Thứ Năm, 18 tháng 1, 2018

MỘT CON BUÔN “DÂN CHỦ”


K’Sor H
      Nguyễn Văn Đài xuất thân trong gia đình viên chức “có công cách mạng”, thi trượt đại học được cha đẻ chạy chọt được suất đi “xuất khẩu lao động” ở Đông Đức, chứng kiến “bức tường Berlin sụp đổ” đã trở thành tiềm thức dẫn anh ta đến con đường “con buôn chính trị” sau này. Về nước, Đài từng mơ giấc mơ trở thành Đai biểu Quốc hội khóa XI nhưng bị loại ngay từ vòng gửi xe.
    Về nước, lại nhờ tài luồn lách của cha đẻ là cán bộ Đội xe của Bộ Giáo dục và Đào tạo mà Đài – chẳng thi cử gì, theo khe cửa hẹp vẫn đường hoàng đi học lớp “hệ mở rộng” trường Đại học Luật, rồi “nhờ thời”, hình thức học đó bị bãi bỏ, Đài đường hoàng trở thành sinh viên chính quy trường Đại học Luật Hà Nội. Ra trường, tài năng chuyên môn không có, không có cửa vào Đoàn luật sư Hà Nội, Đài lại lắt léo đi “vùng sâu vùng xa”, lọt vào Đoàn Luật sư tỉnh Vĩnh Phúc rồi vòng về Đoàn Luật sư Hà Nội bằng cửa hậu, trở thành Trưởng văn phòng Luật sư Thiên Ân tại số 10 Đoàn Trần Nghiệp, biến đây thành “tổng hành dinh” thực hiện các phi vụ kiếm bộn tiền nhờ các “giao dịch đấu tranh dân chủ”.
    Tháng 4 năm 2004, cùng với 11 luật sư khác, Nguyễn Văn Đài thành lập nhóm “Luật sư Vì Công lý”. Tuy nhiên, sau đó, cả 11 người này đều rút tên vì sợ bị tước giấy phép hành nghề, cho thấy với trình độ của Đài, ông ta tự biết con đường làm thủ lĩnh giới luật sư chống đối thì không đủ tầm. Nhờ giao dịch dân sự liên quan đến các tín đồ Tin Lành hoạt động bất hợp pháp nhưng được Mỹ bảo trợ, Đài nhanh chóng nhận thấy món lời cả về kinh tế lẫn chính trị, Đài đã nhanh chóng gia nhập Đạo Tin Lành, trở thành người nắm quỹ và có quan hệ mật thiết với các “nhà từ thiện nước ngoài” cũng như Đại sứ quán Mỹ, từ đây ngày càng dấn sâu vào con đường “đấu tranh dân chủ” như một “lộ trình” bị sắp đặt.
    Theo một bài viết của Bill Hayton trên BBC, thì kể từ sau lần bào chữa tín đồ Tin Lành năm 2004, Nguyễn Văn Đài “trở thành một trong số ít những nguồn tin chính về những gì đã xảy ra với phong trào bất đồng chính kiến ở Việt Nam”. Cũng theo bài này, thì vì thấy Đài hoạt động quá lâu mà không bị bắt như những thân chủ của ông, nhiều người còn nghĩ rằng Đài là người của cơ quan an ninh. Trong khi đó, báo Công an Nhân dân cho rằng vì là một luật sư đối lập theo đạo Tin lành, Đài đã được nhiều chính phủ phương Tây trọng vọng, và trở thành một trung gian giữa họ và phong trào zân chủ Việt Nam: “Với mác “đạo Tin lành”, Nguyễn Văn Đài còn được hẹn thường xuyên gặp gỡ, tiếp xúc với một số nhân viên sứ quán nước ngoài tại Hà Nội, thậm chí có lần Đài còn được mời đến nhà riêng Đại sứ nước M. để ăn cơm, tiếp kiến(?), tạo điều kiện cho Đài tìm chỗ dựa để núp bóng. Cũng nhờ “mác” này, mà Đài được mời sang Mỹ tham dự chương trình “Khách thăm quốc tế” (International Visitor Program – IVP) với chủ đề khá thời thượng “Những nhà hoạt động dân chủ cơ sở” thời gian ở Mỹ hơn một tháng (từ 10/1 đến 23/2/2006)”.
   Về nội dung của chuyến đi này và tác động của nó đối với hoạt động của ông Đài, một bài viết trên báo An ninh Thế giới có đoạn sau: “Sau chuyến đi Mỹ tham dự chương trình IVP, được học tập với những nội dung nhằm “thúc đẩy sự hiểu biết về hình thức dân chủ của Mỹ”, cách thức tìm kiếm tài trợ và lập các tổ chức chính trị cơ sở…, Nguyễn Văn Đài đã viết một loạt bài “Quyền tự do thành lập đảng”, “Dân trí và dân chủ”, “Xã hội dân sự ở Việt Nam”… và được BBC sử dụng nhiều lần để chuẩn bị dư luận và tạo “cú hích” cho việc hình thành và công khai hóa các tổ chức chính trị đối lập ở Việt Nam”.
   Từ đây, Đài trở thành mắt xích thực thi chiến lược của ông chủ giàu xụ vào Việt Nam. Những gì mà báo chí trong nước đưa tin Đài cùng một lúc nhận lương từ cả mớ các tổ chức chống cộng hải ngoại như Việt Tân, “Họp mặt dân chủ” của Vũ Quốc Dụng, Vũ Thư Hiên, Phạm Nam Định, “Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam” và “Ủy ban Cứu trợ Thuyền nhân Việt Nam” của Vũ Quốc Dụng và Nguyễn Đình Thắng, Ủy ban Bảo vệ Người Lao động Việt Nam của Trần Ngọc Thành …; tham gia hầu hết các “dự án” của những tổ chức trên ở VN như “Khối 8406” của Nguyễn Văn Lý, Đỗ Nam Hải (phía sau là Việt Tân), “Công đoàn độc lập” do Đài làm thủ lĩnh (đứng sau là Trần Ngọc Thành ở Ba Lan), “Đảng Dân chủ VN” của ông Hoàng Minh Chính (đứng sau là Đảng Nhân dân hành động của Nguyễn Sỹ Bình, Nguyễn Xuân Ngãi thời đó), Ủy ban Nhân quyền Việt Nam và Hãng tin Tự do (FNA) do Đài điều hành (đứng sau cấp tiền là tổ chức BPSOS của Nguyễn Đình Thắng, “Họp mặt dân chủ” và “Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam”, “Ủy ban Cứu trợ Thuyền nhân Việt Nam” của Vũ Quốc Dụng, Phạm Nam Định, “Ủy ban Tự do Tôn giáo cho Việt Nam” do Ngô Thị HIền cầm đầu và đặc biệt là nhân viên ĐSQ Mỹ )… Có thể nói, mỗi việc Đài làm đều có “dự án” không chỉ từ một mà một vài “ông chủ” đầu tư, cấp vốn. Ví dụ như ngay việc mở lớp học chính trị cho học sinh sinh viên tại Văn phòng luật sư Thiên Ân, ngoài tài chính cấp trực tiếp từ Vũ Quốc Dụng, Đài còn nhận nguồn khác từ Quỹ Quốc gia Hỗ trợ Dân chủ (NED) của Chính phủ Mỹ!.
    Cái tài làm “con buôn dân chủ” của Đài là cùng một lúc nhận tiền của nhiều tổ chức chống cộng, bất kể chúng mâu thuẫn và ngược đường với nhau và cùng nhận tiền từ các tổ chức như NED của Mỹ, ai cùng hài lòng khi “mua hàng” từ Đài và “đầu tư” cho Đài! Bởi vậy có thể nói, lần nào công an khám nhà Đài cũng thu được mớ hóa đơn và sổ sách tài chính, mớ dự án đã và đang triển khai dang dở. Đó chỉ là “phần nổi” của tảng băng “tập đoàn con buôn dân chủ” của Nguyễn Văn Đài, bởi nhìn khối bất động sản mà Đài tay không bắt giặc có được, khối nhà zân chủ Việt thèm dỏ dãi, tài múa bút siêu đẳng và lao động vất vả cho hàng chục tờ báo, hãng tin hải ngoại như Trần Khải Thanh Thủy còn gọi bằng cụ tổ!
    Hiện vụ án Hội Anh em dân chủ chưa được báo chí trong nước “bạch hóa” và hồ sơ vụ án chưa trưng bày do chưa đem ra xử, nhưng chắc chắn, việc Đài dẫn theo cả dàn bậu xậu với quy mô và tổ chức chặt chẽ khiến Nguyễn Quang A phải nể phục của Hội Anh em dân chủ, khiến công an phải tặng cho Đài và đội ngũ Điều 79 BLHS, chứ không phải là Điều 88 BLHS như trước, chứng tỏ, cái tài và cái tầm “con buôn dân chủ” của Đài đã tiến đến nấc thang mới về đẳng cấp.
K’Sor H (Tổng hợp từ Internet và Trelang.blog.spot/loa phuong)

Từ bỏ chủ nghĩa xã hội là một sai lầm


Ng.Th.H. Psy.11.35
Sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Liên Xô và các nước Đông Âu cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 là một cơn động đất chính trị lớn của thế kỷ 20. Nó có ảnh hưởng lớn không chỉ đối với thế giới XHCN và độc lập dân tộc mà còn cả đối với thế giới tư bản chủ nghĩa.
Các ông trùm chiến lược, chiến lược gia và chính khách cỡ bự của chủ nghĩa tư bản đều hoan hỷ ăn mừng rằng đây là hồi chuông báo tử, rằng chủ nghĩa xã hội (CNXH) sẽ diệt vong vào cuối thế kỷ 20. Ta nhận định hoàn toàn ngược lại. Sự sụp đổ ở Liên Xô và các nước Đông Âu kéo theo thoái trào của phong trào cộng sản và công nhân thế giới là một tổn thất lớn, nhưng đó là tạm thời chứ không phải tất yếu, tin rằng, các nước XHCN còn lại sẽ giữ vững trận địa, đảng cộng sản và công nhân sẽ khôi phục hoạt động trong điều kiện mới, và xu thế XHCN sẽ tiếp tục đi dưới hình thức này hay hình thức khác.
Câu trả lời bước đầu đã có vào cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21. CNXH không hề diệt vong. Các nước XHCN còn lại không những giữ vững trận địa mà còn định hướng vững vàng cho sự phát triển tiến lên. Từ vùng Trung-Nam Mỹ đã phát sinh phong trào XHCN kiểu Mỹ Latinh, khởi đầu từ Venezuela rồi lan ra một số nước khác... Chủ nghĩa tư bản thế giới không thể chứng minh được rằng nó là lực lượng thống trị toàn cầu và xã hội tư bản là xã hội tốt đẹp cuối cùng của loài người. Ngay giữa lúc thế giới tư bản chủ nghĩa huênh hoang về sức sống dài lâu của nó cũng lâm vào khủng hoảng cục bộ, rồi đến khủng hoảng toàn diện hơn, kể từ năm 2008 đến nay, vẫn còn chưa hoàn toàn hồi phục. Thế giới từ lưỡng cực thành đơn cực, rồi nay lại thành đa cực. Các nước thuộc các chế độ chính trị, xã hội khác nhau đều tham gia "toàn cầu hóa" và "hội nhập quốc tế", vừa cạnh tranh, vừa hợp tác dưới nhiều cung bậc khác nhau.
Quan điểm "phê phán quan điểm cho rằng CNXH sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu, vì thế Việt Nam không nên và không thể gắn liền mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH" không phải bây giờ mới có mà đã có từ lâu, từ sau khi CNXH ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ. Nhưng từ đó đến nay, những kẻ chống đối không còn nói nhẹ nhàng như thế, họ thẳng thừng đòi "Đảng Cộng sản Việt Nam tự giác và chủ động thay đổi Cương lĩnh, từ bỏ đường lối sai lầm về xây dựng CNXH, chuyển hẳn sang đường lối dân tộc và dân chủ, trọng tâm là chuyển đổi thể chế chính trị từ toàn trị sang dân chủ một cách kiên quyết nhưng ôn hòa...". Và đến thời điểm chúng ta đang tiến hành "phê phán các quan điểm sai trái, xuyên tạc cuộc đấu tranh chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ", có người mang danh đảng viên, còn ngạo mạn nói rằng, trong lựa chọn đường lối, Đảng ta đã sai lầm không chỉ từ Hội nghị thành lập Đảng (năm 1930) mà là từ Hội nghị Tua (năm 1921). Ý tứ đằng sau những giọng điệu ấy là gì, chắc mỗi người chúng ta đều biết.
Với quan điểm ấy, họ đã sai lầm ít các quan điểm sau đây: Về sự sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu:
Thứ nhất: Sự sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu là sự sụp đổ của một mô hình xây dựng CNXH, chứ không phải sự sụp đổ của CNXH nói chung, với tư cách là một nấc thang phát triển của xã hội loài người, theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin.
Thứ hai: Chế độ Xô viết ngay từ lúc mới ra đời ở Nga sau Cách mạng Tháng Mười (năm 1917) và sau này trên toàn Liên bang Xô viết, đã tỏ rõ được tính ưu việt so với các chế độ chính trị-xã hội trước đó. Chính quyền Xô viết thực sự là chính quyền của công-nông-binh và của nhân dân lao động nói chung. Nhờ tính ưu việt đó, nó đã đánh thắng cuộc chiến tranh can thiệp của các nước đế quốc sau Cách mạng Tháng Mười, lập lại hòa bình và xây dựng chế độ mới, thực hiện công nghiệp hóa và tập thể hóa nông nghiệp thành công, đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược của phát xít Đức-Nhật, dẫn tới sự ra đời của hệ thống XHCN thế giới. Vào thập niên 60 và 70 của thế kỷ 20 sự nghiệp xây dựng CNXH ở Liên Xô đạt được những thành công lớn, khiến cho Đảng và Nhà nước Xô viết ngộ nhận là CNXH đã xây dựng xong và chủ trương Liên Xô bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa cộng sản. Sự thật thì cũng thời gian đó, nhiều nhược điểm và khuyết tật trong nội bộ Nhà nước Xô viết cũng bắt đầu hé lộ, nhất là khi so sánh với những bước phát triển của hệ thống tư bản chủ nghĩa thời đó. Nếu vì sự sụp đổ sau này mà phủ nhận sạch trơn những gì chế độ Xô viết đã giành được là một sai lầm trong cách nhìn lịch sử.
Thứ ba: Vào những năm cuối thập niên 70, đầu thập niên 80 của thế kỷ 20, sau khi phát hiện sự chậm trễ của mình, Liên Xô đề ra chính sách cải tổ; các nước XHCN Đông Âu cũng đề ra cải cách. Cải tổ và cải cách nhằm mục tiêu tăng tốc về kinh tế và thực hiện chế độ dân chủ rộng rãi hơn. Sai lầm của Liên Xô và các nước Đông Âu lúc đó là đã sa vào chủ nghĩa đa nguyên, đa đảng đối lập, buông lỏng vai trò lãnh đạo của Đảng, gây hoang mang, dao động trong đông đảo quần chúng, dẫn đến hỗn loạn xã hội, khiến cho ở Đông Âu, chính quyền bị các thế lực thù địch cướp lấy, còn Liên Xô thì chia rẽ sâu sắc trong nội bộ lãnh đạo, cuối cùng chính quyền cũng lọt vào tay nhóm chống đối trong Bộ Chính trị, những kẻ chống chính quyền Xô viết từ rất sớm. Không thấy nguyên nhân trực tiếp của sự sụp đổ là ở đây, mà coi sự sụp đổ là tất yếu của chính quyền Xô viết cũng là sai lầm trong cách nhìn lịch sử.
Thứ tư: Bên cạnh những nguyên nhân chủ quan nêu trên (tuy chưa hết), còn có một nguyên nhân trực tiếp khác nữa là âm mưu và thủ đoạn trong chiến lược "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch đế quốc chủ nghĩa. Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, chúng đẩy mạnh chạy đua vũ trang. Trong khi lãnh đạo Liên Xô chủ trương thi đua hòa bình thì chúng một mặt đẩy mạnh chạy đua vũ trang, mặt khác đề ra chiến lược "diễn biến hòa bình" để xóa bỏ CNXH mà không cần chiến tranh và súng đạn. Liên Xô và nhiều nước khác đã sa vào cái bẫy này của chúng mà không tự giác phát hiện.
Về sự lựa chọn độc lập dân tộc gắn liền với CNXH ở Việt Nam.
Thứ năm: Đúng là ngay từ ngày mới thành lập, Đảng ta đã đề ra chủ trương "làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới chủ nghĩa cộng sản". Như cách nói ngày nay, đó là làm cách mạng giải phóng dân tộc, tiến lên làm cách mạng XHCN. Đường lối độc lập dân tộc gắn liền với CNXH được đề ra xuất phát từ thực tế tình hình nước ta lúc bấy giờ là thuộc địa của Pháp, cũng xuất phát từ xu thế phát triển có tính quy luật của thời đại mới sau Cách mạng Tháng Mười Nga là tiến lên CNXH. 87 năm qua, những chặng đường phát triển của cách mạng Việt Nam và những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đạt được đã chứng minh sự đúng đắn của đường lối này, cớ sao vì sự sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu mà phải từ bỏ nó?
Thứ sáu: Trong xây dựng CNXH, Việt Nam học tập kinh nghiệm của Liên Xô và các nước XHCN đi trước nhưng hoàn toàn không có sự sao chép. Mô hình xây dựng CNXH ở Việt Nam không phải là mô hình Xô viết của Liên Xô, bởi sự khác biệt cơ bản là ở chỗ, một bên là từ cơ sở của chế độ tư bản đi lên, một bên từ độc lập dân tộc đi lên. Bác Hồ từng nói: "Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”(1). CNXH đối với Bác, như ngày nay chúng ta vẫn nói, là dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Nhầm lẫn giữa mô hình xây dựng CNXH ở Việt Nam với mô hình Xô viết là một sự sai lầm lớn./.

Thắng lợi vẻ vang Kỷ niệm 45 năm “Cuộc đàm phán dài nhất lịch sử”


       Ng.Đ. N. Psy.11.35
Từ ngày đầu cuộc đàm phán đến tháng 9/1972, lập trường của Việt Nam luôn nhấn mạnh hai nội dung cơ bản, được coi là giải pháp “cả gói”: Mỹ phải rút quân hoàn toàn vô điều kiện ra khỏi miền Nam Việt Nam và phải xóa bỏ chính quyền Sài Gòn do Mỹ dựng lên, hai vấn đề này phải gắn chặt với nhau. Dự thảo Hiệp định lúc này, ta chủ động nhấn mạnh việc Mỹ phải rút quân hoàn toàn ra khỏi miền Nam, chấm dứt chiến tranh, song nới lỏng yêu cầu vấn đề chính trị ở miền Nam Việt Nam.
Để vượt qua cuộc tranh cử tổng thống vào tháng 11 năm 1972, Ních - xơn đã dùng thủ đoạn lùi bước trên bàn đàm phán và xuống thang chiến tranh để xoa dịu dư luận Mĩ. Đầu tháng 10/1972, phái đoàn đàm phán của Mĩ đã đến Paris để nối lại đàm phán. Các bên đã thỏa thuận ngày sẽ kí kết chính thức vào ngày 31/10/1972.
Ngay sau khi tái đắc cử tổng thống (08/11/1972), Ních-xơn đã trở mặt, chúng đòi xét lại bản Hiệp định đã được thỏa thuận, theo hướng có lợi cho chúng.
Để gây sức ép buộc ta phải nhượng bộ, Ních-xơn đã phê duyệt kế hoạch tập kích chiến lược bằng máy bay B52 vào Hà Nội và Hải Phòng vào cuối năm 1972.
Chúng bị quân dân ta đánh bại bằng một trận “Điện Biên Phủ trên không” và buộc phải trở lại bàn đàm phán.
Ngày 23/01/1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam đã được kí tắt; và ngày 27/01/1973 bản hiệp định được chính thức kí kết.
Ngày 02/3/1973, Hội nghị quốc tế về Việt Nam (gồm 12 nước) đã kí định ước ghi nhận và đảm bảo việc thi hành Hiệp định Paris.
Hiệp định Paris được thể hiện một số nội dung cơ bản như:  
Hoa Kì và các nước cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Hai bên ngừng bắn ở miền Nam vào lúc 24h00 ngày 27/01/1973 và Hoa Kì cam kết chấm dứt mọi hoạt động quân sự chống miền Bắc Việt Nam.      
Hoa Kỳ phải rút hết quân viễn chinh và quân chư hầu về nước, hủy bỏ hết các căn cứ quân sự, cam kết không tiếp tục dính líu hay can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam.  
Nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của họ thông qua tổng tuyển cử tự do, không có sự can thiệp của nước ngoài. 
Các bên thừa nhận thực tế ở miền Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát và ba lực lượng chính trị. Các bên ngừng bắn tại chỗ, trao trả cho nhau tù binh và dân thường bị bắt. 
Hoa Kỳ cam kết góp phần vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh ở Việt Nam và Đông Dương, thiết lập quan hệ bình thường cùng có lợi với Việt Nam.
Hiệp định Paris Là kết quả của cuộc đấu tranh kiên cường bất khuất của quân và dân ta trên cả hai miền đất nước. Buộc Mĩ phải thừa nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân ta. Đó là thắng lợi lịch sử quan trọng, tạo thời cơ thuận lợi để nhân dân ta tiến lên đánh sụp ngụy quyền, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Khi nghiên cứu lịch sử Việt Nam trải qua bao khó khăn thử thách mà Đảng và nhân nhân ta đã đoàn kết, đồng lòng vượt qua trong đó Hiệp định Paris lịch sử, chúng ta vô cùng xúc động và biết ơn vô hạn khi nghĩ đến đồng bào và chiến sĩ ta từ Nam chí Bắc đã chấp nhận mọi hy sinh dũng cảm chiến đấu để có được thắng lợi to lớn hôm nay, biết ơn Bác Hồ và cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Đảng. Lời cảm ơn sâu sắc bà con Việt kiều tại Pháp và các nước xung quanh, cảm ơn bạn bè quốc tế lúc bấy giờ đã hết lòng vì cuộc chiến đấu của chúng ta. Chúng ta thấy niềm tự hào vinh quang cùng với ân tình sâu đậm mà cả thế giới dành cho cuộc chiến đấu anh dũng của nhân dân ta. Vinh dự đó đối với chúng ta thật quá to lớn./.


ĐẤU TRANH VỚI THÔNG TIN XẤU ĐỘC TRÊN INTERNET, MẠNG XÃ HỘI LÀ TRÁCH NHIỆM KHÔNG CỦA RIÊNG AI

ADMIN.PSY11
Tại Hội nghị công tác tuyên giáo năm 2017 tổ chức ở Thành phố Hồ Chí Minh vừa qua, có thông tin cho rằng, Quân đội “có thêm “Lực lượng 47” với hơn 10.000 người tay súng, tay nhấp chuột để đối phó với “quần chúng nhân dân” trong một cuộc chiến siết cổ internet” là việc làm vi hiến (!) Trước hết, khẳng định đó là nhận thức sai. Việc đấu tranh với thông tin sai trái, xấu độc trên internet, mạng xã hội là việc làm rất cần thiết không phải trách nhiệm của riêng ai, mà là trách nhiệm của những người có lương tri, phẩm giá nhằm mang lại môi trường internet, mạng xã hội trong sạch cho người sử dụng.
Bởi lẽ, nội dung thông tin trên internet có tính hai mặt. Chúng ta đều biết, internet là môi trường mở, cho phép người sử dụng được tự do cung cấp, tìm kiếm và sử dụng thông tin. Vì vậy, tùy thuộc vào động cơ, mục đích và nhận thức của cá nhân, tổ chức sử dụng mà thông tin đưa lên internet là tích cực, hoặc tiêu cực, thậm chí đi ngược lại lợi ích chính đáng của cộng đồng, của xã hội. Như vậy, bên cạnh những thông tin tích cực, thúc đẩy sự phát triển xã hội, trên internet cũng tồn tại đầy rẫy những thông tin sai trái, độc hại với các tính chất khác nhau. Đó là, (1) Thông tin không phù hợp về chuẩn mực đạo đức, văn hóa, thuần phong mỹ tục, như: kích động dâm ô đồi trụy, kích động tình dục, bạo lực, bôi nhọ đời tư, vu khống...; (2) Thông tin sai trái có tính chất chính trị: xuyên tạc sự thật lịch sử, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xuyên tạc chống phá đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đe dọa an ninh quốc gia, v.v. Vì vậy, những người có trách nhiệm nói chung, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nói riêng có hành động nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực của thông tin sai trái, độc hại là rất cần thiết. Thế mà họ cho rằng đó là việc làm “vi hiến” là “siết cổ internet” là sao?
Mặt khác, như trên đề cập internet là môi trường mở không có giới hạn về địa lý, lãnh thổ, mà đa số các trường hợp, thông tin về người dùng không cần xác thực. Điều đó một mặt, tạo điều kiện thuận lợi một cách tối đa cho người sử dụng tham gia vào môi trường thông tin trên internet. Mặt khác, nó cũng tạo cơ hội cho những tổ chức, cá nhân với động cơ xấu có thể che dấu danh tính để cung cấp thông tin sai trái, độc hại; thậm chí xóa bỏ dấu vết để thực hiện hành vi tội phạm, lừa đảo. Việc phát hiện, ngăn chặn những hành vi sai trái trên môi trường internet toàn cầu vì thế về phương diện kỹ thuật là rất khó khăn. Nó đòi hỏi sự phối hợp tích cực của các quốc gia, nhưng do sự khác biệt về môi trường pháp lý giữa các quốc gia, nên trong nhiều trường hợp là không thể. Tính hai mặt này đang là thách thức đối với những quốc gia muốn thực thi luật pháp của mình để điều chỉnh những hành vi vi phạm pháp luật trên mạng internet. Vì thế, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nói riêng, những người có trách nhiệm với sự phát triển của xã hội, của dân tộc để trả lại môi trường internet trong sạch lại không đúng sao?
Hơn thế nữa, đối với truyền thông xã hội, bên cạnh những ưu thế, nó cũng thể hiện những mặt trái. Đó là thông tin có động cơ, mục đích không rõ ràng, hoặc động cơ xấu nhằm xuyên tạc, lừa đảo, vu khống,... để hậu quả vô cùng to lớn và nặng nề, nhất là khi người sử dụng đa số là giới trẻ, còn thiếu bản lĩnh, tỉnh táo khi tiếp nhận thông tin trên internet.
Hẳn mọi người chưa quên các cuộc biểu tình chống chính phủ, lật đổ chính phủ tại các quốc gia châu Âu, Bắc Phi đều có nguyên nhân sâu xa từ việc các phần tử chống đối lợi dụng internet để tuyên truyền, xúi giục và kêu gọi dân chúng xuống đường biểu tình, lật đổ. Cuộc biểu tình đánh chiếm phố Wall tại New York, Mỹ bắt đầu vào ngày 17/9/2011, đã lan ra khắp thế giới từ châu Á và châu Mỹ tới châu Phi và châu Âu với sự giúp đỡ đắc lực của internet và truyền thông xã hội. Điều đó minh chứng cho việc quản lý, đấu tranh với thông tin sai trái, xấu độc trên internet, mạng xã hội là trách nhiệm chung của cả cộng đồng, vì sự tiến bộ xã hội và phồn thịnh của quốc gia - dân tộc. Vì thế, cán bộ, chiến sĩ Quân đội không thể vô cảm, làm ngơ trước những thông tin sai trái, độc hai trên môi trường internet, mạng xã hội. Việc cán bộ, chiến sĩ Quân đội “tay súng, tay nhấn chuột” là thể hiện trách nhiệm cao với vận mệnh của quốc gia - dân tộc, nhằm chống lại thông tin xấu độc trên internet và mạng xã hội hòng làm băng hoại đạo đức, thuần phong, mỹ tục của dân tộc hàng ngàn năm văn hiến. Nên không phải 10.000 người mà bất cứ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nào cũng như bất kỳ người dân Việt Nam yêu nước nào thấy chuyện trướng tai, gai mắt không thể làm ngơ mà phải hành động vì tương lai, hạnh phúc, sự phồn thịnh của quốc gia - dân tộc Việt Nam.
Như vậy, một lần nữa chứng tỏ ý kiến cho rằng, cán bộ, chiến sĩ Quân đội tham gia làm sạch môi trường internet, mạng xã hội là “chống quần chúng nhân dân”, là “siết cổ internet” là võ đoán. Họ nói là vì nhân dân nhưng thực chất chính họ chống lại nhân dân bằng sự ngụy biện huy hiểm, nên chúng ta cần cảnh giác đấu tranh, bác bỏ./.

                                                                                  ADMIN.PSY11
                                                                                         (ST)

Sự tác động của tiêu cực, tệ nạn xã hội đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”


ADMIN.PSY11
QĐND - Ngoài những yếu tố tác động như mặt trái kinh tế thị trường, mặt trái của toàn cầu hóa v.v.. thì yếu tố tiêu cực, tệ nạn xã hội cũng có những tác động không nhỏ vào quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên và nhân dân; được coi là một yếu tố quan trọng dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Trong tình hình hiện nay, tiêu cực và tệ nạn xã hội tiếp tục diễn biến phức tạp; các tệ nạn như tham nhũng, hối lộ, buôn bán, sử dụng trái phép chất ma túy, tội phạm các loại... có chiều hướng gia tăng, khó kiểm soát. Trong xã hội, sự phân hóa giàu nghèo tăng nhanh và ngày càng có xu hướng nới rộng khoảng cách. Tình trạng quan liêu, mất dân chủ, làm nhân dân bất bình dẫn đến khiếu kiện đông người diễn ra ở một số địa phương, làm ảnh hưởng xấu đến lòng tin của nhân dân đối với Đảng, chính quyền các cấp. Cùng với những hiện tượng trên, sự suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là những cán bộ, đảng viên có chức, có quyền, giữ trọng trách trong bộ máy công quyền là những nguyên nhân rất nguy hại, trực tiếp dẫn đến và thúc đẩy mạnh hơn quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Một yếu tố nữa cũng có tác động không nhỏ tới quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đó là việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các chỉ thị, nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở một số cơ quan, đơn vị, địa phương chưa đến nơi đến chốn dẫn đến kỷ cương, kỷ luật của Đảng được thực thi không nghiêm; hiện tượng cán bộ nói không đi đôi với làm, thậm chí nói một đằng làm một nẻo cũng làm mất lòng tin ngay trong nội bộ cán bộ, đảng viên.
Ảnh minh họa / qdnd.vn
Hiện nay, sự tác động, chi phối của các tệ nạn, tiêu cực đến tâm tư tình cảm, đời sống của mỗi người dân, mỗi cán bộ, đảng viên là không hề nhỏ và thường xuyên, liên tục. Nếu mỗi cán bộ, đảng viên thiếu ý thức tu dưỡng, rèn luyện, không tạo ra được sự "miễn dịch" đối với tiêu cực, tệ nạn thì chính những cán bộ, đảng viên đó sẽ dễ bị sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, mất tính đấu tranh, dễ vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước và dần bị rơi vào vòng xoáy của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Các tiêu cực, tệ nạn xã hội là chất xúc tác dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, vì vậy để đấu tranh đúng, trúng với hiện tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thì nhất thiết phải đấu tranh với các tệ nạn, tiêu cực trong xã hội. Tuy nhiên, để phân biệt rạch ròi giữa tệ nạn, tiêu cực với “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là điều không thể, bởi hai vấn đề này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, tệ nạn, tiêu cực là tiền đề dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và ngược lại, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là điều kiện để các tệ nạn, tiêu cực phát triển, lan rộng. Vì vậy, đấu tranh khắc phục “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ thực sự là công việc khó khăn, phức tạp. Phải xác định đây là cuộc đấu tranh đối với chính bản thân trong mỗi con người, mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi tổ chức, nếu không kiên quyết, dũng cảm thì rất khó thành công.
                        ADMIN.PSY11
                       (ST)


Thứ Hai, 15 tháng 1, 2018

Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân tố chủ yếu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam

Đ.V.L. Psy.11
      Thắng lợi của cách mạng Việt Nam do nhiều nhân tố tạo nên, song nhân tố chủ yếu, quyết định là sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thật vậy, ngay từ khi vận động thành lập Đảng, Nguyễn Ái Quốc- Người sáng lập Đảng ta - đã thấy phải có Đảng cách mạng và Đảng có vững thì cách mạng mới thành công. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng (nǎm 1930) ghi rõ: "Điều cốt yếu cho sự thắng lợi của cách mạng là cần phải có một Đảng cộng sản có một đường lối chính trị đúng, có kỷ luật tập trung, mật thiết liên lạc với quần chúng và từng trải trong đấu tranh mà trưởng thành". 
Trải qua gần 88 năm, Đảng ta ngày càng nhận thức sâu sắc tính đúng đắn của luận điểm nói trên. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội tổng kết quá trình đấu tranh cách mạng của Đảng, đã nêu lên một bài học cơ bản: Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu bảo đảm thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Nghiên cứu kinh nghiệm về sự lãnh đạo và xây dựng đảng của Đảng ta là việc làm thiết thực, trọng yếu, bảo đảm cho cách mạng phát triển vững chắc, nhằm thực hiện mục tiêu: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. 
Lịch sử Việt Nam ghi nhận: từ khi thực dân Pháp xâm lược và thống trị nước ta đã liên tiếp diễn ra nhiều cuộc đấu tranh yêu nước, song tất cả đều thất bại. Ngay từ lúc mới thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo cách mạng, trải qua cuộc đấu tranh gian khổ hy sinh đi đến thành công với các mốc son lịch sử. Ba cao trào cách mạng lớn (1930-1931, 1936- 1939, 1939- 1945) như ba cuộc tổng diễn tập cách mạng, với khí thế cách mạng vĩ đại của quần chúng, nắm chắc thời cơ lịch sử, với một nghệ thuật lãnh đạo và tổ chức khởi nghĩa tài tình,  Đảng ta lãnh đạo cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 thành công trọn vẹn. Chỉ trong thời gian ngắn ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhà nước của dân, do dân và vì dân. Dân tộc ta bước sang kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập tự do, dân chủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã hội.
     Chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử (tháng 5-1954) mãi mãi ghi vào lịch sử dân tộc ta như một Bạch Đằng, một Chi Lăng hay một Đống Đa của thế kỷ XX, đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi, đột phá thành trì của hệ thống nô dịch thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, báo hiệu sự sụp đổ hoàn toàn không tránh khỏi của chủ nghĩa thực dân. Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 với thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, nhân dân ta đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Thành tựu to lớn của hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, đã làm cho thế và lực của nước ta ngày càng lớn mạnh, đó là cơ hội lớn để chúng ta tạo ra những bước phát triển mới trong việc hội nhập kinh tế quốc tế, đưa nước ta đứng ngang với các nước trên thế giới. Những điều cơ bản trên đây, bất cứ ai có đôi chút kiến thức về lịch sử dân tộc Việt Nam đều có thể dễ dàng nhận thấy rằng sự ra đời và lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam là hoàn toàn đúng với quy luật khách quan là sự lựa chọn tất yếu của lịch sử. 
     Trước thực tế lịch sử hiển nhiên đó, mà vẫn có người cố tình phủ nhận hoặc hạ thấp ý nghĩa, vai trò của Đảng đối với những thắng lợi của dân tộc Việt Nam thì là điều phi lý. Và thực tế lịch sử đó cũng đã bác bỏ sự xuyên tạc của các thế lực thù địch. Vai trò lãnh đạo của Đảng là vấn đề quyết định sự thành công của cách mạng. Trách nhiệm của mọi cán bộ, đảng viên là nắm vững học thuyết Mác - Lênin, xuất phát từ thực tiễn cách mạng nước ta, tổng kết kinh nghiệm và vận dụng sáng tạo những kinh nghiệm đó trong thực tiễn, nhằm giữ vững, nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng. Đó là nhân tố cơ bản bảo đảm cho đất nước, dân tộc ta tiến từng bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội.

ĐƠN VỊ QUÂN ĐỘI GIÚP NHÂN DÂN VƯỢT NGHÈO HIỆU QUẢ

H.Th.T.Psy.11
Trong thời bình, các đơn vị quân đội không chỉ thực hiện nhiệm vụ huấn luyện nâng cao chất lượng sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ sự bình yên cho Tổ quốc mà còn giúp đỡ nhân dân, đặc biệt là vùng khó khăn vươn lên chiến thắng sự đói nghèo. Thời gian gần đây có nhiều đơn vị đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ công tác dân vận, trong đó có Công ty 72 thuộc Binh đoàn 15 đã giúp đỡ đồng bào dân tộc Gia-Rai thoát khỏi sự lạc hậu.
Công ty 72 được Bộ Tư lệnh Binh đoàn 15 (Bộ Quốc phòng), Ban Dân vận Tỉnh ủy Gia Lai, Huyện ủy Ðức Cơ phân công phụ trách, hỗ trợ và làm công tác dân vận trên địa bàn ba xã biên giới: Ia Nan, Ia Pnôn và Ia Dom, thuộc huyện Ðức Cơ. Ðây là địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, trình độ dân trí thấp, nhận thức về pháp luật còn hạn chế, tập quán còn lạc hậu, dễ bị kẻ xấu lợi dụng, lôi kéo. Những năm đầu trồng cao-su và cà-phê, do chưa thu hoạch được, mặc dù đã hỗ trợ đồng bào lương thực, thực phẩm, song đời sống bà con vẫn còn nhiều khó khăn. Ðảng ủy, lãnh đạo Công ty bàn cách tiếp tục giúp đồng bào vùng biên thoát nghèo, ổn định cuộc sống, với mục tiêu trước mắt cũng như lâu dài là giúp bà con trồng lúa nước. Có lúa, có đất trồng lúa, nhưng vì bà con vốn đã quen với tập quán sản xuất lúa rẫy, tự cung tự cấp, ít người nghĩ đến trồng lúa nước.
Biết được tâm lý đó, cán bộ, chiến sĩ Công ty 72 lại đến từng nhà, xắn quần xuống ruộng gieo cấy cho bà con thấy để làm theo. Song song với việc làm đó, Công ty xây dựng thêm mô hình làm điểm, đưa cây lúa nước hai vụ vào sản xuất; tiếp tục tổ chức khai hoang, hướng dẫn kỹ thuật chăm bón và trồng thử nghiệm 20 ha tại các làng Chan, làng Sơn. Sau một thời gian "cầm tay, chỉ việc", bà con đã thành thạo và làm chủ được kỹ thuật. Hiện nay, Công ty phối hợp cùng xã Ia Nan duy trì có hiệu quả "Cánh đồng tình nghĩa quân - dân" tại làng Nú, với gần 50 ha, tại làng Tung gần 6 ha lúa nước, năng suất đạt từ 37 đến 40 tạ/ha, tăng gấp bảy lần lúa rẫy, góp phần bảo đảm an ninh lương thực cho địa phương. Cả làng có hơn 163 hộ, gần 720 nhân khẩu, đã có 70% số hộ khá và giàu. Con đường vào làng giờ đã được bê-tông hóa, hai bên đường là những vườn cà-phê sai trĩu quả, cánh rừng cao-su bạt ngàn, những đồng lúa xanh tốt hứa hẹn một mùa bội thu no đủ. 
Với những đóng góp sâu đậm nghĩa tình đó, người dân làng Tung đã tự gọi làng mình là làng 72. Điều này đã khẳng định mối quan hệ máu thịt giữa quân đội với nhân dân, tô thắm thêm phẩm chất tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”.