Thứ Hai, 23 tháng 12, 2019

HÃY CÀNH GIÁC VỚI THỦ ĐOẠN KÍCH ĐỘNG BIỂU TÌNH QUA CÁC TRANG MẠNG XÃ HỘI


Sức mạnh của các trang mạng xã hội là tạo ra dư luận của đông đảo dân chúng về một vấn đề nóng bỏng diễn ra trong xã hội. Gần đây, nhân dịp các sự kiện lớn của đất nước, các thế lực thù địch đã lợi dụng các trang mạng xã hội tuyên truyền, nói xấu các vị lãnh đạo của Đảng, nhà nước và đưa ra những lời kích động, quần chúng lên mạng bàn tán, sau đó kêu gọi người dân xuống đường biểu tình gây rối loạn tình hình an ninh, chính trị xã hội.
      Tiêu biểu như nhân dịp Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ - Triều Tiên diễn ra tại Hà Nội vào ngày 27 và 28-2 vừa qua. Các thế lực thù địch đã tìm cách kêu gọi, kích động biểu tình, tuần hành đông người vào dịp diễn ra hội nghị, nhằm gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, làm xấu đi hình ảnh về đất nước, con người Việt Nam. Chúng viết bài, sản xuất video clip, livestream phát tán trên một số trang mạng xã hội để xúi giục, kích động người dân xuống đường biểu tình. Thậm chí chúng còn rêu rao, ai xuống đường biểu tình, tuần hành đón Tổng thống Mỹ sẽ được nhận từ 200.000 đến 500.000 đồng. Mục đích của cuộc biểu tình, tuần hành quanh nơi diễn ra sự kiện  là muốn gây hình ảnh xấu đối với dư luận quốc tế, khiến bạn bè quốc tế có cái nhìn lệch lạc về tình hình an ninh chính trị của Việt Nam. Nguy hiểm hơn, chúng xuyên tạc chính quyền Việt Nam vi phạm nhân quyền, bưng bít thông tin, đàn áp người bất đồng chính kiến... 
Thực tế, chúng ta đã thấy Việt Nam đã khẳng định về vị thế trên chính trường quốc tế. Đông thời, củng cố, khẳng định tính đúng đắn của chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ ngoại giao, là bạn bè đáng tin cậy với tất cả các nước. Đại sứ Hàn Quốc tại Việt Nam Kim Do-hyon nhận định “Với việc tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ-Triều, Việt Nam đã trở thành một phần trong tiến trình hòa bình, trở thành nhân tố kiến tạo, điều phối và xây dựng cấu trúc hòa bình ở châu Á, đặc biệt là khu vực Đông Á. Việt Nam có thể góp phần thay đổi bối cảnh địa chính trị Đông Á”. Còn theo Frederick Burke, đối tác của hãng luật Baker McKenzie tại Thành phố Hồ Chí Minh: “Trong mắt cộng đồng quốc tế, tầm vóc của Việt Nam không chỉ là một thành viên có trách nhiệm mà thực sự là một nhà lãnh đạo, bước lên nấc thang cao nhất trong quan hệ quốc tế và giải quyết các vấn đề quốc tế”.
Một sự kiện nữa được kẻ thù lợi dụng để phá hoại tình hình an ninh chính trị của đất nước là dịp kỷ niệm 73 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2- 9. Các thế lực thù địch đã kêu gọi biểu tình với cái tên là: “Tổng biểu tình toàn quốc”. Nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, tinh thần đoàn kết toàn dân tộc và nhất là niềm tin của nhân dân với sự lãnh đạo của Đảng, chính sách, pháp luật đúng đắn của Nhà nước. Những lời kêu gọi, xúi dục của kẻ thù đã không thể thực hiện được.
Tuy nhiên, là người dân yêu nước, mỗi người dân Việt Nam cũng không bao giờ chủ quan, lơ là mất cảnh giác, nhất là thông qua các trang mạng xã hội tác động hàng ngày, hàng giờ đến nhận thức, cảm xúc của bản thân. Tich cực đấu tranh, tố cáo, vạch trần làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn của chúng. Hãy cùng chung tay xây dựng một đất nước Việt Nam luôn trường tồn, vững mạnh.

TÌNH YÊU THƯƠNG ĐỒNG CHÍ, ĐỒNG ĐỘI - PHẨM CHẤT SÁNG NGƯỜI CỦA NGƯỜI LÍNH CỤ HỒ


Tinh thần đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động, sự gắn bó keo sơn trên- dưới một lòng đã tạo nên sức mạnh tổng hợp giúp quân đội ta luôn vững mạnh luôn giành chiến thắng trước mọi kẻ thù lớn mạnh nhất. Tình yêu thương đồng chí, đồng đội là một phẩm chất luôn sáng ngời của người lính cụ Hồ.
Quan hệ đồng chí, đồng đội là cội nguồn sức mạnh đoàn kết, thống nhất cán bộ, đảng viên, chiến sĩ trong quân đội. Quan hệ đồng chí không chỉ là quan hệ giữa các đồng chí đảng viên, cán bộ mà còn là của những người cùng chung chí hướng sống, chiến đấu vì mục đích của Đảng, của dân tộc. Mối quan hệ giữa đồng chí và đồng đội gắn bó chặt chẽ, biện chứng, không tách rời, được hình thành ngay từ khi quân nhân bước vào quân ngũ, được các cấp uỷ đảng, chỉ huy các cấp giáo dục, được tôi luyện trong thực tiễn chiến đấu, phục vụ chiến đấu, lao động, học tập. Yêu thương đồng chí luôn hoà quyện biện chứng với yêu thương đồng đội tạo. Phẩm chất yêu thương đồng chí, đồng đội của Bộ đội Cụ Hồ là phạm trù đạo đức phản ánh hành vi ứng xử của các quân nhân với nhau. Phẩm chất này trở thành tài sản tinh thần quý báu, được giữ vững, củng cố, phát huy. Mọi hành vi ứng xử của mỗi quân nhân và mối quan hệ qua lại giữa các quân nhân với nhau đều có ảnh hưởng đến bầu không khí tâm lí trong tập thể, sức mạnh chiến đấu và kết quả hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan và đơn vị.
Tình cảm, mối quan hệ quân nhân được biểu hiện qua nhận thức, thái độ và hành động trong hoạt động thực tiễn của các quân nhân trong quân đội. Những người lính Bộ đội Cụ Hồ là những người con của các dân tộc anh em tham gia xây dựng quân đội, thực hiện mục tiêu lý tưởng của Đảng là giành độc lập, tự do cho dân tộc, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, biên cương của Tổ quốc, bảo vệ cuộc sống yên bình của nhân dân. Họ không phân biệt tuổi tác, thành phần, dân tộc, tôn giáo, giai cấp, trình độ học vấn,… luôn có nhận thức đúng về tình thương yêu đồng chí, đồng đội, dành cho nhau những tình cảm tốt đẹp - tình cảm của những con người cùng chung truyền thống yêu nước, thương nòi, một mục tiêu, lý tưởng.
Phẩm chất yêu thương đồng chí, đồng đội của Bộ đội Cụ Hồ là một trong những nhân tố tinh thần tạo nên sức mạnh tổng hợp của quân đội. Quân đội ta được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tổ chức, lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện, được nhân dân đùm bọc nuôi dưỡng. Phẩm chất yêu thương đồng chí, đồng đội của Bộ đội Cụ Hồ luôn toả sáng, là một trong những nhân tố tinh thần tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội ta.
Ngày nay, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ từng bước hiện đại trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế càng cần phải luôn chăm lo xây dựng tinh thần đoàn kết, trên dưới một lòng. Vì vậy, muốn phát huy ngày càng cao phẩm chất quý báu này, các cấp uỷ đảng cần phải tiếp tục giáo dục chính trị tư tưởng nâng cao nhận thức cho bộ đội về giữ vững và phát huy phẩm chất yêu thương đồng chí, đồng đội của Bộ đội Cụ Hồ, tăng cường đoàn kết, củng cố, giữ gìn mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa cán bộ và chiến sĩ, giữa các quân nhân dựa trên cơ sở nguyên tắc tổ chức và hoạt động, các chế độ, qui định và điều lệnh của quân đội.

KIÊN QUYẾT, KIÊN TRÌ ĐẤU TRANH VỚI 5 THỦ ĐOẠN MỚI NHẰM LỢI DỤNG QUYÊN CỦA NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM


Thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam, trong những năm qua, quyền của người dân tộc thiểu số (DTTS) luôn là một trong những vấn đề chiến lược được các thế lực thù địch triệt để lợi dụng nhằm gây mất ổn định, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ta, đưa Việt Nam đi theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Chúng luôn coi đó là một yếu tố quan trọng để tạo sức ép từ bên ngoài, đồng thời kích động các hoạt động chống phá từ bên trong. Trong đó, chúng tập trung vào một số hoạt động cơ bản sau:
Một là, lợi dụng các vấn đề về lịch sử, đất đai và cuộc sống khó khăn của một bộ phận đồng bào DTTS để vu cáo Nhà nước ta “phân biệt đối xử”,“đàn áp người DTTS”, ép người DTTS phải “bỏ đạo, bỏ văn hoá dân tộc” hoà nhập với “cuộc sống văn minh” của người Kinh… để kích động, lôi kéo người DTTS biểu tình, bạo loạn, xâm phạm an ninh chính trị, trật tự xã hội (ANCT-TTATXH) ở nước ta. Các thế lực thù địch còn triệt để lợi dụng sơ hở, thiếu sót trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo, giải quyết khiếu nại tố cáo… ở vùng DTTS để mua chuộc, lôi kéo những phần tử xấu và người DTTS gây mất ổn định ANCT-TTATXH trên địa bàn. Chúng còn lợi dụng sự thoái hóa, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên; triệt để xoáy sâu tâm lí và sự dồn nén bức xúc do số cán bộ, đảng viên này gây ra với đồng bào để tuyên truyền, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phủ nhận thành tựu công cuộc đổi mới nhằm làm cho nhân dân mất niềm tin vào Đảng, vào chính quyền.
Hai là, chúng đánh tráo và đồng nhất khái niệm quyền dân tộc tự quyết là quyền của quốc gia – dân tộc với quyền của các DTTS để tuyên truyền, xuyên tạc nhằm làm cho đồng bào các dân tộc ngộ nhận rằng, quyền dân tộc tự quyết là quyền của riêng đồng bào các DTTS.Từ đó, chúng tìm cách kích động, lôi kéo đồng bào dân tộc đòi “quyền dân tộc tự quyết, tự quản”, đòi thành lập nhà nước riêng, thoát ly khỏi sự quản lý của Nhà nước, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc như: “Nhà nước Tin lành Đề-ga” ở Tây Nguyên, “Vương quốc Khmer Krom” ở Tây Nam Bộ, “Vương quốc Mông” ở Tây Bắc… Qua đó nhằm hình thành các tổ chức đối lập với Đảng, Nhà nước ta. Bên ngoài, các tổ chức người Việt lưu vong ở nước ngoài như: “Hội người Mông thế giới”, “Hội người Thượng Đề-ga”… tích cực móc nối, tài trợ, chỉ đạo số đối tượng trong nước thu hút, tập hợp lực lượng, hình thành nhen nhóm phản động gây mất ổn định chính trị ở địa phương.
Ba là, triệt để tác động Quốc hội Mỹ và các nước phương Tây, các tổ chức quốc tế thông qua các dự luật, nghị quyết, báo cáo… hoặc tổ chức các cuộc điều trần, hội thảo, họp báo nhằm xuyên tạc, bóp méo tình hình nhân quyền ở các vùng DTTS ở nước ta. Điển hình như: Báo cáo tình hình nhân quyền thế giới hằng năm của Anh, Mỹ; Nghị quyết của Nghị viện EU… Trong đó, chỉ riêng Hạ viện Mỹ hằng năm đã liên tục thông qua nhiều Dự luật, Nghị quyết về quyền của người DTTS tại Việt Nam như: Dự luật HR 1897, Nghị quyết H.Res.484… hay Báo cáo thường niên của Tổ chức Theo dõi nhân quyền (HRW), Tổ chức Ân xá Quốc tế (AI)… Đặc biệt, các tổ chức phản động lưu vong còn tìm cách tham gia các diễn đàn của Liên hợp quốc để gây sức ép đòi Nhà nước Việt Nam phải trao “quyền tự quyết, tự quản” cho người Khmer, người Thượng… ở trong nước.
Bốn là, lợi dụng kênh ngoại giao song phương, đa phương, hợp tác quốc tế với Việt Nam để lồng ghép vấn đề “cải thiện dân chủ, nhân quyền” trong các nội dung hợp tác với nước ta; gây sức ép về vấn đề quyền của người DTTS, đòi “quyền dân tộc tự quyết” cho các nhóm DTTS trong quan hệ với Việt Nam. Các thế lực thù địch còn thông qua tiếp xúc, làm việc với các cơ quan chức năng để tán phát, truyền bá các tài liệu, văn bản như: Thư ngỏ, Thông cáo báo chí… hoặc gửi kháng thư tới các lãnh đạo Đảng, Nhà nước nhằm xuyên tạc tình hình dân chủ, nhân quyền, trong đó có quyền của người DTTS ở trong nước, qua đó, hòng hạ thấp uy tín Việt Nam trên trường quốc tế.
Năm là, triệt để lợi dụng trình độ dân trí thấp, phong tục, tập quán lạc hậu của đồng bào các DTTS để “tôn giáo hóa” các vùng DTTS, vùng sâu, vùng xa, tập trung vào địa bàn Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ. Chúng lập ra các “tôn giáo riêng” cho đồng bào DTTS như “Tin lành Đề-ga” ở Tây Nguyên; “Tin lành của người Mông” ở Tây Bắc, “Phật giáo của người Khmer” ở Tây Nam Bộ… Qua đó, hòng tập hợp, lôi kéo đồng bào dân tộc đi theo các tôn giáo rồi dùng thần quyền, giáo lý để nắm và khống chế quần chúng, chi phối các địa bàn, hình thành lực lượng đối trọng với chính quyền. Thông qua tôn giáo dụ dỗ đồng bào cản trở việc thực hiện chính sách, pháp luật, gây mất ổn định chính trị, xã hội ở địa phương.
Thực tế cho thấy, những năm qua, các cơ quan chức năng đã triển khai đồng bộ các biện pháp đấu tranh, ngăn chặn hoạt động lợi dụng quyền của người DTTS để xâm phạm ANCT-TTATXH nước ta. Trong đó, đã chủ động nắm tình hình các địa bàn, đối tượng trọng điểm về dân tộc, tôn giáo, các tổ chức phản động lưu vong, các tổ chức quốc tế… thường có hoạt động chống phá ta về dân tộc, tôn giáo để triển khai các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn. Chủ động ngăn chặn, vô hiệu hóa âm mưu, hoạt động thông qua triển khai các dự án, chương trình hợp tác quốc tế trong các vùng DTTS để lôi kéo, mua chuộc người dân tộc tham gia các hoạt động xâm phạm ANCT-TTATXH.
Đã tham mưu cho Đảng và chính quyền các cấp chủ động giải quyết từ cơ sở các vụ việc nhạy cảm, phức tạp liên quan tới dân tộc, tôn giáo trên địa bàn; đồng thời triển khai các phương án đấu tranh, xử lý nghiêm các đối tượng lợi dụng quyền của người DTTS xâm phạm ANCT-TTATXH trước pháp luật. Thông qua nhiều kênh và hình thức tuyên truyền, chúng ta đã chuyển tải chính sách, thành tựu đã đạt được trong việc bảo vệ, phát huy quyền của người DTTS ở nước ta, giải tỏa kịp thời các thông tin xuyên tạc, sai lệch về vấn đề này tới các tầng lớp nhân dân, cộng đồng quốc tế, kiều bào ta ở nước ngoài.
Đặc biệt, việc nước ta bảo vệ thành công Báo cáo quốc gia theo Cơ chế kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ III của Hội đồng Nhân quyền LHQ ngày 4-7-2019 tại Geneva (Thụy Sỹ) là minh chứng sinh động nhất khẳng định mạnh mẽ nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, trong đó có quyền của người DTTS, được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao; góp phần đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc về vấn đề này đối với nước ta.
* Phướng hướng: Trong thời gian tới, các thế lực thù địch vẫn sẽ tiếp tục lợi dụng quyền của người DTTS nhằm thúc đẩy chiến lược “Diễn biến hòa bình” đối với nước ta. Để phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn hiệu quả hoạt động này, các cơ quan chức năng cần tiếp tục tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về quyền của đồng bào các DTTS theo luật pháp quốc tế và pháp luật Việt Nam; âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề này chống phá Việt Nam để đề cao cảnh giác, không nghe theo kẻ xấu, không bị kẻ địch lợi dụng; tự giác thực hiện quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về dân tộc, tôn giáo.
Đề cao tinh thần dân tộc và tôn trọng những điểm khác biệt của các DTTS không trái với lợi ích chung của đất nước; kiên quyết chống tư tưởng kì thị, chia rẽ dân tộc, tôn giáo, dân tộc hẹp hòi, cực đoan hoặc mặc cảm dân tộc, tôn giáo. Không ngừng chăm lo xây dựng, củng cố, kiện toàn hệ thống chính trị ở các địa bàn vùng DTTS, vùng sâu, vùng xa; nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, hiệu lực hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân nhằm xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân ngày càng vững mạnh.
Tiếp tục khơi dậy ý thức tự lực, tự cường và phát huy truyền thống đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giúp đỡ nhau cùng phát triển giữa các dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tiếp tục thực hiện hiệu quả các chương trình, dự án phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao trình độ dân trí, văn hóa, xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, tạo mọi điều kiện để đồng bào các DTTS được tiếp cận với các điều kiện sống của khu vực thành thị, nhằm góp phần đảm bảo ngày càng tốt hơn quyền và lợi ích của đồng bào các DTTS, vùng sâu, vùng xa.
Làm tốt công tác nắm tình hình, kịp thời phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn âm mưu, hoạt động lợi dụng quyền của người DTTS để phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, chống phá cách mạng nước ta. Giải quyết triệt để, kịp thời các “điểm nóng”, các mâu thuẫn, khiếu kiện trong đồng bào các DTTS ngay từ cơ sở, không để kéo dài, không lây lan, vượt cấp…tạo nên những điểm nóng về xung đột chính trị xã hội ở các khu dân cư đồng bào vùng cao./.


ĐẤU TRANH CHỐNG SỰ VIN CỚ XỬ LÝ SAI PHẠM MỘT SỐ CÁN BỘ ĐỂ QUY CHỤP, CHỐNG PHÁ LỰC LƯỢNG VŨ TRANG


          Thời gian qua, xung quanh các phiên tòa xét xử một số vụ án có liên quan hành vi phạm tội của những cá nhân từng công tác trong công an nhân dân (CAND), quân đội nhân dân (QĐND) như vụ án đánh bạc, tổ chức đánh bạc tại Phú Thọ (liên quan ông Phan Văn Vĩnh, ông Nguyễn Thanh Hóa); vụ án Phan Văn Anh Vũ (Vũ nhôm), Bùi Văn Thành, Trần Việt Tân; vụ án Đinh Ngọc Hệ (Út trọc), Phương Minh Hòa, Nguyễn Văn Hiến…, trên nhiều trang báo ngoài nước và mạng xã hội đã có những bài viết, bình luận mang tính suy diễn, quy chụp, vượt phạm vi khuôn khổ một vụ án, tại một phiên tòa cụ thể. Các thế lực thù địch, phản động lồng ghép những vụ án này với một số cá nhân trong CAND, QĐND đã bị xử lý kỷ luật theo kết luận của Ủy ban Kiểm tra Trung ương trong thời gian qua, từ đó chúng sản xuất các video clip, cắt ghép hình ảnh nhằm chế nhạo, miệt thị lực lượng vũ trang (LLVT).
Thủ đoạn của chúng là, từ vụ án, vụ việc sai phạm, tiêu cực liên quan đến những cá nhân cụ thể, các đối tượng tìm cách đánh đồng, chụp mũ, quy kết thành vấn đề có tính “bản chất” của lực lượng, cho rằng sai phạm, tiêu cực “có tính hệ thống” và là “tảng băng chìm”. Một số trang mạng phản động, chuyên chống phá chế độ đã lợi dụng vụ án để phủ định sạch trơn truyền thống, thành tựu của lực lượng CAND, tìm cách thổi phồng sự việc, bôi nhọ danh dự, đồng thời lên án, kích động tư tưởng phi chính trị hóa lực lượng vũ trang, thậm chí đổ lỗi các hiện tượng tiêu cực là do “nguyên nhân chính trị”.
Trong khi đó, không ít cá nhân trong và ngoài nước cũng bị ảnh hưởng bởi “hội chứng đám đông”, đã share bài viết, hình ảnh châm biếm và có những bình luận mang tính tiêu cực, suy diễn, vô tình hay cố ý tiếp tay cho mưu đồ phá hoại của kẻ xấu.
Cần thấy rằng, trong quá trình xây dựng, phát triển, cùng những thành tựu, kết quả đạt được thì ở bất kỳ ngành, lĩnh vực nào cũng còn những tồn tại, khuyết điểm. Để sự phát triển được vững mạnh, củng cố niềm tin trong nhân dân, Đảng ta luôn xác định phải kiên quyết, kiên trì đấu tranh với cái xấu, cái tiêu cực, cùng việc xây dựng, hoàn thiện thể chế, lấy cái tốt đẩy lùi cái xấu.
Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, chỉ rõ: “Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát; phát huy vai trò của các cơ quan thanh tra, kiểm tra, điều tra và các cơ quan tư pháp để nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, xử lý nghiêm minh đối với những cán bộ sai phạm theo quy định của pháp luật; trước mắt tập trung xử lý dứt điểm các vụ tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp được dư luận xã hội và nhân dân quan tâm và công khai kết quả xử lý. Siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; cán bộ, đảng viên vi phạm phải có hình thức xử lý kịp thời, chính xác, bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng”.
Đối với lực lượng CAND, việc xử lý những cá nhân sai phạm cả về mặt kỷ luật hành chính và xử lý hình sự như vừa qua là thể hiện việc thực hiện nghiêm đường lối, chính sách của Đảng, trong đó có Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, khóa XII cũng như thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật.
Việc xử lý kỷ luật cũng như điều tra, truy tố, xét xử hình sự đối với các cá nhân sai phạm thể hiện sự nghiêm minh của luật pháp, theo nguyên tắc “không có vùng cấm”, không có ngoại lệ. Cơ quan bảo vệ pháp luật càng phải chấp hành nghiêm pháp luật. Điều này thể hiện tinh thần của công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay “xử một vài người để cứu muôn người”. Ở đây là xử lý người phạm pháp, vừa là việc áp dụng theo đúng quy định pháp luật, vừa là biện pháp để răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung, vì sự ổn định và phát triển, làm trong sạch lực lượng.
Điều quan trọng là từ những vụ việc đã xảy ra, chúng ta cần có quan điểm thấu đáo, từ đó đúc rút bài học cho chính mình, cho đồng chí, đồng đội. Với mỗi vụ án, vụ việc xảy ra là sự thức tỉnh, là bài học để mỗi cán bộ, chiến sĩ CAND tiếp tục phấn đấu rèn luyện, tuân thủ pháp luật, tận hiến công tác; khẳng định niềm tin vào công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, sự quyết tâm của Đảng ủy Công an Trung ương và Bộ Công an, xử lý nghiêm sai phạm, chấp nhận những tổn thất nhất định để giữ vững kỷ cương, phép nước, vì lợi ích chung.
Đồng thời, phải nhìn nhận theo tinh thần xây dựng, một cách nhìn toàn diện vì công cuộc, sự nghiệp chung. Ở đây là sai phạm của cá nhân, trong một vụ án cụ thể, do đó phải nhìn nhận trong phạm vi vụ án và với chính cá nhân, hành vi đó. Không vì sai phạm của một cá nhân, một vụ việc mà đánh đồng, suy diễn ra vấn đề chung của lực lượng. Việc suy diễn, quy kết từ vụ việc cụ thể của các cá nhân thành vấn đề của ngành, của lực lượng rồi tìm cách bôi nhọ, miệt thị, thậm chí phủ nhận sạch trơn vai trò, vị trí, thành quả của lực lượng CAND rõ ràng mang động cơ xấu, nhằm chống phá Đảng, Nhà nước, chống phá lực lượng vũ trang.
Thực tiễn hơn 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành đã bồi đắp nên truyền thống vẻ vang của CAND: tuyệt đối trung thành với Tổ quốc và nhân dân, với Đảng và Nhà nước; gắn bó máu thịt với nhân dân, vì nhân dân phục vụ, dựa vào nhân dân để công tác và chiến đấu. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn ghi nhận, đánh giá cao những công lao, đóng góp to lớn của các thế hệ cán bộ, chiến sỹ CAND đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; trao tặng nhiều phần thưởng cao quý cho lực lượng CAND và các tập thể, cá nhân đạt thành tích xuất sắc.
Những sai phạm, tiêu cực xảy ra chỉ ở bộ phận nhỏ và điều quan trọng là bất luận trường hợp nào, Đảng ủy Công an Trung ương, lãnh đạo Bộ Công an cũng thể hiện rõ thái độ, quan điểm nghiêm khắc với các tồn tại, thiếu sót, kịp thời chỉ đạo kiểm tra, điều tra, xử lý nghiêm theo quy định pháp luật, vì sự ổn định, phát triển, trong sạch lực lượng.
Tại phiên họp Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương mới đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã ghi nhận, đánh giá cao sự nỗ lực, phấn đấu của lực lượng CAND trong thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Lực lượng CAND đã đạt được kết quả khá toàn diện trên các mặt công tác, hoàn thành các mục tiêu, yêu cầu đề ra, chủ động nắm, phân tích, dự báo sát tình hình, kịp thời tham mưu với Đảng, Nhà nước hoạch định các chủ trương, chính sách chiến lược trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, đối ngoại và bảo đảm lợi ích, an ninh, trật tự; bảo vệ an ninh, an toàn tuyệt đối các mục tiêu, sự kiện chính trị quan trọng của đất nước.
Kết quả các mặt công tác của lực lượng CAND tạo môi trường hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, lành mạnh cho phát triển kinh tế- xã hội, mở rộng quan hệ đối ngoại của đất nước. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chia sẻ với lực lượng CAND đã ngày đêm vất vả, hy sinh để hoàn thành nhiệm vụ được giao; mong muốn năm 2019 và những năm tiếp theo, toàn lực lượng Công an cần tiếp tục phát huy những kết quả, thành tựu đã đạt được, triển khai quyết liệt, mạnh mẽ hơn nữa các lĩnh vực công tác, hoàn thành nhiệm vụ trước Đảng, trước nhân dân. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, cần khẳng định những thành tựu to lớn của công tác giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, trong đó có vai trò quan trọng của lực lượng CAND. Không vì một số vụ án, một số tiêu cực, phạm khuyết điểm mà suy diễn, coi thường, phủ nhận công lao đóng góp của lực lượng Công an. “Phải khẳng định rõ thành tựu to lớn, sự vững vàng, kiên định của lực lượng Công an, vị trí, vai trò quan trọng của lực lượng Công an; đồng thời đấu tranh phản bác lại những tư tưởng, luận điệu xuyên tạc, hạ thấp uy tín của lực lượng Công an” – Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ rõ.
Về vấn đề này, trong bài trả lời phỏng vấn Báo CAND, Đại tướng Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an đã nhấn mạnh: Công an là “thanh bảo kiếm” của Đảng, là lực lượng nòng cốt trong phòng, chống tội phạm, bảo vệ pháp luật. Việc chấn chỉnh, xử lý nghiêm các sai phạm không phải là ý thích của một ai mà là Nghị quyết của Đảng, là nguyện vọng của quần chúng nhân dân, là yêu cầu tất yếu phải làm. Trong quá trình đó, kẻ xấu luôn tìm cách xuyên tạc, chia rẽ, dựa vào những vụ việc, hiện tượng sai phạm của một số cán bộ, chiến sĩ để đánh đồng đó là bản chất của Công an. Âm mưu, hành vi chống phá đó cần phải được đông đảo cán bộ, chiến sĩ LLVT và toàn dân nhận thức đúng, rõ để kiến quyết đấu tranh, ngăn chặn có hiệu quả./.


VY YÊN – TRÍ THỨC HAY CƠ HỘI CHÍNH TRỊ


         Vy Yên, tên thật là Nguyễn Vy Yên, gần đây là một trong những nhân vật được các rận chủ cơ cấu trở thành người nổi tiếng trong giới đấu tranh. Cũng như Phạm Đoan Trang, Vy Yên được VOICE đào tạo, kinh qua những đợt tẩy não của Luật Khoa Tạp Chí mà Trịnh Hữu Long là trùm sò. Khi Phạm Đoan Trang ngày càng trốn chui trốn lủi như chuột và xung quanh xì xào nhiều đồn thổi về cách làm việc độc tài và thí tốt, thì Vy Yên là gương mặt với với lý lịch sạch sẽ và ít tai liếng hơn.
       Vy Yên là một thành viên của nhóm Tinh Thần Khai Minh, nhưng cô ta không phải là người sáng lập hay một diễn giả, tác giả của Tinh Thần Khai Minh. Mà chỉ là một người chăm lo các công việc hậu cần. Vì thế, khi các thành viên của Tinh Thần Khai Minh không thể duy trì được nội dung thì trang này cũng chết lâm sàng. Từ đó Vy Yên bước vào con đường hoạt động chống đối chuyên nghiệp, tham gia các cuộc biểu tình do Phạm Đoan Trang dẫn đầu. Được tiến cử sang VOICE "du học", Vy Yên nhanh chóng trở thành một "hạt giống" của VOICE/Việt tân. Được giao cho ra mặt thực hiện Chiến dịch Phản đối Luật An ninh mạng, Vy Yên được VOICE cung cấp việc làm, tài chính, ăn ở và được đánh bóng tên tuổi trên hệ thống của băng đảng này. 
      VOICE là cánh tay nối dài của Việt Tân tại khu vực Đông Nam Á và châu Úc. Nếu Việt Tân trực tiếp bảo trợ người của mình trở thành trợ lý làm việc cho các dân biểu Mỹ, thì VOICE cũng làm như vậy với dân biểu Úc. Bằng cách này, Việt Tân và VOICE đứng sau, sử dụng chiêu bài vận động Quốc hội để ép chính phủ 2 nước này o ép chính trị Việt Nam, bắt Việt Nam phải cho phép các thành phần khủng bố vào hoạt động công khai gây loạn xã hội ở trong nước. Đó là âm mưu của chúng, tuy nhiên, để thực hiện ý định này là một chẳng đường dài đối với chúng.
      Vy Yên, chứ không phải Đoan Trang đã trở thành người sát cánh với Trịnh Hội - thành viên của Việt Tân - xuất hiện tại chính giới quốc tế. Đoan Trang đã mất vị thế và được thay thế bằng một người trẻ hơn, biết cách "giả danh tri thức" hơn. Trên facebook Vy Yên gần đây, thay vì mở miệng nói giọng cực đoan như thời truyền thông cho Chiến dịch An ninh mạng thì lại ngày càng khoác vỏ tri thức, nhắc rất nhiều đến những kỷ niệm thời làm Tinh Thần Khai Minh dù cho Tinh Thần Khai Minh chỉ là bàn đạp cho tham vọng của Vy Yên và cô ta không hề đóng góp gì nhiều cho hoạt động tri thức. Về bản chất, Tinh thần Khai Minh cũng không phải một tổ chức tri thức mà chỉ là một nhóm trẻ được Chu Hảo dựng lên để tuyên truyền cho phe cánh của Diễn đàn Xã hội Dân sự và Qũy Phan Chu Trinh dưới danh nghĩa bàn về các tư tưởng Khai Sáng. Cô ta chưa bao giờ là một nhà hoạt động tri thức giống như cô ta đang đánh bóng.


“NHÀ ZÂN CHỦ” THÁI VĂN ĐƯỜNG LÀ AI?


       Thời gian qua, cùng với một số đối tượng chống đối quyết liệt trên mạng xã hội như Lê Nguyễn Hương Trà, Bạch Hoàn, Bùi Thanh Hiếu,… Thái Văn Đường là cái tên xuất hiện liên tục trên mạng xã hội như đối tượng thường xuyên đăng tải các bài viết có nội dung xuyên tạc, bôi nhọ lãnh đạo Việt Nam. Số lượng người theo dõi Thái Văn Đường ngày càng cao. Qua các comment trên facebook của Thái Văn Đường, ta có thể thấy Thái Văn Đường có mối quan hệ thân thiết với Thảo Teresa, Lê Dũng Vova… và cách hành văn ngày càng giống với đám Hiếu Buôn gió và Việt tân. Ngược dòng thời gian di tìm hiểu về con người Thái Văn Đường, thấy rằng anh ta cũng giống như nhiều nhà “dân chủ” trẻ khác, là một điển hình của những người bị đầu độc, nhồi sọ bởi các quan điểm sai trái, bị các tổ chức chống phá Nhà nước Việt Nam dụ dỗ, lôi kéo vào con đường chống đối.
      Thái Văn Đường (tên đúng là Đường Văn Thái) sinh năm 1982 tại Thôn Hà Lâm 3, Xã Thụy Lâm, Huyện Đông Anh, Hà Nội. Từ năm 2001, Đường Văn Thái từng tham gia công tác đoàn tại thôn Hà Lâm 3. Năm 2004, tham gia công tác Đoàn tại xã Thụy Lâm và được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Việt Nam. Năm 2009, Đường Văn Thái làm hợp đồng tại Trung Tâm quỹ đất huyện Đông Anh – Hà Nội. Năm 2013, Đường Văn Thái thi công chức nhưng không đỗ, từ đó Đường Văn Thái bất mãn và xin nghỉ việc từ năm 2014. Từ khi nghỉ việc, chẳng biết do đâu mà Đường Văn Thái bắt đầu tham gia giới rận chủ, coi đây như một nghề để kiếm cơm, được biết đến khi tham gia “biểu tình cá” năm 2016 và lập nhóm “Lều của đầy tớ”, chuyên đăng tải những thông tin thiếu cơ sở kiểm chứng, cóp nhặt từ trên mạng, rồi biến báo, xào xáo dựng chuyện.
       Đường lần lượt tham gia các tổ chức hội nhóm bất hợp pháp như Hội nhà báo độc lập, Hội anh em dân chủ và tiến hành nhiều hoạt động chống Nhà nước. Đường khởi tạo và tham gia điều hành nhóm “Lều Của Đầy Tớ” trên mạng xã hội Facebook, thường xuyên đăng tải và phát tán những hình ảnh, thông tin sai lệch về nhà cửa, gia thế của các quan chức, lãnh đạo.
    Cuối năm 2017, Thái Văn Đường về nước và nằm vùng tại TP.Hồ Chí Minh. Khoảng thời gian từ 2016 đến nay, lợi dụng các sự việc nóng gây bức xúc xã hội dưới sự trợ giúp đắc lực của internet – miền chiến thứ 5, Đường càng gia tăng tần suất đăng, chia sẻ các bài viết có nội dung sai sự thật, bóp méo, xuyên tạc hiện thực khách quan, cố tình “đổi trắng, thay đen” gieo rắc sự hoài nghi, hoang mang để tạo dựng những miền chiến tư tưởng rồi dần kích động thành những miền chiến trên bộ với những cuộc bạo loạn đi đến lật đổ theo mô hình cách mạng màu. Thậm chí nhiều lần Đường còn lợi dụng các vấn đề như sự cố do Formosa gây ra để kích động biểu tình, bạo loạn.
     Có lẽ nhận thấy những hành động của mình đã vượt quá giới hạn của pháp luật và có thể bị Công an sờ gáy, Đường tìm cách trốn sang Thái lan và xin vé đi tỵ nạn chính trị ở các nước phương Tây. Với bản tính khôn lỏi của mình, Thái Văn Đường nhiều lần bị đồng nghiệp lẫn đồng bọn lên tiếng chỉ trích. Điển hình như Trương Châu Hữu Danh tuần trước đã lên tiếng chỉ trích Thái Văn Đường mượn hơi mình để nổi tiếng. Trước nguy cơ chung đường với Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Nguyễn Văn Đài, Trần Huỳnh Duy Thức, Thái Văn Đường đã nhanh chóng trốn sang Thái để xin tỵ nạn chính trị.
     Có thể thấy ở Thái Văn Đường bản chất một kẻ lười biếng, thích sống dựa vào bịa đặt, đi vào vết xe đổ của các đối tượng "dân chủ" khác như Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Bùi Thanh Hiếu,... Một tương lai tăm tối nhìn thấy trước có lẽ sớm đến với Thái Văn Đường.


"XÃ HỘI DÂN SỰ" - MỘT THỦ ĐOẠN CỦA DIỄN BIẾN HÒA BÌNH




      Thời gian qua, việc tác động để hình thành một “xã hội dân sự” (XHDS) ở Việt Nam theo tiêu chí phương Tây đang được một số người cổ vũ và thực hiện. Vậy thực chất “xã hội dân sự” là gì, đây có phải là một trong các phương thức hoạt động nhằm chuyển hóa chế độ mà những thế lực ngoại bang phương tây chủ mưu diễn biến hòa bình (DBHB) đã áp dụng thành công ở Ðông Âu, Trung Ðông, Bắc Phi, và hy vọng sẽ thành công ở Việt Nam?

Theo một số học giả và tổ chức nước ngoài, khái niệm XHDS (civil society) xuất hiện sớm nhất ở nước Anh, và được hiểu là việc những con người sống trong cộng đồng. Theo lý thuyết của Scottish (thế kỷ XVIII), XHDS có nghĩa là xã hội văn minh với một nhà nước không độc đoán. Ðến thế kỷ XIX, Hegel mô tả XHDS như là một phần của đời sống đạo đức, bao gồm ba yếu tố gia đình, XHDS và nhà nước, trong đó các cá nhân theo đuổi những lợi ích riêng trong giới hạn đã được pháp luật thừa nhận… Theo tổ chức Liên minh thế giới vì sự tham gia của công dân (CIVICUS) – một tổ chức phi chính phủ (NGO) tại Nam Phi, XHDS là “diễn đàn giữa gia đình, nhà nước và thị trường, nơi mà mọi con người bắt tay nhau để thúc đẩy quyền lợi chung”. Cùng với khái niệm XHDS, còn có một số cụm từ, khái niệm khác có liên quan, như: “xã hội công dân” (citizens society – CS), “tổ chức XHDS” (Civil Society Organization – CSO), “tổ chức phi chính phủ” (Non governmental organization – NGO)… Ðây là những khái niệm ra đời từ các chủ thể khác nhau nhưng lại có liên quan chặt chẽ, trong đó nổi bật là quan niệm không có NGO (tổ chức quần chúng, hội, đoàn thể…) thì không thể hình thành XHDS. Trong một xã hội, nếu có nhiều tổ chức NGO hoạt động mạnh thì sẽ có XHDS phát triển và ngược lại. Nhìn từ cấu thành cơ bản một xã hội với ba thành phần là nhà nước, doanh nghiệp và XHDS, một số nhà nghiên cứu nước ngoài cho rằng, nếu ba yếu tố này cân bằng thì xã hội, chế độ chính trị sẽ ổn định, phát triển hài hòa. Ngược lại, nhà nước mạnh sẽ dẫn tới chế độ độc tài, nếu XHDS mạnh, thì sẽ dẫn tới vô chính phủ, bất ổn về xã hội và chế độ sẽ sụp đổ. Ðây chính là lý do để các thế lực thù địch quan tâm nghiên cứu, vận dụng, nhằm lợi dụng vai trò của XHDS trong hoạt động lật đổ một chế độ như họ đã thực hiện tại một số nước trong thời gian qua.
Một số học giả trên thế giới có quan điểm chống cộng rất đề cao vai trò của XHDS trong các cuộc “cách mạng màu” lật đổ chế độ XHCN tại Ðông Âu trước đây. Bronislaw Geremek, nhà sử học, cố vấn đặc biệt của Tổng thống Ba Lan Lech Valesa từ những ngày đầu xuất hiện Công đoàn Ðoàn kết cho rằng: “Khái niệm XHDS, được hiểu như một chương trình chống lại chủ nghĩa cộng sản, xuất hiện đầu tiên tại Ba Lan vào cuối những năm 70 và đầu những năm 80 của thế kỷ XX, ban đầu chỉ đặt trong mối liên quan đến phong trào Ðoàn kết. Thời gian dài sau đó, trong thế giới cộng sản xuất hiện một phong trào độc lập của quần chúng đòi tẩy chay hệ thống cầm quyền”.
Bronislaw Geremek đánh giá cao vai trò của XHDS trong việc lật đổ chế độ XHCN tại Ba Lan: “Ðối đầu với phong trào quần chúng khổng lồ này là sức mạnh của bộ máy chế độ, gồm: quân đội, cảnh sát và bộ máy hành chính (kể cả guồng máy Ðảng Cộng sản). Tuy nhiên, đến khi đó, tất cả đều không còn tính hợp pháp, họ bị loại ra khỏi tầm kiểm soát xã hội, đồng thời cũng mất đi mọi sự ủng hộ của xã hội. Trong phong trào Ðoàn kết, chúng tôi đặt hy vọng bao vây, cô lập bộ máy công quyền đó bằng một thứ giống như cái kén tằm, từng bước cô lập và sau đó là đặt bộ máy đảng – nhà nước ra bên lề”.
Tại Ðông Âu trước đây, có những “tổ chức chính trị đối lập” hình thành, phát triển và hoạt động với danh nghĩa là “tổ chức XHDS”, như Công đoàn Ðoàn kết ở Ba Lan, Hội Văn hóa Ucraina ở Liên Xô trong những năm 80 của thế kỷ XX… Thông qua việc lôi kéo công nhân, với sự hỗ trợ từ nước ngoài (như Trung tâm Ðoàn kết Lao động Quốc tế Mỹ – ACILS) và một số tổ chức Công giáo, từ những năm 70 tại Ba Lan đã xuất hiện các tổ chức như: Ủy ban bảo vệ công nhân (KOR), Phong trào Bảo vệ các quyền dân sự và con người (ROPCiO), sau đó Công đoàn Ðoàn kết Ba Lan được thành lập.
Thông qua Công đoàn Ðoàn kết, các thế lực thù địch đã tổ chức thành công việc lật đổ chế độ XHCN tại nước này. Tương tự, tại Tiệp Khắc, với sự hỗ trợ của bên ngoài, các đối tượng chống đối chế độ đã thành lập Phong trào Hiến chương 77 làm hạt nhân. Các cuộc “cách mạng đường phố” tại các nước vùng Trung Ðông – Bắc Phi thời gian qua cũng cho thấy vai trò của các cơ quan đặc biệt nước ngoài, các NGO, trong việc hỗ trợ các tổ chức XHDS lôi kéo, kích động quần chúng lật đổ chế độ.
Hiện nay, các nước, các tổ chức quốc tế, các NGO nước ngoài đang tìm mọi cách để hình thành, phát triển XHDS theo tiêu chí phương Tây ở Việt Nam, qua đó thực hiện mục tiêu lật đổ chế độ XHCN bằng biện pháp “bất bạo động”, “phi vũ trang”. Hoạt động này nằm trong ý đồ thực hiện “tiến trình dân chủ ở Việt Nam” với mục đích lợi dụng XHDS để gây mất ổn định chính trị, tiến tới thay đổi chế độ như xảy ra tại các nước Ðông Âu, SNG và Trung Ðông – Bắc Phi thời gian qua. Báo cáo Khỏa lấp sự cách biệt: XHDS mới nổi tại Việt Nam của một tổ chức quốc tế cho rằng, các NGO Việt Nam và các tổ chức tại cộng đồng đã tạo ra một thách thức to lớn. Bản báo cáo khuyến nghị một số lĩnh vực cần quan tâm để thúc đẩy XHDS tại Việt Nam, như cải thiện môi trường xã hội, luật pháp và kinh tế cho các NGO, tăng cường năng lực các tổ chức xã hội cho việc thực hiện nghiên cứu và đánh giá các hoạt động của các tổ chức XHDS tại Việt Nam.
Thực tiễn trong những năm qua cho thấy, một số NGO nước ngoài rất quan tâm đến các tổ chức chính trị, xã hội ở nước ta và tìm cách xâm nhập, tác động, chuyển hóa các tổ chức này để chuyển hướng hoạt động chính trị trong khi chưa đủ điều kiện thành lập tổ chức đối lập. Thông qua các hoạt động như triển khai dự án, hỗ trợ, tài trợ, tổ chức hội thảo với các NGO Việt Nam, một số tổ chức nước ngoài đã cố gắng tìm hiểu nội bộ, xu hướng quan điểm của các NGO Việt Nam về sự lãnh đạo của Ðảng đối với tổ chức quần chúng, kích động sự thoát ly vai trò lãnh đạo của Ðảng và Nhà nước, cổ vũ quyền tự do lập hội theo tiêu chí phương Tây.
Ngoài ra, một số tổ chức nước ngoài còn tài trợ tài chính cho một số NGO Việt Nam để hỗ trợ việc xuất bản, phát hành tài liệu nghiên cứu, văn bản luật nước ngoài nhằm tuyên truyền quan điểm, pháp luật phương Tây đến với công chúng Việt Nam một cách công khai.
Các tổ chức phản động nước ngoài cũng tìm cách phát triển XHDS tại Việt Nam để phục vụ ý đồ chống phá từ bên trong. Tổ chức Bảo vệ người lao động (của Trần Ngọc Thành tại Ba Lan) gia tăng hoạt động nhằm chuyển hướng hoạt động xâm nhập vào trong nước với ý đồ xây dựng các tổ chức công đoàn tự do.
Tổ chức Mạng lưới tuổi trẻ Việt Nam lên đường đã tiến hành Ðại hội thanh niên sinh viên Việt Nam trên thế giới lần thứ V vào tháng 1-2008 tại Malaysia với chủ đề XHDS: dân chủ từ sức mạnh quần chúng với mục đích trao đổi để tìm cách cho ra đời một XHDS độc lập với chính quyền, tôn trọng nhân quyền, có các công đoàn độc lập, có tự do báo chí…
Tại đại hội này, các đối tượng tham gia đã đề ra mục tiêu để tiến hành “cuộc cách mạng hòa bình” tại Việt Nam là phải xây dựng được một XHDS bền vững và muốn thay đổi xã hội thì không chỉ trên phương diện chính trị, mà còn trên các phương diện kinh tế, luật pháp, trong mỗi cộng đồng dân cư. Tại hội thảo Chuyển đổi Nhà nước Việt Nam: Các tác động lên Việt Nam và khu vực do các đối tượng bên ngoài tổ chức ở Hồng Công tháng 8-2008 đã tập trung bàn luận các nội dung: thách thức tự nhiên của XHDS đối với chế độ độc đảng ở Việt Nam; XHDS trong bối cảnh Việt Nam, sự trỗi dậy của XHDS qua việc tập trung vào hoạt động của Khối 8406 và Việt Tân. Qua đây cho thấy, các thế lực phản động bên ngoài rất quan tâm đến việc lợi dụng XHDS để thực hiện âm mưu lật đổ chế độ.
Ðáng chú ý là một số đối tượng cơ hội chính trị có quan điểm chống đối cực đoan đã lợi dụng một số tổ chức quần chúng hợp pháp để tổ chức các hội thảo, tọa đàm, diễn đàn có nội dung đòi hỏi đưa Hiến pháp 1992 trở về Hiến pháp năm 1946, trưng cầu ý dân về Ðiều 4 cũng như toàn bộ Hiến pháp, lập Tòa án Hiến pháp, thúc đẩy XHDS và thực hiện các quyền tự do dân chủ, tự do ngôn luận, báo chí, lập hội theo tiêu chí phương Tây, tư hữu hóa đất đai…
Nếu thực hiện các nội dung này theo ý đồ của họ thì chế độ XHCN thực tế sẽ không còn tồn tại ở Việt Nam. Ðây là phương thức đấu tranh công khai rất nguy hiểm, nếu không cảnh giác có thể sẽ giúp các thế lực thù địch lợi dụng các tổ chức XHDS để đưa ra những kiến nghị nhằm thay đổi thể chế, thay đổi hệ thống luật pháp XHCN bằng luật pháp dân chủ, tư sản.
Ðể góp phần phòng, chống âm mưu và hoạt động tác động hình thành XHDS theo tiêu chí phương Tây, chúng ta cần đề cao cảnh giác trước các âm mưu và hoạt động tác động hình thành XHDS của các thế lực thù địch, đặc biệt là tác động, ảnh hưởng của vấn đề này đối với an ninh quốc gia. Bên cạnh việc tăng cường công tác nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn, cần thường xuyên tổ chức, tiến hành các hoạt động tuyên truyền về âm mưu, ý đồ của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề XHDS để tác động chuyển hóa chính trị.
Ðảng, Nhà nước cần ban hành các chủ trương, chính sách, xây dựng hệ thống văn bản pháp luật phù hợp, điều chỉnh hoạt động của các tổ chức chính trị, xã hội phù hợp với định hướng phát triển đất nước. Cùng với việc nghiêm túc thực hiện các chủ trương, chính sách của Ðảng, pháp luật của Nhà nước về tổ chức, hoạt động của các hội, đoàn thể cần tiếp tục nghiên cứu, đề xuất đổi mới công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này, sao cho phù hợp với đặc điểm kinh tế – xã hội, truyền thống văn hóa Việt Nam. Ðồng thời tăng cường công tác quản lý các tổ chức xã hội, không để các thế lực thù địch lợi dụng.
Trong bối cảnh các tổ chức xã hội đang có xu hướng ngày càng phát triển, cần thường xuyên nắm chắc tình hình, diễn biến hoạt động của các tổ chức này nhằm phát hiện kịp thời những vấn đề phức tạp có liên quan đến an ninh quốc gia để chủ động xây dựng các biện pháp, giải pháp đấu tranh phòng, chống hiệu quả. Ðặc biệt, cần kiên quyết xử lý các hành vi hoạt động vi phạm pháp luật, đồng thời tăng cường đối thoại, tiếp xúc, cảm hóa, không để các thế lực thù địch lôi kéo nhằm thực hiện ý đồ chống đối từ bên trong…