Chủ Nhật, 21 tháng 1, 2018

Tác động của “diễn biến hòa bình” tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”


V.Ng.T.Psy.11.35E
          Nhiều bạn đọc thắc mắc rằng “diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có liên quan gì tới nhau, chúng tác động tới nhau như thế nào. Chúng tôi xin gửi tới bạn đọc một số thông tin.
Các chuyên gia đã chỉ ra rằng, “diễn biến hòa bình” là yếu tố cơ bản thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đối với cách mạng Việt Nam, việc các thế lực thù địch thực hiện “diễn biến hòa bình” chính là nhằm đẩy nhanh tiến độ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ nước ta. Việc thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” được chúng thực hiện trên tất cả các lĩnh vực, với mọi cá nhân, tổ chức, nhất là đối với cán bộ, đảng viên, hòng làm chuyển hóa từ nội bộ Đảng, tiến tới chuyển hóa chế độ sang chiều hướng tư bản chủ nghĩa một cách “êm thấm, hòa bình”. Có thể hiểu “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là kết quả logic, là hệ quả trực tiếp của “diễn biến hòa bình”.
Nhìn vào thực tiễn có thể thấy, một trong những đòn tiến công quan trọng của “diễn biến hòa bình” là nhằm phá hoại về chính trị, tư tưởng, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Biểu hiện của đòn tiến công này là các thế lực thù địch luôn chú trọng khoét sâu những sai lầm, khuyết điểm trong lãnh đạo, duy trì kỷ luật của các tổ chức đảng. Chẳng hạn, chúng lợi dụng việc Đảng ta xử lý các cán bộ, đảng viên sai phạm, suy thoái về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống trong thời gian vừa qua để rêu rao, bịa đặt rằng Đảng ta “thanh trừng nội bộ”, “đấu đá lẫn nhau” v.v.. hòng hướng lái dư luận, gieo rắc tâm lý hoài nghi trong nhân dân về mục tiêu, ý nghĩa của việc kỷ luật Đảng. Các thế lực thù địch cũng đã tập trung mạnh vào việc xuyên tạc nền tảng lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xuyên tạc chế độ XHCN ở nước ta, hòng làm “tan rã lý tưởng và niềm tin”, gây ra “khủng hoảng về ý thức hệ” trong Đảng và nhân dân. Mặt khác, chúng không ngừng tạo dựng, cấu kết những phần tử ly khai, bất mãn, cơ hội chính trị, hòng hình thành những tổ chức, lực lượng đối lập về chính trị để tiến tới tranh giành quyền lãnh đạo với Đảng Cộng sản Việt Nam. Những chiêu trò này sẽ hỗ trợ cho tiến trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” diễn ra nhanh hơn.
Khi “diễn biến hòa bình” tác động bằng những mưu mô, thủ đoạn đa dạng, phức tạp, sẽ gây nhiều khó khăn cho chúng ta trong việc nhận biết, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Tính đa dạng, đa chiều, thể hiện trên nhiều lĩnh vực của “diễn biến hòa bình” khiến chúng ta gặp khó khăn trong phân định đâu là “diễn biến hòa bình”, đâu là “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, đâu là những hạn chế, khuyết điểm hoặc đâu là ảnh hưởng, tác động của “diễn biến hòa bình” tới sai phạm của cán bộ, đảng viên. Sự khó khăn trong nhận thức có thể sẽ dẫn đến lúng túng trong xác định quan điểm, nội dung, biện pháp phòng, chống “diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Vì vậy, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” phải gắn thật chặt với phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Phải kết hợp chặt chẽ các biện pháp giữa đấu tranh với các thế lực thù địch với giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên. Dứt khoát phải xây dựng cho được đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, tài năng, tận tâm tận lực với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc thì mới tạo dựng và giữ vững được thành trì niềm tin trong nhân dân. Đó cũng là thành trì mà không thế lực thù địch nào có thể xuyên phá./.

NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÒNG, CHỐNG TÁC ĐỘNG CỦA CHIẾN TRANH TÂM LÝ TRONG “DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH”


         Q.Ng.T.Psy.11.35E
Tập trung tiến công nhằm xoá bỏ CNXH ở Việt Nam được xác định là một trọng điểm mà chủ nghĩa đế quốc, các thế lực thù địch đang ra sức tiến hành, “diễn biến hoà bình” mũi nhọn là chiến tranh tâm lý để tiến công đất nước ta. Các thông tin xuyên tạc, vu cáo, bịa đặt, nói xấu Đảng, nói xấu chế độ, các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng thứ “vũ khí hữu hiệu nhất” như báo viết, đài phát thanh, truyền hình, mạng Internet…để tuyên truyền kích động quần chúng nhân dân xa rời mục tiêu, lý tưởng của Đảng, thậm chí chống Đảng, chống chế độ, làm chuyển biến, thay đổi, chệch hướng XHCN, nhằm loại bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và con đường đi lên CNXH. Tính chất nóng bỏng chiến tranh tâm lý trong “diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đòi hỏi chúng ta phải tích cực nghiên cứu, tìm ra những biện pháp nâng cao hơn nữa hiệu quả phòng, chống cuộc chiến tranh này.
Biện pháp chủ động nhất, cơ bản nhất là trên cơ sở xây dựng một nền tảng chính trị tư tưởng vững chắc, tự xây dựng, chuẩn bị khả năng chống lại các tác động của chiến tranh tâm lý, đòi hỏi người làm công tác giáo dục chính trị tư tưởng không chỉ cần có một hệ thống kiến thức sâu rộng, lập trường, quan điểm kiên định, vững vàng mà còn phải sắc sảo, nhạy bén trong tư duy, thái độ kiên quyết, ý chí dũng cảm mới có khả năng nhận diện và biết cách đấu tranh loại bỏ những quan điểm sai trái, tìm ra những hình thức giáo dục sinh động, có sức thuyết phục cao để quần chúng giác ngộ sâu sắc, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, lý tưởng XHCN, đấu tranh, phê phán, bác bỏ những luận điệu tuyên truyền phản động, kịp thời vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn chiến tranh tâm lý của kẻ thù, những kẻ đội lốt cách mạng, giả danh yêu nước, thương nòi để chống phá cách mạng, phản bội lại lợi ích của đất nước, dân tộc, hùa theo những luận điệu tuyên truyền của chủ nghĩa đế quốc.
Trong thế trận tiến công kẻ thù, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải thực sự là những người đi tiên phong, với quyết tâm bảo vệ trận địa tư tưởng của Đảng. Cùng với sự mẫu mực về đạo đức, lối sống, họ phải có khả năng cảm hoá, thuyết phục, hướng dẫn, lôi cuốn mọi tầng lớp nhân dân tham gia cuộc đấu tranh này, đặc biệt là kẻ thù từ bên trong, tiếp sức, dẫn dắt “vi trùng” “diễn biến hoà bình” xâm nhập vào các cá nhân, tập thể. Đây cũng là mầm mống của nguy cơ “tự diễn biến”, nguy cơ mà chúng ta không thể xem thường, cuộc đấu tranh kiên quyết chống các hiện tượng tiêu cực, các tệ nạn xã hội phải được coi là việc làm thường xuyên của các cấp, các ngành, của toàn xã hội phải có sự phối hợp, hiệp đồng rất chặt chẽ, đòi hỏi toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta phải có nỗ lực và quyết tâm cao, có những chủ trương chiến lược lâu dài lẫn sách lược cụ thể, trước mắt, cả biện pháp cơ bản và biện pháp có tính chất tình thế.
Đứng trước thực trạng một bộ phận trẻ tuổi có biểu hiện thờ ơ, coi nhẹ, chiến tranh tâm lý của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đã và đang triệt để lợi dụng nhằm khoét sâu vào điểm yếu này. Hiện sự lan tràn của văn hoá phương Tây với những phương tiện truyền tải rất hiện đại và sinh động đã, đang tạo ra cái diện mạo hào nhoáng bề ngoài có sức cuốn hút mạnh mẽ, nhất là với giới trẻ. Vì vậy cần chú trọng hơn tới chất lượng của giáo dục truyền thống, làm cho mọi người hiểu rõ, biết trân trọng giữ gìn, kế thừa và tiếp tục phát triển những giá trị của truyền thống lên tầm cao mới. Đây có thể coi là cái vốn quý giá, tăng cường thêm khả năng “miễn dịch” trước các tác động của chiến tranh tâm lý.
Phòng, chống các tác động của chiến tranh tâm lý trong “diễn biến hoà bình” thực sự là một cuộc đấu tranh quyết liệt, diễn ra trên nhiều bình diện khác nhau của cuộc sống xã hội. Cần làm cho mọi người nhận thức đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của chiến tranh tâm lý , từ đó chủ động, tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh này./.

Không thể xuyên tạc, phủ nhận mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội


Ng.T.H. Psy.11.35E.
Cũng như trước đây, hiện nay và trong những năm tới, các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội đang và sẽ ráo riết tìm mọi cách xuyên tạc, phủ nhận mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội (CNXH) mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.
Họ đòi chúng ta “lựa chọn lại” mục tiêu, con đường mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn; đòi chúng ta phải từ bỏ con đường CNXH, muốn đất nước ta lùi về giai đoạn dân chủ nhân dân, đòi đổi tên Đảng, tên nước, công khai hô hào đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Họ lập luận rằng, đường lối phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa là chắp vá, là không tưởng. Gần đây, họ cho rằng, con đường mà Việt Nam muốn đi là thứ chủ nghĩa tư bản theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhưng con đường này không thể thành công vì không thể nào giải quyết thỏa hiệp giữa hai chủ nghĩa đối lập nhau!
Thực hiện mưu đồ này, chúng ra sức bôi đen CNXH hiện thực, bác bỏ con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, công khai ca ngợi chế độ tư bản chủ nghĩa và ra sức cổ súy, tô son, trát phấn cho chủ nghĩa tư bản, rằng chủ nghĩa tư bản đã thay đổi bản chất, chủ nghĩa tư bản có thể hội tụ với CNXH trong thời đại hậu công nghiệp, văn minh tin học!
Họ lấy một số khuyết điểm, yếu kém của ta về quản lý kinh tế, quản lý xã hội để quy chụp cho bản chất của CNXH, xuyên tạc rằng, ở nước ta không có CNXH. Trong khi nước ta đang ở trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH, họ lại đòi hỏi những nhân tố của CNXH phải xuất hiện đầy đủ ngay ở nước ta. Tiến công vào đường lối của Đảng, các thế lực thù địch cho rằng, phải phát triển chủ nghĩa tư bản dưới sự lãnh đạo của Đảng, giải quyết những vấn đề xã hội ở chừng mực nào đó theo CNXH dân chủ!
Những luận điệu nói trên của các thế lực thù địch và những kẻ cơ hội không có mục đích nào khác là gây sự hoài nghi; phá vỡ sự đồng thuận xã hội, làm suy giảm niềm tin của nhân dân ta đối với mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước; tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, đưa nước ta đi vào con đường tư bản chủ nghĩa. Chính vì vậy, việc đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch; củng cố, giữ vững sự kiên định niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta vào mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH là nhiệm vụ vô cùng quan trọng của cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên mặt trận tư tưởng, lý luận ở nước ta hiện nay.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục khẳng định: “Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH-ngọn cờ vinh quang mà Chủ tịch HCM đã trao lại cho thế hệ hôm nay và mai sau. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện CNXH và CNXH là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc”(1). Đây là một sự tổng kết lịch sử cách mạng Việt Nam, vạch rõ nguồn gốc sâu xa mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đồng thời, chỉ rõ mục tiêu, lý tưởng mà toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phải tiếp tục kiên định trong suốt thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam.
Hơn 87 năm qua, đó là khoảng thời gian đủ để mỗi người Việt Nam kiểm nghiệm và rút ra kết luận về sự đúng đắn, sáng tạo của mục tiêu, con đường độc lập dân tộc và CNXH mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lựa chọn. Nhìn lại lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, độc lập dân tộc và CNXH đã được Đảng ta xác định là mục tiêu, là cái đích phải đến của cách mạng Việt Nam ngay từ Cương lĩnh Chính trị đầu tiên của Đảng (1930).
Giải quyết đúng đắn mối quan hệ gắn kết chặt chẽ giữa độc lập dân tộc và CNXH trong từng thời kỳ cách mạng là nét độc đáo, sáng tạo, thể hiện bản lĩnh và trí tuệ của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ở mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ lịch sử, căn cứ vào tình hình của thế giới, khu vực và đất nước, căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng; trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định rõ đường lối, nhiệm vụ để thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH phù hợp với yêu cầu của lịch sử. Trước những biến cố của lịch sử trong những thập niên 90 của thế kỷ 20, công cuộc cải cách, cải tổ, đổi mới CNXH đã trở thành một đòi hỏi tất yếu nhằm khắc phục những hạn chế, khiếm khuyết, sai lầm trong quá trình xây dựng CNXH ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu.
Trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, Đảng ta khẳng định, đổi mới không phải là từ bỏ mục tiêu CNXH mà chính là để đạt mục tiêu đó một cách có hiệu quả bằng những phương pháp, bước đi thích hợp, phù hợp với quy luật để nhanh chóng đưa đất nước thoát  khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Trong thời kỳ mới, Đảng ta xác định độc lập dân tộc và CNXH tiếp tục là kim chỉ nam cho sự nghiệp đổi mới đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Đi lên CNXH là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch HCM, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử. Độc lập dân tộc và CNXH là hai mặt của một quá trình thống nhất biện chứng của sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Đương nhiên, hành trình đi tới mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH thực hiện dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, cùng với những thời cơ, thuận lợi mới, chúng ta vẫn còn gặp phải những khó khăn, thách thức mới.
V.I.Lê-nin đã từng căn dặn những người cộng sản, không bao giờ được chán nản hoặc rơi vào tuyệt vọng. Cần phải kiên định con đường đã chọn, biết củng cố, nuôi dưỡng niềm tin vào thắng lợi ngay cả trong những thời điểm, những hoàn cảnh khó khăn nhất. Trong mọi hoàn cảnh, mọi tình huống, phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; không bi quan, dao động, mất niềm tin trước những khó khăn, thử thách. Phải nhạy cảm nắm bắt cái mới, giữ vững nguyên tắc chiến lược, đồng thời, phải linh hoạt, mềm dẻo về sách lược, theo phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” để thực hiện mục tiêu, con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới đất nước vì độc lập dân tộc và CNXH, xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.

Thứ Năm, 18 tháng 1, 2018

VỮNG TIN TƯ DUY CỦA ĐẢNG TA VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CHỦ ĐỘNG VÀ TÍCH CỰC HỘI NHẬP QUỐC TẾ


Ch.Th.M. Psy.34E

Ngày nay, trong thế giới luôn luôn có biến động không ngừng, xu thế hội nhập, toàn cầu hoá đang nổi lên chiếm vị trí chủ đạo khuynh hướng phát triển của thế giới hiện nay. Mỗi quốc gia đều hiểu rằng không thể đứng ngoài xu thế phát triển chung của thế giới hội nhập mở cửa đồng nghĩa hòa nhập trong xu thế đi lên của xã hội loài người; Việt Nam chúng ta cũng không thể đứng ngoài mục đích này. 
     Qua hơn 30 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta luôn giải quyết tốt mối quan hệ giữa giữ vững độc lập, tự chủ, tích cực, chủ động hội nhập quốc tế. Hiện nay, Nhà nước ta đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược, đối tác tác toàn diện với nhiều đối tác quan trọng trên thế giới góp phần tạo nên những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của đất nước. 
      Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, đặc biệt từ sau khi thực hiện đường lối đổi mới đất nước (1986) Đảng ta luôn chú trọng lãnh đạo nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Từ “muốn là bạn” (Đại hội VII, VIII), “sẵn sàng là bạn” (Đại hội IX), “là bạn và đối tác tin cậy” (Đại hội X), Đại hội XI bổ sung thêm “thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”. Đại hội Đảng lần thứ XII luôn nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đã bổ sung “Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”. Nội hàm này thể hiện bước trưởng thành của ngoại giao Việt Nam với sự tham gia ngày càng tích cực, chủ động, có trách nhiệm của nước ta tại các cơ chế, tổ chức, diễn đàn khu vực, đa phương và toàn cầu (ngoại giao đa phương), góp phần củng cố, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại đa phương, ưu tiên “xây dựng Cộng đồng ASEAN vững mạnh”. Tuy vậy, trách nhiệm bao gồm những gì, thực hiện trách nhiệm như thế nào luôn cần được tính toán kỹ trên cơ sở bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, năng lực thực hiện của ta trong từng vấn đề, từng giai đoạn. Trách nhiệm cần được xác định theo các cấp độ: trách nhiệm đối với dân tộc của mình; trách nhiệm đối với khu vực của mình; trách nhiệm đối với những vấn đề chung của nhân loại. 
       Hiện nay, trong xã hội chúng ta vẫn còn một số ít con người có những cái nhìn phiến diện, luôn tìm cách chống phá xuyên tạc đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta trong điều kiện hiện nay, họ cho rằng “Trong thời đại của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, không cần và không thể duy trì, củng cố độc lập dân tộc, tự chủ, chủ quyền quốc gia” 
       Quan điểm trên hoàn toàn sai trái, chúng ta phải kiên quyết đấu tranh làm thất mọi âm mưu, hành động chông phá của các thế lực thù địch. Bởi lẽ: Trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sẽ cho chúng ta nhiều cơ hội nhưng cũng không ít những thách thức trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hội nhập quốc tế trên tất cả các lĩnh vực mang đến cho chúng ta nhiều cơ hội, nhất là khả năng tranh thủ hiệu quả hơn các nguồn lực bên ngoài. Cùng với hội nhập kinh tế, hội nhập trong các lĩnh vực khác sẽ tạo cơ hội lớn hơn trong tiếp cận tới tri thức tiên tiến của nhân loại, gia tăng mức độ đan xen lợi ích, từng bước làm cho đất nước trở thành bộ phận hữu cơ của khu vực và thế giới, chiếm vị trí ngày càng cao trong nền kinh tế, chính trị, văn hóa toàn cầu. Tuy nhiên, cũng  đặt ra cho chúng ta một số thách thức mới. Những bất ổn không chỉ về kinh tế mà cả về an ninh, chính trị, xã hội từ bên ngoài sẽ nhanh chóng tác động tới nước ta; các loại tội phạm xuyên biên giới và các thách thức an ninh phi truyền thống khác có thể phương hại đến an ninh quốc gia, từ an ninh kinh tế đến an ninh chính trị - xã hội. 
       Chúng ta có thể hiểu rằng, một nền kinh tế độc lập tự chủ trong bối cảnh toàn cầu hoá có thể được hiểu là nền kinh tế có khả năng thích ứng cao với những biến động của tình hình quốc tế và ít bị tổn thương trước những biến động đó; trong bất cứ tình huống nào nó cũng có thể cho phép duy trì được các hoạt động bình thường của xã hội, phục vụ đắc lực cho các mục tiêu an ninh, quốc phòng của đất nước. Vì vậy vấn đề độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia là vấn đề rất quan trọng quyết định sự tồn vong của đất nước ta trước đây, hiện nay. 
      Nhìn lại những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới nói chung, của mặt trận đối ngoại nói riêng trong những năm qua, với những phát triển mới trong đường lối đối ngoại Đại hội XII của Đảng ta đã xác định, chúng ta vững tin vào tư duy trí tuệ, bản lĩnh chính trị của Đảng ta. Chắc chắn rằng, sự nghiệp đối ngoại dưới sự lãnh đạo của Đảng sẽ tiếp tục thu được những thắng lợi mới. Tiếp tục khảng định vị thế nước ta trên tường quốc tế. 

MỘT CON BUÔN “DÂN CHỦ”


K’Sor H
      Nguyễn Văn Đài xuất thân trong gia đình viên chức “có công cách mạng”, thi trượt đại học được cha đẻ chạy chọt được suất đi “xuất khẩu lao động” ở Đông Đức, chứng kiến “bức tường Berlin sụp đổ” đã trở thành tiềm thức dẫn anh ta đến con đường “con buôn chính trị” sau này. Về nước, Đài từng mơ giấc mơ trở thành Đai biểu Quốc hội khóa XI nhưng bị loại ngay từ vòng gửi xe.
    Về nước, lại nhờ tài luồn lách của cha đẻ là cán bộ Đội xe của Bộ Giáo dục và Đào tạo mà Đài – chẳng thi cử gì, theo khe cửa hẹp vẫn đường hoàng đi học lớp “hệ mở rộng” trường Đại học Luật, rồi “nhờ thời”, hình thức học đó bị bãi bỏ, Đài đường hoàng trở thành sinh viên chính quy trường Đại học Luật Hà Nội. Ra trường, tài năng chuyên môn không có, không có cửa vào Đoàn luật sư Hà Nội, Đài lại lắt léo đi “vùng sâu vùng xa”, lọt vào Đoàn Luật sư tỉnh Vĩnh Phúc rồi vòng về Đoàn Luật sư Hà Nội bằng cửa hậu, trở thành Trưởng văn phòng Luật sư Thiên Ân tại số 10 Đoàn Trần Nghiệp, biến đây thành “tổng hành dinh” thực hiện các phi vụ kiếm bộn tiền nhờ các “giao dịch đấu tranh dân chủ”.
    Tháng 4 năm 2004, cùng với 11 luật sư khác, Nguyễn Văn Đài thành lập nhóm “Luật sư Vì Công lý”. Tuy nhiên, sau đó, cả 11 người này đều rút tên vì sợ bị tước giấy phép hành nghề, cho thấy với trình độ của Đài, ông ta tự biết con đường làm thủ lĩnh giới luật sư chống đối thì không đủ tầm. Nhờ giao dịch dân sự liên quan đến các tín đồ Tin Lành hoạt động bất hợp pháp nhưng được Mỹ bảo trợ, Đài nhanh chóng nhận thấy món lời cả về kinh tế lẫn chính trị, Đài đã nhanh chóng gia nhập Đạo Tin Lành, trở thành người nắm quỹ và có quan hệ mật thiết với các “nhà từ thiện nước ngoài” cũng như Đại sứ quán Mỹ, từ đây ngày càng dấn sâu vào con đường “đấu tranh dân chủ” như một “lộ trình” bị sắp đặt.
    Theo một bài viết của Bill Hayton trên BBC, thì kể từ sau lần bào chữa tín đồ Tin Lành năm 2004, Nguyễn Văn Đài “trở thành một trong số ít những nguồn tin chính về những gì đã xảy ra với phong trào bất đồng chính kiến ở Việt Nam”. Cũng theo bài này, thì vì thấy Đài hoạt động quá lâu mà không bị bắt như những thân chủ của ông, nhiều người còn nghĩ rằng Đài là người của cơ quan an ninh. Trong khi đó, báo Công an Nhân dân cho rằng vì là một luật sư đối lập theo đạo Tin lành, Đài đã được nhiều chính phủ phương Tây trọng vọng, và trở thành một trung gian giữa họ và phong trào zân chủ Việt Nam: “Với mác “đạo Tin lành”, Nguyễn Văn Đài còn được hẹn thường xuyên gặp gỡ, tiếp xúc với một số nhân viên sứ quán nước ngoài tại Hà Nội, thậm chí có lần Đài còn được mời đến nhà riêng Đại sứ nước M. để ăn cơm, tiếp kiến(?), tạo điều kiện cho Đài tìm chỗ dựa để núp bóng. Cũng nhờ “mác” này, mà Đài được mời sang Mỹ tham dự chương trình “Khách thăm quốc tế” (International Visitor Program – IVP) với chủ đề khá thời thượng “Những nhà hoạt động dân chủ cơ sở” thời gian ở Mỹ hơn một tháng (từ 10/1 đến 23/2/2006)”.
   Về nội dung của chuyến đi này và tác động của nó đối với hoạt động của ông Đài, một bài viết trên báo An ninh Thế giới có đoạn sau: “Sau chuyến đi Mỹ tham dự chương trình IVP, được học tập với những nội dung nhằm “thúc đẩy sự hiểu biết về hình thức dân chủ của Mỹ”, cách thức tìm kiếm tài trợ và lập các tổ chức chính trị cơ sở…, Nguyễn Văn Đài đã viết một loạt bài “Quyền tự do thành lập đảng”, “Dân trí và dân chủ”, “Xã hội dân sự ở Việt Nam”… và được BBC sử dụng nhiều lần để chuẩn bị dư luận và tạo “cú hích” cho việc hình thành và công khai hóa các tổ chức chính trị đối lập ở Việt Nam”.
   Từ đây, Đài trở thành mắt xích thực thi chiến lược của ông chủ giàu xụ vào Việt Nam. Những gì mà báo chí trong nước đưa tin Đài cùng một lúc nhận lương từ cả mớ các tổ chức chống cộng hải ngoại như Việt Tân, “Họp mặt dân chủ” của Vũ Quốc Dụng, Vũ Thư Hiên, Phạm Nam Định, “Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam” và “Ủy ban Cứu trợ Thuyền nhân Việt Nam” của Vũ Quốc Dụng và Nguyễn Đình Thắng, Ủy ban Bảo vệ Người Lao động Việt Nam của Trần Ngọc Thành …; tham gia hầu hết các “dự án” của những tổ chức trên ở VN như “Khối 8406” của Nguyễn Văn Lý, Đỗ Nam Hải (phía sau là Việt Tân), “Công đoàn độc lập” do Đài làm thủ lĩnh (đứng sau là Trần Ngọc Thành ở Ba Lan), “Đảng Dân chủ VN” của ông Hoàng Minh Chính (đứng sau là Đảng Nhân dân hành động của Nguyễn Sỹ Bình, Nguyễn Xuân Ngãi thời đó), Ủy ban Nhân quyền Việt Nam và Hãng tin Tự do (FNA) do Đài điều hành (đứng sau cấp tiền là tổ chức BPSOS của Nguyễn Đình Thắng, “Họp mặt dân chủ” và “Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam”, “Ủy ban Cứu trợ Thuyền nhân Việt Nam” của Vũ Quốc Dụng, Phạm Nam Định, “Ủy ban Tự do Tôn giáo cho Việt Nam” do Ngô Thị HIền cầm đầu và đặc biệt là nhân viên ĐSQ Mỹ )… Có thể nói, mỗi việc Đài làm đều có “dự án” không chỉ từ một mà một vài “ông chủ” đầu tư, cấp vốn. Ví dụ như ngay việc mở lớp học chính trị cho học sinh sinh viên tại Văn phòng luật sư Thiên Ân, ngoài tài chính cấp trực tiếp từ Vũ Quốc Dụng, Đài còn nhận nguồn khác từ Quỹ Quốc gia Hỗ trợ Dân chủ (NED) của Chính phủ Mỹ!.
    Cái tài làm “con buôn dân chủ” của Đài là cùng một lúc nhận tiền của nhiều tổ chức chống cộng, bất kể chúng mâu thuẫn và ngược đường với nhau và cùng nhận tiền từ các tổ chức như NED của Mỹ, ai cùng hài lòng khi “mua hàng” từ Đài và “đầu tư” cho Đài! Bởi vậy có thể nói, lần nào công an khám nhà Đài cũng thu được mớ hóa đơn và sổ sách tài chính, mớ dự án đã và đang triển khai dang dở. Đó chỉ là “phần nổi” của tảng băng “tập đoàn con buôn dân chủ” của Nguyễn Văn Đài, bởi nhìn khối bất động sản mà Đài tay không bắt giặc có được, khối nhà zân chủ Việt thèm dỏ dãi, tài múa bút siêu đẳng và lao động vất vả cho hàng chục tờ báo, hãng tin hải ngoại như Trần Khải Thanh Thủy còn gọi bằng cụ tổ!
    Hiện vụ án Hội Anh em dân chủ chưa được báo chí trong nước “bạch hóa” và hồ sơ vụ án chưa trưng bày do chưa đem ra xử, nhưng chắc chắn, việc Đài dẫn theo cả dàn bậu xậu với quy mô và tổ chức chặt chẽ khiến Nguyễn Quang A phải nể phục của Hội Anh em dân chủ, khiến công an phải tặng cho Đài và đội ngũ Điều 79 BLHS, chứ không phải là Điều 88 BLHS như trước, chứng tỏ, cái tài và cái tầm “con buôn dân chủ” của Đài đã tiến đến nấc thang mới về đẳng cấp.
K’Sor H (Tổng hợp từ Internet và Trelang.blog.spot/loa phuong)

Từ bỏ chủ nghĩa xã hội là một sai lầm


Ng.Th.H. Psy.11.35
Sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Liên Xô và các nước Đông Âu cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 là một cơn động đất chính trị lớn của thế kỷ 20. Nó có ảnh hưởng lớn không chỉ đối với thế giới XHCN và độc lập dân tộc mà còn cả đối với thế giới tư bản chủ nghĩa.
Các ông trùm chiến lược, chiến lược gia và chính khách cỡ bự của chủ nghĩa tư bản đều hoan hỷ ăn mừng rằng đây là hồi chuông báo tử, rằng chủ nghĩa xã hội (CNXH) sẽ diệt vong vào cuối thế kỷ 20. Ta nhận định hoàn toàn ngược lại. Sự sụp đổ ở Liên Xô và các nước Đông Âu kéo theo thoái trào của phong trào cộng sản và công nhân thế giới là một tổn thất lớn, nhưng đó là tạm thời chứ không phải tất yếu, tin rằng, các nước XHCN còn lại sẽ giữ vững trận địa, đảng cộng sản và công nhân sẽ khôi phục hoạt động trong điều kiện mới, và xu thế XHCN sẽ tiếp tục đi dưới hình thức này hay hình thức khác.
Câu trả lời bước đầu đã có vào cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21. CNXH không hề diệt vong. Các nước XHCN còn lại không những giữ vững trận địa mà còn định hướng vững vàng cho sự phát triển tiến lên. Từ vùng Trung-Nam Mỹ đã phát sinh phong trào XHCN kiểu Mỹ Latinh, khởi đầu từ Venezuela rồi lan ra một số nước khác... Chủ nghĩa tư bản thế giới không thể chứng minh được rằng nó là lực lượng thống trị toàn cầu và xã hội tư bản là xã hội tốt đẹp cuối cùng của loài người. Ngay giữa lúc thế giới tư bản chủ nghĩa huênh hoang về sức sống dài lâu của nó cũng lâm vào khủng hoảng cục bộ, rồi đến khủng hoảng toàn diện hơn, kể từ năm 2008 đến nay, vẫn còn chưa hoàn toàn hồi phục. Thế giới từ lưỡng cực thành đơn cực, rồi nay lại thành đa cực. Các nước thuộc các chế độ chính trị, xã hội khác nhau đều tham gia "toàn cầu hóa" và "hội nhập quốc tế", vừa cạnh tranh, vừa hợp tác dưới nhiều cung bậc khác nhau.
Quan điểm "phê phán quan điểm cho rằng CNXH sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu, vì thế Việt Nam không nên và không thể gắn liền mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH" không phải bây giờ mới có mà đã có từ lâu, từ sau khi CNXH ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ. Nhưng từ đó đến nay, những kẻ chống đối không còn nói nhẹ nhàng như thế, họ thẳng thừng đòi "Đảng Cộng sản Việt Nam tự giác và chủ động thay đổi Cương lĩnh, từ bỏ đường lối sai lầm về xây dựng CNXH, chuyển hẳn sang đường lối dân tộc và dân chủ, trọng tâm là chuyển đổi thể chế chính trị từ toàn trị sang dân chủ một cách kiên quyết nhưng ôn hòa...". Và đến thời điểm chúng ta đang tiến hành "phê phán các quan điểm sai trái, xuyên tạc cuộc đấu tranh chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ", có người mang danh đảng viên, còn ngạo mạn nói rằng, trong lựa chọn đường lối, Đảng ta đã sai lầm không chỉ từ Hội nghị thành lập Đảng (năm 1930) mà là từ Hội nghị Tua (năm 1921). Ý tứ đằng sau những giọng điệu ấy là gì, chắc mỗi người chúng ta đều biết.
Với quan điểm ấy, họ đã sai lầm ít các quan điểm sau đây: Về sự sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu:
Thứ nhất: Sự sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu là sự sụp đổ của một mô hình xây dựng CNXH, chứ không phải sự sụp đổ của CNXH nói chung, với tư cách là một nấc thang phát triển của xã hội loài người, theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin.
Thứ hai: Chế độ Xô viết ngay từ lúc mới ra đời ở Nga sau Cách mạng Tháng Mười (năm 1917) và sau này trên toàn Liên bang Xô viết, đã tỏ rõ được tính ưu việt so với các chế độ chính trị-xã hội trước đó. Chính quyền Xô viết thực sự là chính quyền của công-nông-binh và của nhân dân lao động nói chung. Nhờ tính ưu việt đó, nó đã đánh thắng cuộc chiến tranh can thiệp của các nước đế quốc sau Cách mạng Tháng Mười, lập lại hòa bình và xây dựng chế độ mới, thực hiện công nghiệp hóa và tập thể hóa nông nghiệp thành công, đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược của phát xít Đức-Nhật, dẫn tới sự ra đời của hệ thống XHCN thế giới. Vào thập niên 60 và 70 của thế kỷ 20 sự nghiệp xây dựng CNXH ở Liên Xô đạt được những thành công lớn, khiến cho Đảng và Nhà nước Xô viết ngộ nhận là CNXH đã xây dựng xong và chủ trương Liên Xô bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa cộng sản. Sự thật thì cũng thời gian đó, nhiều nhược điểm và khuyết tật trong nội bộ Nhà nước Xô viết cũng bắt đầu hé lộ, nhất là khi so sánh với những bước phát triển của hệ thống tư bản chủ nghĩa thời đó. Nếu vì sự sụp đổ sau này mà phủ nhận sạch trơn những gì chế độ Xô viết đã giành được là một sai lầm trong cách nhìn lịch sử.
Thứ ba: Vào những năm cuối thập niên 70, đầu thập niên 80 của thế kỷ 20, sau khi phát hiện sự chậm trễ của mình, Liên Xô đề ra chính sách cải tổ; các nước XHCN Đông Âu cũng đề ra cải cách. Cải tổ và cải cách nhằm mục tiêu tăng tốc về kinh tế và thực hiện chế độ dân chủ rộng rãi hơn. Sai lầm của Liên Xô và các nước Đông Âu lúc đó là đã sa vào chủ nghĩa đa nguyên, đa đảng đối lập, buông lỏng vai trò lãnh đạo của Đảng, gây hoang mang, dao động trong đông đảo quần chúng, dẫn đến hỗn loạn xã hội, khiến cho ở Đông Âu, chính quyền bị các thế lực thù địch cướp lấy, còn Liên Xô thì chia rẽ sâu sắc trong nội bộ lãnh đạo, cuối cùng chính quyền cũng lọt vào tay nhóm chống đối trong Bộ Chính trị, những kẻ chống chính quyền Xô viết từ rất sớm. Không thấy nguyên nhân trực tiếp của sự sụp đổ là ở đây, mà coi sự sụp đổ là tất yếu của chính quyền Xô viết cũng là sai lầm trong cách nhìn lịch sử.
Thứ tư: Bên cạnh những nguyên nhân chủ quan nêu trên (tuy chưa hết), còn có một nguyên nhân trực tiếp khác nữa là âm mưu và thủ đoạn trong chiến lược "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch đế quốc chủ nghĩa. Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, chúng đẩy mạnh chạy đua vũ trang. Trong khi lãnh đạo Liên Xô chủ trương thi đua hòa bình thì chúng một mặt đẩy mạnh chạy đua vũ trang, mặt khác đề ra chiến lược "diễn biến hòa bình" để xóa bỏ CNXH mà không cần chiến tranh và súng đạn. Liên Xô và nhiều nước khác đã sa vào cái bẫy này của chúng mà không tự giác phát hiện.
Về sự lựa chọn độc lập dân tộc gắn liền với CNXH ở Việt Nam.
Thứ năm: Đúng là ngay từ ngày mới thành lập, Đảng ta đã đề ra chủ trương "làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới chủ nghĩa cộng sản". Như cách nói ngày nay, đó là làm cách mạng giải phóng dân tộc, tiến lên làm cách mạng XHCN. Đường lối độc lập dân tộc gắn liền với CNXH được đề ra xuất phát từ thực tế tình hình nước ta lúc bấy giờ là thuộc địa của Pháp, cũng xuất phát từ xu thế phát triển có tính quy luật của thời đại mới sau Cách mạng Tháng Mười Nga là tiến lên CNXH. 87 năm qua, những chặng đường phát triển của cách mạng Việt Nam và những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đạt được đã chứng minh sự đúng đắn của đường lối này, cớ sao vì sự sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu mà phải từ bỏ nó?
Thứ sáu: Trong xây dựng CNXH, Việt Nam học tập kinh nghiệm của Liên Xô và các nước XHCN đi trước nhưng hoàn toàn không có sự sao chép. Mô hình xây dựng CNXH ở Việt Nam không phải là mô hình Xô viết của Liên Xô, bởi sự khác biệt cơ bản là ở chỗ, một bên là từ cơ sở của chế độ tư bản đi lên, một bên từ độc lập dân tộc đi lên. Bác Hồ từng nói: "Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”(1). CNXH đối với Bác, như ngày nay chúng ta vẫn nói, là dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Nhầm lẫn giữa mô hình xây dựng CNXH ở Việt Nam với mô hình Xô viết là một sự sai lầm lớn./.

Thắng lợi vẻ vang Kỷ niệm 45 năm “Cuộc đàm phán dài nhất lịch sử”


       Ng.Đ. N. Psy.11.35
Từ ngày đầu cuộc đàm phán đến tháng 9/1972, lập trường của Việt Nam luôn nhấn mạnh hai nội dung cơ bản, được coi là giải pháp “cả gói”: Mỹ phải rút quân hoàn toàn vô điều kiện ra khỏi miền Nam Việt Nam và phải xóa bỏ chính quyền Sài Gòn do Mỹ dựng lên, hai vấn đề này phải gắn chặt với nhau. Dự thảo Hiệp định lúc này, ta chủ động nhấn mạnh việc Mỹ phải rút quân hoàn toàn ra khỏi miền Nam, chấm dứt chiến tranh, song nới lỏng yêu cầu vấn đề chính trị ở miền Nam Việt Nam.
Để vượt qua cuộc tranh cử tổng thống vào tháng 11 năm 1972, Ních - xơn đã dùng thủ đoạn lùi bước trên bàn đàm phán và xuống thang chiến tranh để xoa dịu dư luận Mĩ. Đầu tháng 10/1972, phái đoàn đàm phán của Mĩ đã đến Paris để nối lại đàm phán. Các bên đã thỏa thuận ngày sẽ kí kết chính thức vào ngày 31/10/1972.
Ngay sau khi tái đắc cử tổng thống (08/11/1972), Ních-xơn đã trở mặt, chúng đòi xét lại bản Hiệp định đã được thỏa thuận, theo hướng có lợi cho chúng.
Để gây sức ép buộc ta phải nhượng bộ, Ních-xơn đã phê duyệt kế hoạch tập kích chiến lược bằng máy bay B52 vào Hà Nội và Hải Phòng vào cuối năm 1972.
Chúng bị quân dân ta đánh bại bằng một trận “Điện Biên Phủ trên không” và buộc phải trở lại bàn đàm phán.
Ngày 23/01/1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam đã được kí tắt; và ngày 27/01/1973 bản hiệp định được chính thức kí kết.
Ngày 02/3/1973, Hội nghị quốc tế về Việt Nam (gồm 12 nước) đã kí định ước ghi nhận và đảm bảo việc thi hành Hiệp định Paris.
Hiệp định Paris được thể hiện một số nội dung cơ bản như:  
Hoa Kì và các nước cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Hai bên ngừng bắn ở miền Nam vào lúc 24h00 ngày 27/01/1973 và Hoa Kì cam kết chấm dứt mọi hoạt động quân sự chống miền Bắc Việt Nam.      
Hoa Kỳ phải rút hết quân viễn chinh và quân chư hầu về nước, hủy bỏ hết các căn cứ quân sự, cam kết không tiếp tục dính líu hay can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam.  
Nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của họ thông qua tổng tuyển cử tự do, không có sự can thiệp của nước ngoài. 
Các bên thừa nhận thực tế ở miền Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát và ba lực lượng chính trị. Các bên ngừng bắn tại chỗ, trao trả cho nhau tù binh và dân thường bị bắt. 
Hoa Kỳ cam kết góp phần vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh ở Việt Nam và Đông Dương, thiết lập quan hệ bình thường cùng có lợi với Việt Nam.
Hiệp định Paris Là kết quả của cuộc đấu tranh kiên cường bất khuất của quân và dân ta trên cả hai miền đất nước. Buộc Mĩ phải thừa nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân ta. Đó là thắng lợi lịch sử quan trọng, tạo thời cơ thuận lợi để nhân dân ta tiến lên đánh sụp ngụy quyền, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Khi nghiên cứu lịch sử Việt Nam trải qua bao khó khăn thử thách mà Đảng và nhân nhân ta đã đoàn kết, đồng lòng vượt qua trong đó Hiệp định Paris lịch sử, chúng ta vô cùng xúc động và biết ơn vô hạn khi nghĩ đến đồng bào và chiến sĩ ta từ Nam chí Bắc đã chấp nhận mọi hy sinh dũng cảm chiến đấu để có được thắng lợi to lớn hôm nay, biết ơn Bác Hồ và cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Đảng. Lời cảm ơn sâu sắc bà con Việt kiều tại Pháp và các nước xung quanh, cảm ơn bạn bè quốc tế lúc bấy giờ đã hết lòng vì cuộc chiến đấu của chúng ta. Chúng ta thấy niềm tự hào vinh quang cùng với ân tình sâu đậm mà cả thế giới dành cho cuộc chiến đấu anh dũng của nhân dân ta. Vinh dự đó đối với chúng ta thật quá to lớn./.