núp dưới những cái mũ như dự báo, nhận diện về môi trường chính trị ở Việt Nam, một số đối tượng và tổ chức cực đoan, phản động lưu vong ở nước ngoài tiếp tục sử dụng chiêu bài cũ tung ra những phỏng đoán mập mờ, lẫn lộn về các vụ án chống tham nhũng nhằm thu hút sự chú ý, rồi lặp lại những luận điệu cũ rích rằng: Việc xử lý các vụ án tham nhũng ở Việt Nam là chuyện thanh trừng, đấu đá nội bộ, phe cánh chính trị, rằng tham nhũng là căn bệnh kinh niên của chế độ độc đảng cầm quyền do xã hội thiếu dân chủ nên không thể chống tham nhũng thành công. Tuy nhiên, thực tế cho thấy ngược lại, đầu năm 2023, theo Báo cáo chỉ số cảm nhận tham nhũng năm 2022 do Tổ chức minh bạch quốc tế công bố: Việt Nam là một trong số sáu quốc gia khu vực Châu Á Thái Bình Dương có tiến bộ nổi trội. Năm 2022 Việt Nam tăng 3 điểm so với năm 2021 từ vị trí 39 lên vị trí 42. Sự ghi nhận của quốc tế về sự tiến triển này đã là sự thừa nhận về những thành công trong cuộc chiến chống tham nhũng của Việt Nam, phủ nhận hoàn toàn những luận điệu xuyên tạc, vô căn cứ.

Sau khi Trung ương Đảng, Chính phủ, Quốc hội thực hiện các thủ tục miễn nhiệm đối với một số đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước theo quy định của pháp luật và Điều lệ Đảng thì làn sóng xuyên tạc lại rộ lên. Chúng cho rằng, công tác nhân sự ở kỳ Đại hội Đảng hay bầu đại biểu Quốc hội, nhất là nhân sự cấp cao là cuộc tranh giành quyền lực, thanh trừng nội bộ, thủ tiêu đối phương theo lợi ích nhóm, công tác nhân sự trong Đảng đã được sắp xếp theo lợi ích nhóm. Trắng trợn hơn, chúng còn cho rằng cách thức xử lý các lãnh đạo cấp cao là sự lấn áp của Đảng, Đảng đứng trên pháp luật, Đảng làm thay Nhà nước. Mục đích cuối cùng của chúng là ra sức chống phá, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Việc xử lý những cán bộ, đảng viên sai phạm kể cả những người từng giữ cương vị rất cao là minh chứng cho quyết tâm chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng và Nhà nước ta đồng thời mang lại niềm tin rất lớn của nhân dân đối với Đảng trong cuộc chiến chống giặc nội xâm. Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói: “Nếu thấy tay nhúng chàm rồi thì tốt nhất là xin thôi. Thực tế ta đã xử lý rồi. Đó là nhân văn, nhân ái, nhân tình, mở đường cho mà tiến bộ, đâu phải cứ cốt xử nặng. Hiện nay việc này đã tạo sức răn đe, cảm hóa rất lớn, đi vào nề nếp ở các cấp, các ngành”. Có thể thấy rằng, Đảng ta rất chú trọng đấu tranh chống tham nhũng bằng các biện pháp tổng hợp, chứ không chỉ có một biện pháp pháp lý không thôi. Đó là từ chính trị, giáo dục chính trị - tư tưởng, cho đến công tác tổ chức, các biện pháp hành chính kinh tế và hình sự, chứ không chỉ đơn thuần là biện pháp hình sự. Điều đó cũng thể hiện tính nhân văn trong xét xử.

Không chỉ dừng lại ở việc hạ thấp uy tín của Đảng và Nhà nước, các thế lực thù địch, phản động ngang nhiên đưa ra những luận điệu xuyên tạc vô căn cứ như: cuộc chiến chống tham nhũng của Đảng đang làm ảnh hưởng xấu đến kinh tế; cuộc chiến chống tham nhũng rộng khắp của Đảng Cộng sản Việt Nam đang khiến cho nhiều giao dịch kinh tế bị tê liệt, có thể ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài. Gần đây, các luận điệu còn tinh vi hơn khi cố tình đưa đẩy thông tin độc hại gây xáo trộn dư luận như: việc chống tham nhũng về dài hạn được nhìn nhận là tích cực nhưng trong ngắn hạn có thể làm tê liệt hoạt động kinh doanh khi mà các quan chức thà bị khiển trách vì không làm gì còn hơn là có nguy cơ bị bỏ tù vì mắc bất kỳ sai lầm nào. Có thể thấy rằng, những năm qua, Việt Nam đang triển khai rất mạnh mẽ và ghi nhận được nhiều thành tựu trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng, đặc biệt là tham nhũng trong lĩnh vực kinh tế. Bằng chứng cho thấy, chúng ta đã ngăn chặn được rất nhiều vụ án gây thất thoát hàng nghìn tỉ đồng và cũng thu hồi được hàng nghìn tỉ đồng. Công cuộc này được toàn dân ủng hộ và đang trở thành quyết tâm chính trị lớn của Việt Nam và của cả hệ thống chính trị. Điều này trực tiếp tác động tích cực tới nền kinh tế ở chỗ nó buộc các cơ quan chức năng phải thực hiện một cách nghiêm túc hơn, chặt chẽ hơn và hiệu quả hơn từ đó giúp nâng cao hiệu quả đầu tư công cũng như giảm thiểu tình trạng thất thoát, tình trạng lãng phí tài sản công, đây là tác động tích cực quan trọng nhất. Bên cạnh đó, nó giúp làm cải thiện môi trường đầu tư, hạn chế các tình trạng nhũng nhiễu cũng như giảm thiểu các chi phí cho doanh nghiệp. Có thể thấy rằng công cuộc chống tham nhũng là tác động tích cực vượt trội hơn tất cả các tác động khác trong nền kinh tế. Do đó, những luận điệu phiếm diện cho rằng chống tham nhũng ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế là hoàn toàn không có cơ sở.

Cuộc chiến chống tham nhũng rất quyết liệt, đi vào chiều sâu, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, đã tạo ra sức răn đe, cảnh tỉnh rất lớn để các cán bộ tự giác nhận sai phạm, gánh vác trách nhiệm theo quy định của Đảng. Nhìn lại tất cả các vụ xử lý kỷ luật của Đảng và xử lý hình sự của nhà nước trong hơn 10 năm qua đều đã cho thấy rõ quyết tâm, nỗ lực của Đảng, Nhà nước trong công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực không chỉ là tuyên ngôn mà trở thành quyết tâm chính trị và hành động thực tế. Các luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động không thể ngăn bước, cản đường cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực của Việt Nam.

HH90

CẢNH GIÁC MƯU XUYÊN TẠC TỰ DO NGÔN LUẬN, TỰ DO BÁO CHÍ

 Với thái độ định kiến cố hữu, đầu tháng 5 vừa qua, Tổ chức Phóng viên không biên giới tiếp tục đưa ra các luận điệu của những năm trước, khi cho rằng: “Ở Việt Nam không có tự do báo chí, người dân không được thực hiện quyền tự do ngôn luận”(!). Đó là sự xuyên tạc trắng trợn về tình hình bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận ở Việt Nam. Ngày 03/5/2023, Tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF) công bố “Bảng xếp hạng tự do báo chí năm 2023”, trong đó xếp ba nước châu Á là Việt Nam, Trung Quốc và Triều Tiên đứng cuối bảng (với thứ tự lần lượt là 178, 179 và 180). Giải thích lý do tụt hạng của Việt Nam so với năm 2022 (hạng 174), Tổ chức này cho rằng: “Do chính quyền Hà Nội gần như hoàn tất việc truy bắt các nhà báo độc lập và các nhà bình luận trên mạng xã hội”; còn ông Daniel Bastard - Giám đốc Ban châu Á - Thái Bình Dương của RSF, thì xuyên tạc: “Đó là kết quả của cuộc đàn áp không ngừng đối với báo chí độc lập dưới nhiệm kỳ của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng”(!). “Nhà báo độc lập” mà RSF nhắc đến ở đây là Đường Văn Thái, một đối tượng phản động thường xuyên sử dụng mạng xã hội để đăng tải, phát tán thông tin xuyên tạc, bịa đặt sai sự thật với mục đích chống phá Đảng, Nhà nước, đã bị bắt giữ ngày 14/4/2023 khi y nhập cảnh trái phép vào lãnh thổ Việt Nam.

Trên một kênh truyền thông ở hải ngoại thiếu thiện chí, khi bình luận về Việt Nam gần đây, có một bài viết về bảng xếp hạng của RSF. Nhưng tổ chức RSF lại không đưa ra được khái niệm hay cách hiểu nào về tự do báo chí. Nếu họ cho rằng không thể bắt giữ các nhà báo và cho rằng không ai đáng bị bắt vì lý do tham gia ngôn luận, thì có lẽ họ đã bỏ qua hoàn toàn việc hoạt động báo chí phải nằm trong khuôn khổ pháp luật. Với cách lập luận như vậy, họ đang cổ xúy cho ngôn luận tự do, báo chí tự do mà không chịu bất cứ trách nhiệm xã hội nào.

Trong vụ việc bắt giữ một nữ nhà báo gần đây, có thể thấy rõ trong thời gian dài, nhà báo này đã công khai chỉ trích nhiều cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức trên trang cá nhân của mình, như Công ty Cổ phần Đại Nam, Quỹ Sống Foundation, Mạng lưới Tự kỷ Việt Nam... với lời lẽ nặng nề nhưng không có căn cứ xác đáng. Núp dưới chiêu bài “nêu nghi vấn”, “đặt dấu hỏi”, “phân tích giả định”, “đấu tranh chống tiêu cực”, nhà báo này đã tùy tiện đưa ra những thông tin có nhiều dấu hiệu quy chụp, phán xét không khách quan, sai sự thật, bất chấp luật pháp và đạo lý.

Ngôn luận tự do dựa theo những phán đoán, suy diễn chủ quan, ác ý đã dẫn một người từng là nhà báo kiêm luật sư phải chịu trách nhiệm trước pháp luật vì lợi dụng quyền tự do dân chủ để xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và tổ chức khác. Một số nhà báo, luật sư, người dùng mạng xã hội khác bị bắt cũng có chung vi phạm pháp luật như vậy.

Khi phê phán, chỉ trích Việt Nam không có tự do ngôn luận và tự do báo chí, các thế lực thù địch cũng không chỉ ra được điều luật nào, quy định nào ngăn cản tự do của nhà báo, mà có xu hướng áp đặt hình mẫu phương Tây cho Việt Nam. Đó là một cách tiếp cận không có cơ sở khoa học. Nội hàm của tự do ở mỗi quốc gia, mỗi thời điểm có thể giống nhau về phổ quát, còn lại sẽ mang đặc điểm của mỗi thể chế chính trị-xã hội. Thực chất, không có nơi nào có tự do tuyệt đối, đây chỉ là một khái niệm mang tính tương đối và có sự phát triển trong các nền tảng xã hội khác nhau.

Như vậy, ngôn luận tự do, báo chí tự do theo cách mà các thế lực thù địch tuyên truyền là đề cao tư tưởng của các cá nhân, không đi kèm trách nhiệm và các khuôn khổ luật pháp, đạo đức xã hội, không quan tâm hoặc xem nhẹ những hệ quả gây ra cho xã hội, cộng đồng. Điều đó khác rất xa với tự do ngôn luận, tự do báo chí chân chính có trách nhiệm với sự phát triển tiến bộ của xã hội và nhân loại.  

Ở Việt Nam, ngay từ trong cuộc đấu tranh giành độc lập, Mặt trận Việt Minh do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đứng đầu đã giương cao ngọn cờ đòi quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức, tín ngưỡng, đi lại, bác bỏ áp bức bất công của chính quyền thực dân. Khi giành được chính quyền, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 đã hiến định quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản và các quyền tự do khác của công dân. Trải qua các lần sửa đổi, bổ sung, Hiến pháp các năm 1959, 1980, 1992 và gần đây là Hiến pháp năm 2013 luôn nhất quán khẳng định quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân. Cùng với Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác, Luật Báo chí cũng đặt ra các nền móng cơ bản và thống nhất cho tự do ngôn luận, tự do báo chí. Điều 10 Luật Báo chí năm 2016 quy định: “Công dân có quyền: 1. Sáng tạo tác phẩm báo chí; 2. Cung cấp thông tin cho báo chí; 3. Phản hồi thông tin trên báo chí; 4. Tiếp cận thông tin báo chí; 5. Liên kết với cơ quan báo chí thực hiện sản phẩm báo chí; 6. In, phát hành báo in”. Như vậy, dù Việt Nam không có báo chí tư nhân nhưng luật pháp quy định mọi công dân đều có quyền tham gia vào hoạt động báo chí.

Các thế lực chống phá thường vin vào việc Việt Nam không có mô hình báo chí tư nhân mà cố tình lờ đi rằng, mọi công dân đều được quyền tham gia sáng tạo và xuất bản báo chí, mọi tầng lớp, tổ chức trong xã hội đều có cơ quan báo chí đại diện của mình.

Điều 11 Luật Báo chí năm 2016 nêu rõ: Công dân có quyền phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị-xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp và các tổ chức, cá nhân khác. Điều 13 ghi rõ: “Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng”.

Không chỉ về phương diện pháp lý mà trong thực tiễn, tự do báo chí ở Việt Nam cũng được biểu hiện sinh động. Nền báo chí Việt Nam phát triển mạnh mẽ cả về số lượng, loại hình, quy mô, công nghệ làm báo. Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, tính đến tháng 5-2023, cả nước có 808 cơ quan báo chí (trong đó: 138 báo, 670 tạp chí) và 42.400 người hoạt động trong lĩnh vực báo chí, gấp khoảng 6 lần so với thập niên 2000.

Ngoài ra, không thể không kể đến mạng xã hội đã tham gia mạnh mẽ vào môi trường truyền thông trong khoảng 10 năm trở lại đây. Ở Việt Nam, công dân không bị ngăn cấm tham gia mạng xã hội. Quyền phát ngôn, tham gia ý kiến, thảo luận về mọi vấn đề xã hội đã được mở rộng rất nhiều trên các phương tiện truyền thông mới này. Báo chí cùng với mạng xã hội đã trở thành một diễn đàn lớn, nơi mà mọi người dân đều có tiếng nói, mọi vấn đề quốc kế dân sinh được trao đổi, thảo luận, đó là những biểu hiện rất rõ ràng của tự do báo chí, tự do ngôn luận. Báo chí hiện đại trong những năm gần đây, cùng sự hỗ trợ của công nghệ truyền thông số, đã tăng cường tính tương tác với công chúng. Trên các báo điện tử đều mở phần bình luận cho người đọc. Các kênh phát thanh, truyền hình đều có những chương trình phát sóng trực tiếp, có số điện thoại đường dây nóng để người nghe, người xem gọi điện tương tác ngay khi chương trình đang diễn ra.

Với những thiết bị hiện đại, nhà đài có thể di chuyển đến phỏng vấn và phát sóng trực tiếp ngay tại nhà của các công dân. Mặt khác, các cơ quan báo chí đều thiết lập những chương trình thu thập chất liệu phản ánh từ các “nhà báo công dân”. Đó là minh chứng rất rõ ràng về việc báo chí có thể xuất bản ngay mà không qua kiểm duyệt. Như vậy, cả trên phương diện pháp lý và hoạt động thực tiễn, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam đều được thể hiện rõ ràng, luôn gắn với quy định pháp luật, luôn hướng tới mục đích phụng sự nhân dân, góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội. Tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam không phải là ngôn luận tự do, báo chí tự do theo ý chí cá nhân, mà là tự do xây dựng vì những mục tiêu tốt đẹp, vì trách nhiệm chân chính với cộng đồng, vì một thể chế chính trị-xã hội của dân, do dân, vì dân.

Các thế lực thù địch dù có tấn công, chỉ trích, chống phá như thế nào cũng không thể thay đổi bản chất tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam. Thực ra đó chỉ là những tiếng nói tiêu cực, lạc lõng của những người cố tình đi ngược chiều với sự phát triển bền vững của đất nước ta, nhân dân ta và của nền báo chí cách mạng đáng tự hào của chúng ta.  

NVE40