Chủ Nhật, 2 tháng 7, 2023

PHẬT GIÁO VIỆT NAM ĐỒNG HÀNH CÙNG DÂN TỘC


Mới đây trên một số trang mạng đã phê phán quan điểm phật giáo Việt Nam ngày càng có xu hướng mê tín như trên trang “Luatkhoa”, Văn Tâm có bài viết “Vì sao Phật giáo Việt Nam có xu hướng ngày càng mê tín”, trong đó, Văn Tâm cho rằng “Cuốn theo vòng xoáy ràng buộc lợi ích”, “tín ngưỡng dân gian trỗi dậy”, “Phật giáo thành công cụ chính trị”. Đây là quan điểm hoàn toàn sai trái, phi thực tế ở Việt Nam, nhằm phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo ở Việt Nam. Như chúng ta đã biết, Đạo Phật ra đời ở Ấn Độ từ thế kỷ thứ VI trước công nguyên, trong điều kiện xã hội phân chia theo chế độ đẳng cấp bất bình đẳng. Đạo Phật ra đời là sự kế thừa, tiếp nối các trào lưu tôn giáo, triết học nổi tiếng của Ấn Độ cổ đại và được coi là một trong những học thuyết xã hội chống lại sự bất công trong xã hội đương thời.

Tư tưởng chủ đạo của đạo Phật là dạy con người hướng thiện, có tri thức để xây dựng cuộc sống tốt đẹp yên vui trong hiện tại. Đạo Phật không công nhận có một đấng tối cao chi phối đời sống của con người, không ban phúc hay giáng hoạ cho ai mà trong cuộc sống mỗi người đều phải tuân theo luật Nhân - Quả, làm việc thiện thì được hưởng phúc và làm việc ác thì phải chịu báo ứng. Đạo Phật còn thể hiện là một tôn giáo tiến bộ khi không có thái độ phân biệt đẳng cấp. Đức Phật đã từng nói: “Không có đẳng cấp trong dòng máu cùng đỏ như nhau, không có đẳng cấp trong giọt nước mát cùng mặn”. Ngoài ra, đạo Phật cũng thể hiện tinh thần đoàn kết và không phân biệt giữa người tu hành và tín đồ, quan điểm của đạo Phật là “Tứ chúng đồng tu”, đó là Tăng, Ni, Phật tử nam và Phật tử nữ đều cùng được tu và nếu ai có quyết tâm đều có thể thành tựu như Đức Phật.

Khác với một số tôn giáo lớn trên thế giới, đạo Phật chủ trương không có hệ thống tổ chức thế giới và hệ thống giáo quyền. Điều này xuất phát từ lý do Đức Phật hiểu rõ sự ham muốn quyền lực của con người, do đó Đức Phật chủ trương không giao giáo quyền quản lý cho ai mà chỉ hướng dẫn đệ tử nương vào giáo lý, giáo luật để duy trì và tồn tại theo hệ thống sơn môn (như dòng họ thế tục ngoài đời).

Thực tế cho thấy, khi nhận thức còn thấp kém, thiếu tri thức khoa học, nhiều người sẽ “mặc định” về sự tồn tại của thế giới thần linh, ma quỷ, “cõi âm” theo tư duy của họ. Đó thực chất là sự phản ánh sự thực cõi trần cộng thêm trí tưởng tượng và suy diễn. Vì vậy, mới có chuyện bi hài như “mặc cả”, “hối lộ” thánh thần, nhét tiền vào tay tượng Phật, đốt vàng mã nghi ngút, với tư duy “trần sao âm vậy”, càng nhiều lễ vật, thần linh càng phù hộ nhiều. Nhiều người Việt thiếu tư duy phản biện, rất “nhẹ dạ cả tin”, dễ dàng tin vào những chuyện đồn thổi nhảm nhí mà không cần kiểm chứng, suy nghĩ.

Khi người ta thiếu niềm tin, cảm thấy bất an trong một xã hội nhiều biến cố, thay đổi bất thường, người ta tìm đến thế giới siêu nhiên, cầu mong sự phù hộ, che chở. Khi người ta không còn tự tin, sẽ tìm đến thần linh, mong có được phép màu đem lại những điều mà bằng khả năng thực tế, khó hoặc không thể đạt được như giàu có, khỏe mạnh, thành đạt, hạnh phúc.

Do đó chúng ta cần phân biệt rõ ràng giữa tín ngưỡng và mê tín dị đoan dó là: Tín ngưỡng là niềm tin, đức tin vào những điều thiêng liêng đem lại sức mạnh tinh thần cho con người. Còn mê tín là tin mù quáng, mê muội, nhảm nhí gắn liền với sự sùng bái, lệ thuộc thái quá, tác động tiêu cực đến xã hội.

Vì vậy, cần tăng cường công tác quản lý nhà nước trong việc tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về phòng ngừa mê tín dị đoan, loại bỏ hủ tục lạc hậu, văn hóa phẩm đồi trụy trái với thuần phong mỹ tục; đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống và thực hiện nếp sống văn minh trong đời sống xã hội.

Như vậy, dù trên bình diện lý luận hay thực tế đều cho thấy Phật giáo là một tôn giáo, một thành tố văn hóa có ảnh hưởng đậm nét đến các thành tố khác của văn hóa Việt Nam. Nó giúp con người sống hướng thiện, sống tốt hơn. Vì vậy, mọi người cần tỉnh táo, đề cao cảnh giác, đấu tranh phản bác mọi quan điểm sai trái, thù địch, phản động, đó cũng là phương cách đế bảo vệ chính mình, bảo vệ xã hội và chính là xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo hiện nay./.

TT11

ĐÁNH TRÁO KHÁI NIỆM “NHÂN QUYỀN CAO HƠN CHỦ QUYỀN”


Lâu nay, các nước phương Tây thường rêu rao cái gọi là “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, “quyền lực nhà nước ở một quốc gia không được đàn áp nhân quyền”. Về thực chất, quan điểm này đã đối lập quyền con người với chủ quyền. Họ lập luận một cách phi lý rằng, vấn đề quyền con người không thuộc công việc nội bộ của một nước. Thậm chí, một số nước phương Tây còn quy chụp rằng “việc Việt Nam nhấn mạnh chủ quyền quốc gia cao hơn tất cả, trên thực tế là lấy danh nghĩa duy trì chủ quyền quốc gia để duy trì quyền lực thống trị của Đảng Cộng sản Việt Nam”. Họ còn rêu rao rằng, tuyệt đối hóa tầm quan trọng của chủ quyền quốc gia là sai lầm và ngụy biện bằng viện dẫn báo cáo về an ninh con người của một số tổ chức quốc tế, như Báo cáo phát triển con người của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), cũng nhấn mạnh bảo đảm an ninh cá nhân, mà coi nhẹ, không đề cập đến an ninh quốc gia.

Có thể nói, quan điểm “nhân quyền cao hơn chủ quyền” là hoàn toàn sai trái. Như chúng ta đã biết, quyền con người không bao giờ tách khỏi điều kiện, trình độ phát triển và chủ quyền của từng quốc gia - dân tộc. Quan điểm “nhân quyền cao hơn chủ quyền” thực chất chỉ là “bình phong” che đậy cho các âm mưu mà các nước phương Tây lợi dụng để can thiệp vào công việc nội bộ, chủ quyền của nước khác.

Như chúng ta đã biết tôn trọng chủ quyền của các quốc gia là một tiêu chuẩn đã được cộng đồng quốc tế công nhận, cũng là cơ sở và tiền đề để thực hiện quyền con người. Nghị quyết 2625 (XXV) của Đại hội đồng Liên hợp quốc, ngày 24-10-1970, đã đưa ra Tuyên bố về những nguyên tắc của Luật Quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc, trong đó khẳng định các nguyên tắc, như nguyên tắc chủ quyền quốc gia, nguyên tắc bình đẳng chủ quyền của các quốc gia, nguyên tắc không can thiệp vào các vấn đề thuộc thẩm quyền của các quốc gia khác.... Vì vậy, nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia được áp dụng trong tất cả các lĩnh vực quan hệ quốc tế, bao gồm lĩnh vực quyền con người. Không có chủ quyền quốc gia, cũng như không có luật pháp quốc tế, thì không thể nói đến bảo đảm quyền con người. Quan điểm cho rằng “nhân quyền cao hơn chủ quyền” trực tiếp vi phạm tôn chỉ và nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc. Việc thực hiện quyền con người cần phải dựa vào chủ quyền, do các nước thông qua pháp luật, biện pháp và cơ chế của nhà nước ở từng quốc gia - dân tộc để thực hiện. Các điều ước quốc tế về quyền con người đã quy định quyền con người về dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội. Để thực hiện tốt các quyền này, cần phải thông qua pháp luật quốc gia cũng như cơ chế bảo đảm của pháp luật quốc gia.

Quyền con người không thể tách rời chủ quyền quốc gia. Quyền con người của cá nhân và chủ quyền quốc gia có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, không có chủ quyền thì không thể nói đến quyền con người, mất đi chủ quyền cũng có nghĩa là mất đi sự bảo đảm đối với quyền con người.

Quyền con người mang tính quốc tế, nhưng về bản chất là vấn đề thuộc công việc nội bộ của một quốc gia. Vì vậy, các nước có quyền căn cứ vào tình hình cụ thể của nước mình để bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, so với chủ quyền quốc gia, quyền con người nằm ở vị trí phụ thuộc. Như chúng ta đã thấy, trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, chủ quyền quốc gia nằm ở vị trí ưu tiên. Bởi vì, quyền con người của cá nhân chịu sự quy định, chi phối và chế ước của pháp luật quốc gia. Đối với các điều ước quốc tế không phù hợp với chế độ chính trị, cũng như không phù hợp với trình độ phát triển về kinh tế - xã hội, chính phủ các nước có quyền từ chối tham gia hoặc bảo lưu nhằm tránh việc đảm nhận nghĩa vụ điều ước có thể gây tổn hại đến chủ quyền quốc gia. Hiện nay, có khoảng hơn 28 điều ước quốc tế về quyền con người, nhưng Mỹ mới chỉ phê chuẩn 4 điều ước. Đặc biệt, nước này vẫn chưa phê chuẩn một số điều ước cốt lõi về quyền con người, trong đó có Công ước lao động cưỡng bức năm 1930. Lý do được Mỹ đưa ra là Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị xung đột với pháp luật của nước này, và bởi “chủ quyền quốc gia của nước Mỹ cao hơn tất cả”. Điều này cho thấy, so với chủ quyền quốc gia, quyền con người chỉ ở vị trí phụ thuộc.

Việc các nước phương Tây rêu rao rằng “nhân quyền cao hơn chủ quyền” thực chất xuất phát từ nhu cầu can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác cũng như thúc đẩy chính trị cường quyền mà thôi. Trên thực tế, nhân danh “dân chủ nhân quyền”, trong những thập niên qua, Mỹ và một số quốc gia đã sử dụng vũ lực can thiệp vào công việc nội bộ, thay đổi chế độ chính trị ở một số nước. Tuy nhiên, thực tế ở các nước sau khi Mỹ “can dự” cho thấy, cái mang lại cho những quốc gia này không hề là “dân chủ nhân quyền”, mà là sự xung đột và hỗn loạn. Chính vì thế, quan điểm “nhân quyền cao hơn chủ quyền” không hề có giá trị đối với việc thúc đẩy quyền con người, mà trái lại, khiến khả năng xâm hại quyền con người một cách nghiêm trọng hơn./.

LV11

 

CẢNH GIÁC LUẬN ĐIỆU CHỐNG PHÁ PHÁP LUẬT


Thời gian qua nổi lên việc một số đối tượng cơ hội chính trị, phản động lưu vong, chống phá Nhà nước từ bên ngoài tìm cách cấu kết với các hội nhóm, cá nhân trong nước kêu gọi xóa bỏ một số điều luật vì mục đích chính trị, hòng gây bất ổn xã hội, chống phá chế độ, trong đó có Ðiều 331 Bộ luật Hình sự “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” hiện đang là mục tiêu hướng đến của các đối tượng chống phá. Lợi dụng những sự việc gây chú ý dư luận về phát ngôn, ứng xử, hoạt động xã hội của một số cá nhân, nghệ sĩ, người có tầm ảnh hưởng trên mạng xã hội, những sự việc liên quan đến một số cá nhân bị khởi tố và xử lý theo Ðiều 331 Bộ luật Hình sự..., một số trang mạng phản động lập tức lớn tiếng rêu rao, xuyên tạc, đòi xóa bỏ Ðiều 331 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017).

Cần khẳng định rằng pháp luật Việt Nam được xây dựng phù hợp với các quy định của pháp luật quốc tế và yêu cầu thực tiễn nhằm bảo đảm cho sự phát triển tự do, toàn diện của nhân dân, góp phần xây dựng và duy trì xã hội trong vòng trật tự, ổn định, ngăn chặn các tổ chức và cá nhân lợi dụng quyền tự do, dân chủ để xâm phạm quyền con người. Nhà nước luôn đặt quyền tự do dân chủ của công dân lên hàng đầu, sự tôn trọng và đảm bảo được quy định rõ trong Hiến pháp và các quy định của pháp luật. Ðiều 15, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân; mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác; công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội. Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”.

Trong Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Ðiều 331 quy định về “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” là sự cụ thể hóa Hiến pháp, tôn trọng và bảo vệ nguyện vọng, lợi ích chính đáng của nhân dân; giúp điều chỉnh, ngăn chặn, có chế tài đối với các hành vi vi phạm, lệch chuẩn trong các quan hệ xã hội, ngăn ngừa những hành vi lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Pháp luật luôn tôn trọng và bảo vệ những tư tưởng, ý chí, nguyện vọng của mỗi tổ chức và cá nhân khi đưa lên công khai trên phương tiện truyền thông, trên mạng xã hội nếu phù hợp với tinh thần xây dựng và thượng tôn pháp luật, phù hợp với chuẩn mực đạo đức và truyền thống văn hóa của dân tộc. Ðồng thời, nếu những tổ chức và cá nhân sử dụng mạng xã hội với mục đích xấu, động cơ không trong sáng, núp dưới danh nghĩa bảo vệ quyền tự do dân chủ mà thực chất là có những hành vi chà đạp lên quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân khác, xâm phạm đến Nhà nước thì đều phải chịu các chế tài xử phạt tương ứng.

Trước các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội bản thân mỗi công dân cần nhận thức đầy đủ về Hiến pháp, pháp luật, tích cực tuyên truyền kiến thức pháp luật và nâng cao ý thức trách nhiệm tuân thủ pháp luật trong cộng đồng góp phần tăng cường ý thức, trách nhiệm của công dân đối với xã hội, đất nước, đồng thời đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc bảo vệ sự tôn nghiêm của Hiến pháp, pháp luật.

HH11

 

LUẬN ĐIỆU PHỦ NHẬN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM


Thời gian gần đây, các thế lực thù địch tập trung chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam trên các lĩnh vực kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Các luận điệu xuyên tạc cho rằng: “mô hình kinh tế nầy là giả tạo, nhất là việc Đảng có thể dùng chủ nghĩa xã hội để định hướng kinh tế thị trường... như thế là trái với quy luật khách quan, rất cần phải được loại bỏ khỏi hiến pháp”. Thực chất đây là một luận điểm chống phá với mưu đồ hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, phủ nhận bản chất tốt đẹp, tính tất yếu khách quan trong xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Bởi vì:

Như chúng ta biết, kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức kinh tế phản ảnh trình độ phát triển của văn minh nhân loại. Kinh tế thị trường đã hình thành từ xã hội nô lệ, trong xã hội phong kiến có sự phát triển nhất định, đến xã hội tư bản chủ nghĩa kinh tế thị trường phát triển mạnh mẽ, đem lại sự giàu có cho các nền kinh tế thị trường hiện đại. Chủ nghĩa Mác - Lênin cũng chỉ ra, loài người nhất thiết phải trải qua 5 hình thái kinh tế xã hội từ thấp đến cao: Cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. Kinh tế thị trường là một giai đoạn phát triển tất yếu lịch sử, song hiện nay kinh tế thị trường đang có những bước phát triển thích nghi với sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hội. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, cùng với sự tác động mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, để xây dựng được cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội, đòi hỏi các nền kinh tế phải trải qua kinh tế thị trường. Tuy nhiên, tùy thuộc vào đặc điểm, điều kiện của mỗi nước để vận dụng và phát triển kinh tế thị trường, trên cơ sở quy luật vận động chung của kinh tế thị trường, theo định hướng riêng của mỗi nước.

Ở Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, hậu quả nặng nề do chiến tranh để lại, các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách chống phá. Theo đó, mô hình kinh tế kế hoạch tập trung mang tính bao cấp chỉ đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ đất nước có chiến tranh. Do đó, để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho đi lên chủ nghĩa xã hội, cần phải trải qua thời kỳ quá độ với nhiều bước đi, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen. Đại hội VI của Đảng (tháng 12/1986), trên cơ sở đổi mới tư duy, nắm bắt đúng quy luật vận động khách quan của kinh tế thị trường, xu thế phát triển tất yếu của thời đại, vận dụng đúng đắn, sáng tạo vào điều kiện cụ thể Việt Nam; Đảng ta đề ra chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần với những hình thức kinh doanh phù hợp. Đại hội VII, VIII của Đảng đều xác định xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước; và từ Đại hội IX của Đảng đến nay, cũng như Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta đều xác định: Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Hiến pháp năm 2013 hiến định: Nền kinh tế Việt Nam là nền “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”.

Có thể khẳng định lý luận về xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ngày càng được hoàn thiện; đó là nền kinh tế thị trường hiện đại; một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, có sự quản lý của Nhà nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; với tính ưu việt được thể hiện cả trong sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối; gắn phát triển kinh tế với xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; đó là mục tiêu tốt đẹp mà xã hội loài người đang hướng tới và phấn đấu đạt được.

Chúng tã đã thấy thực tiễn quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hơn 36 năm qua đã chứng minh, từ Đại hội VI của Đảng (năm 1986) đến nay, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam phát triển mạnh mẽ, đạt được nhiều thành tựu to lớn và toàn diện về mọi mặt; kinh tế vĩ mô ổn định, vững chắc, các cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản bảo đảm, tốc độ tăng trưởng duy trì ở mức khá cao. Tổng kết 35 năm đổi mới (1986 - 2020), Việt Nam từ một nước có nền kinh tế kém phát triển, có thu nhập thấp, đã trở thành nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế được đẩy mạnh; kinh tế Việt Nam phát triển liên tục từ 1986 đến 2020 với tốc độ trung bình khoảng 7% mỗi năm; thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 17 lần. Năm 2021, do ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19, trong khi nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới tăng trưởng thấp, song Việt Nam vẫn đạt tăng trưởng 2,56%. Năm 2022, Việt Nam lấy lại đà tăng trưởng 8,02%. Đời sống nhân dân được nâng lên, các chính sách an sinh xã hội bảo đảm tốt; chính trị - xã hội đất nước ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; độc lập, chủ quyền quốc gia được giữ vững.v.v.

Tóm lại hhững thành tựu đó đã chứng minh đường lối xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với quy luật vận động khách quan của kinh tế thị trường, xu thế phát triển tất yếu của thời đại và điều kiện cụ thể của Việt Nam. Cho nên, những luận điệu xuyên tạc mà các thế lực thù địch đưa ra là hoàn toàn xuyên tạc, phủ nhận đường lối lãnh đạo của Đảng, chống phá cách mạng Việt Nam. Vì vậy mỗi chúng ta cần tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà chúng ta đang đi, kiên quyết đấu tranh với những luận điệu sai trái, phủ nhận phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

LĐ11

 

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VẤN ĐỀ BIỂN ĐẢO


Biển, đảo là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng, phần máu thịt không thể tách rời và có vị trí đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước. Các thế lực thù địch, phản động luôn tìm mọi cách xuyên tạc, kích động, chống phá chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Yêu cầu đặt ra là phản bác và đấu tranh với những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, kích động của các thế lực thù địch nhằm góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ quốc gia.

Việt Nam có bờ biển dài trên 3.260km trải dài từ Bắc xuống Nam. Vùng biển, đảo nước ta có hơn 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ được phân bố theo chiều dài bờ biển và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa án ngữ biển Đông… Với tiềm năng kinh tế biển hết sức to lớn, biển đã gắn bó mật thiết và ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội, tạo vị thế chiến lược quốc phòng - an ninh vững chắc của đất nước. Trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước đầy cam go, quyết liệt của dân tộc đã chứng minh vị trí chiến lược, đặc biệt quan trọng của công cuộc phòng thủ quốc gia từ hướng biển. Đảng ta xác định, biển, đảo của Việt Nam có vị trí, vai trò và tầm quan trọng đặc biệt đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Trong các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, “Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020” và Nghị quyết Trung ương 4, khóa X nêu rõ: “… phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển”. Những năm qua, quán triệt quan điểm của Đảng, cả nước đã hướng về biển đảo, chúng ta quán triệt phương châm: kiên quyết, kiên trì giải quyết tranh chấp chủ quyền biển, đảo thông qua thương lượng hòa bình, trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Luật Biển năm 1982 và đã đạt được những kết quả rất quan trọng, giữ vững được chủ quyền biển, đảo Việt Nam.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động ở nước ngoài đã lợi dụng các trang mạng xã hội: facebook, Youtube, Twitter, Zalo… xuyên tạc vấn đề chủ quyền lãnh thổ, trong đó có chủ quyền về biển, đảo; lợi dụng những “điểm nóng” trên biển Đông phát tán tài liệu, hình ảnh, video hòng bóp méo sự thật, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam, kích động dư luận. Mục đích của chúng nhằm khuấy động lòng dân, hòng gây mất ổn định tình hình an ninh, trật tự trong nước, chia rẽ mối quan hệ giữa Nhân dân với Đảng, Nhà nước và Quân đội và làm tổn hại đến quan hệ của Việt Nam với các nước liên quan. Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị cố tình thông tin sai sự thật hòng bẻ lái dư luận, vu khống trắng trợn rằng: Đảng và Nhà nước không quan tâm đến việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia, đặc biệt là chủ quyền biển, đảo; còn tung luận điệu xảo trá, vu cáo “chính quyền Việt Nam làm ngơ về biển Đông”... Chúng đòi “hợp tác với một nước khác để giải quyết tình hình”, đòi hỏi phải “chọn phe” để bảo vệ chủ quyền biển, đảo, từ đó đánh vào tâm lý hoài nghi của người dân, cho rằng lãnh đạo Đảng, Nhà nước “vì phe này, phe kia” để chủ quyền biển, đảo bị xâm lấn… Đây là những luận điệu xuyên tạc trắng trợn phủ nhận những thành quả đạt được và quan điểm đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong bảo vệ chủ quyền lãnh thổ thời gian qua, đồng thời cũng là luận điệu nằm trong âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động luôn chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Do đó, cần nhận diện, bóc trần, phản bác và kiên trì đấu tranh với những chiêu trò suy diễn, xuyên tạc, phê phán đường lối đối ngoại, đường lối bảo vệ độc lập, chủ quyền của Tổ quốc.Để xây dựng nước Việt Nam thực sự trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển; đồng thời, tiếp tục nâng cao vị trí, tầm quan trọng của công tác bảo đảm an ninh biển, đảo trong tình hình mới mỗi cán bộ Đảng viên quân nhân trong quân đội  cần thực hiện tốt một số nội dung sau: 

Tiếp tục quán triệt sâu sắc, nâng cao nhận thức chính trị, hành động cách mạng trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân về Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, đặc biệt là bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Kịp thời nắm bắt, xử lý và định hướng thông tin, phát hiện và ngăn chặn những thông tin xấu của các thế lực thù địch chống phá ta. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân về chủ quyền biển, đảo nhằm góp phần nâng cao nhận thức đúng, tuân thủ pháp luật. Thường xuyên nắm bắt tình hình dư luận xã hội, thông tin liên quan đến các vấn đề chủ quyền biển, đảo Việt Nam, đặc biệt là tình hình biển Đông để kịp thời phản bác, bóc trần, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên không gian mạng, với những hành vi lợi dụng internet và các trang mạng xã hội nhằm xuyên tạc, kích động dư luận chống phá Đảng và Nhà nước ta về bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

VK11

 

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC THÀNH TỰU TRONG CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM


Từ nhiều năm nay, lợi dụng những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, nhất là quan hệ của Việt Nam với một số nước lớn và vấn đề chủ quyền biển, đảo của nước ta ở Biển Đông, trên các phương tiện thông tin, nhất là mạng xã hội, các thế lực thù địch và các phần tử chống đối, cơ hội đã tung nhiều thông tin sai lệch, ra sức công kích, xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa của Đảng và Nhà nước ta.

Xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ của Đảng và Nhà nước Việt Nam là đã “lạc hậu, lỗi thời”, “không còn phù hợp”, nhất là trong tình hình hiện nay. Không ít cá nhân, nhóm cá nhân tự xưng là “người yêu nước”, “tâm huyết” với “vận mệnh quốc gia dân tộc” đã viết bài phát tán trên mạng xã hội với những giọng điệu xuyên tạc. Họ lập luận rằng, thế giới hiện nay đang là thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, các quốc gia, dân tộc có mối quan hệ ràng buộc và phụ thuộc lẫn nhau. Vì thế theo họ, nếu vẫn theo đuổi chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ là “bảo thủ”, “tự mình cô lập mình”, là “tự tách ra khỏi dòng chảy” của thế giới bên ngoài, chính sách đối ngoại đó đã thực sự “lạc hậu, lỗi thời”, “không còn phù hợp”, và đã trở thành “lực cản” đối với sự phát triển đất nước. Họ cho rằng, Đảng, Nhà nước Việt Nam thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không” (không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế) là “tự trói tay mình”, là chính sách “không phù hợp với thực tế, cần phải thay đổi”, nếu không thì không thể bảo vệ được độc lập, chủ quyền của đất nước.

Bóp méo sự thật, xuyên tạc rằng, Đảng và Nhà nước Việt Nam trên thực tế đã từ bỏ chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ và đang ngấm ngầm “theo chân” nước này để chống nước kia. Họ xuyên tạc chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, cân bằng quan hệ với các nước lớn của Việt Nam, cho rằng đó là “đường lối trung dung”, là “đi dây” trong quan hệ với các nước lớn, như thế là “tự cô lập” mình, “tước đi cơ hội hợp tác với các nước lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Lợi dụng một số hoạt động đối ngoại của Việt Nam trong thời gian qua, nhất là khi Việt Nam đẩy mạnh quan hệ với Mỹ và Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ - Triều Tiên được tổ chức tại Hà Nội (tháng 02-2019), một số thế lực cố tình xuyên tạc Việt Nam “đang ngấm ngầm “theo chân” nước này chống nước kia”, Việt Nam đã “nghiêng về bên này để chống bên kia”, đã “từ bỏ” chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ của mình.

Xuyên tạc mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước, nhất là mối quan hệ của Việt Nam với Mỹ và với Trung Quốc. Các thế lực thù địch và một số phần tử cơ hội trắng trợn xuyên tạc rằng, Việt Nam đang phụ thuộc hoàn toàn vào Trung Quốc, Việt Nam đang điều chỉnh quan hệ đối ngoại nhằm “tìm kiếm đối tác chiến lược”, “thiết lập liên minh mới” để đối phó với nước đang gây áp lực bất lợi cho mình. Họ “kiến nghị” Đảng và Nhà nước Việt Nam phải từ bỏ chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ; rằng muốn bảo vệ được độc lập, chủ quyền thì phải dựa vào một cường quốc, “chỉ có liên minh quân sự với một cường quốc thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền biển, đảo”.

Hòa bình, hợp tác và phát triển là xu thế lớn của thời đại, dù đang gặp những trở ngại, thách thức. Mỗi nước trên thế giới đều có quan hệ với các nước khác, nhất là chú trọng quan hệ với các nước lớn với những nội dung, hình thức và mức độ khác nhau. Đó vừa là xu thế, vừa là phương thức cơ bản bảo đảm an ninh và phát triển của mỗi nước. Phù hợp với xu thế đó, gần 35 năm qua, từ khi tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Việt Nam luôn thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực. Do vậy, cần khẳng định rằng, chỉ có nhất quán và thực hiện tốt đường lối, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại, không phụ thuộc vào bất cứ nước lớn hay nhóm nước nào thì chúng ta mới có thể tận dụng tốt nhất các cơ hội, điều kiện thuận lợi phục vụ cho sự phát triển đất nước. Điều đó tuyệt đối không thể gọi là “lạc hậu, lỗi thời”, là “trung dung”, “đi dây” trong quan hệ với các nước lớn.

Trên thực tế, chúng ta đã và đang thúc đẩy quan hệ với các nước lớn cũng như với các nhóm nước, tổ chức trên thế giới. Chúng ta chủ động tham gia các cơ chế, các diễn đàn khu vực và toàn cầu để vừa thích ứng với các trào lưu, xu thế chung của thế giới, vừa phục vụ một cách tốt nhất các lợi ích quốc gia - dân tộc.

Hiện nay, chúng ta vừa tăng cường quan hệ với Trung Quốc, vừa làm sâu sắc hơn quan hệ với Mỹ trên cơ sở mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và các nước này ngày càng trở nên tốt đẹp, thực chất và hiệu quả hơn. Đó là quan điểm, lập trường và chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam, tuyệt nhiên không phải là chúng ta đang “nghiêng về bên này để chống bên kia” như sự xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Ngay từ rất sớm, tư tưởng độc lập, tự chủ đã trở thành “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt và là nguyên tắc cơ bản định hình các hoạt động đối ngoại từ khi thành lập Nhà nước Việt Nam đến nay. Độc lập, tự chủ vừa là đường lối, vừa là nguyên tắc bất biến để chúng ta bảo vệ tốt nhất lợi ích quốc gia - dân tộc của mình trước mọi tác động của tình hình, trước những biến động của thời cuộc, khẳng định tính đúng đắn của đối ngoại Việt Nam.

Độc lập có nghĩa là chúng ta tự “điều khiển lấy mọi công việc” của mình, “không có sự can thiệp ở ngoài vào”5. Không để bên ngoài can thiệp vào công việc nội bộ của đất nước ta là nguyên tắc cốt lõi của đường lối, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ. Độc lập, tự chủ phải dựa trên cơ sở nội lực, thực lực của đất nước, đồng thời cũng dựa vào hợp tác và hội nhập quốc tế. Trong tình hình mới, Đảng và Nhà nước Việt Nam “trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, phát huy tối đa nội lực, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, chủ động ngăn ngừa và giảm thiểu tác động tiêu cực của quá trình hội nhập quốc tế”6, kiên trì chính sách độc lập, tự chủ gắn bó chặt chẽ với thực hiện phương châm tích cực và chủ động trong công tác đối ngoại, với “chủ động, tích cực tham gia các công việc chung của cộng đồng quốc tế, các diễn đàn, tổ chức, khu vực và quốc tế, nâng cao vị thế của đất nước”7. Đó là quan điểm, phương cách giải quyết, xử lý đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước ta.

                                                                                               TT11

CẢNH GIÁC VỚI CHIÊU TRÒ “CÔNG ĐOÀN ĐỘC LẬP”


Cảnh giác với chiêu trò đòi thành lập “Công đoàn độc lập” của các thế lực thù địch. Vừa qua có nhiều bài viết “Vì sao Việt Nam vẫn cho rằng công đoàn độc lập” là chống phá trên trang mạng xã hội “Vietnamthoibao”. Trong đó họ cho rằng “cần phải thành lập tổ chức công đoàn độc lập ở Việt Nam”. Đây là quan điểm hoàn toàn sai trái nhằm mưu đồ chính trị thấp hèn, từng bước đi đến hình thành một tổ chức đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam.

Cần khẳng định ngay đây là sự đánh tráo khái niệm, bịa đặt trắng trợn, bởi thực tế Quốc hội đã thông qua Bộ Luật Lao động năm 2019 (có hiệu lực ngày 01/01/2021). Bộ Luật Lao động có 01 chương riêng về “Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở (TCĐDNLĐ)” (chương 13).

Xin nhấn mạnh TCĐDNLĐ tại cơ sở là tổ chức được thành lập trên cơ sở tự nguyện của người lao động tại một đơn vị sử dụng lao động nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động trong quan hệ lao động thống qua đối thoại, thương lượng tập thể hoặc các hình thức khác theo quy định của pháp luật. TCĐDNLĐ tại cơ sở bao gồm: 1. Công đoàn cơ sở; 2. Tổ chức của người lao động. TCĐDNLĐ tại doanh nghiệp chỉ có cấp cơ sở - cấp doanh nghiệp, không có hệ thống các cấp như tổ chức công đoàn. Chính vì vậy TCĐDNLĐ không bao giờ được gọi là "”công đoàn độc lập”, như các thế lực thù địch đánh tráo khái niệm.

Câu hỏi đặt ra là tại sao các thế lực thù địch thông qua những kẻ khoác áo dân chủ nhân quyền thích “món” “công đoàn độc lập” đến vậy? Không khó để trả lời câu hỏi này, việc tìm cách cho ra đời “Công đoàn độc lập” cùng với những Văn đoàn độc lập, Nhà báo độc lập, Anh em dân chủ... chính là âm mưu tạo dựng lực lượng chính trị đối lập, tiến tới thực hiện mưu đồ thay đổi chế độ chính trị tại Việt Nam.

Thực tiễn ở nhiều quốc gia đã cho chúng ta thấy những bài học đắt giá về việc buông lỏng quản lý đối với phong trào công nhân, đặc biệt khi nó được dẫn dắt bởi các tổ chức công đoàn độc lập với nhà nước. Phong trào công nhân tại Ba Lan được dẫn dắt bởi Công đoàn đoàn kết Ba Lan - tổ chức liên hiệp của các công đoàn độc lập trong xã hội Ba Lan những năm cuối thập niên 80, thế kỷ XX đã dẫn đến mất vai trò lãnh đạo của Đảng Công nhân thống nhất Ba Lan và sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Ba Lan vào năm 1989. Tại Pháp, phong trào “áo vàng” bắt nguồn từ phong trào đình công, biểu tình của công nhân phản đối chính sách về thuế, nhất là chính sách về thuế nhiên liệu của Chính phủ Pháp kéo dài từ tháng 11 /2018 đến tháng 9/2020 đã dẫn đến những hậu quả rất nặng nề khi các cuộc biểu tình, bạo loạn bùng phát trên diện rộng, sau đó lan sang các quốc gia lân cận như Bỉ, Hà Lan. Tại Campuchia, tổ chức Công đoàn tự do đã lôi kéo, kích động hàng chục nghìn công nhân đình công, biểu tình phản đối chính sách của chính phủ, kêu gọi thủ tướng Hun Sen từ chức cũng gây nên những tổn thất nặng nề cho kinh tế - chính trị đất nước.

Ở nước ta, bên cạnh việc kêu gào, cổ súy cho việc ra đời “nghiệp đoàn độc lập” thì tổ chức khủng bố Việt Tân đã công khai mưu đồ thành lập tổ chức này và vận động tổ chức Công đoàn quốc tế công nhận là thành viên chính thức để công khai tổ chức công đoàn độc lập tại Việt Nam; đồng thời kêu gọi, kích động các đối tượng trong nước móc nối, phát triển lực lượng trong công nhân để hình thành các hội, nhóm nghiệp đoàn độc lập trong công nhân nhằm tiến hành hoạt động đình công, biểu tình, gây rối an ninh, trật tự.

Phải thẳng thắn nói rõ. cái gọi là “công đoàn độc lập” không đại diện cho quyền, lợi ích của người lao động Việt Nam. Hiện nay, dưới sự hỗ trợ, giúp sức, khua chiêng, gõ trống của một số tổ chức nước ngoài, các con buôn chính trị đang núp bóng bảo vệ người lao động để mua chuộc, dụ dỗ, lôi kéo công nhân và người lao động tham gia các tổ chức bất hợp pháp. Chắc chắn chúng không bao giờ được phép tồn tại trên đất nước Việt Nam, phá hoại cuộc sống bình yên của người dân Việt Nam.

Như vậy, dù trên bình diện lý luận hay thực tế đều cho thấy “công đoàn độc lập” là một tổ chức bất hợp pháp, không được Nhà nước thừa nhận. Đó cũng là minh chứng khẳng định quan điểm của các thế lực thù địch là xuyên tạc, bịa đặt, hòng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, gây mất trật tự xã hội và cản trở cuộc sống của người lao động ở nước ta. Vì vậy, mọi người cần tỉnh táo, đề cao cảnh giác, đấu tranh phản bác mọi quan điểm sai trái, thù địch, phản động, đó cũng là phương cách để bảo vệ chính mình và công cuộc đổi mới đất nước ta hiện nay./.

LT11