Thứ Ba, 6 tháng 6, 2023

Xuyên tạc và phủ nhận những thành quả của nền giáo dục Việt Nam - Một luận điệu ngớ ngẩn và thâm độc


Gần đây trên trang facebook phản động Baotiengdan đối tượng Trần Mạnh Hảo phát tán bài viết với nội dung hết sức phản động có tựa đề “Một nền giáo dục dối trá toàn diện”, đối tượng Trần Mạnh Hảo đã không giấu giếm dã tâm xuyên tạc, phủ nhận những thành quả của nền giáo dục Việt Nam nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta. Y ngang nhiên xuyên tạc cho rằng “Hiện nay, nền giáo dục của nước ta là một nền giáo dục không hề tốt đẹp khi nó đã bỏ hẳn dạy môn Văn là môn dạy làm người”. Đối tượng Trần Mạnh Hảo còn cho rằng “Một nền giáo dục bỏ hẳn dạy môn văn hơn 20 năm nay để dạy một môn NGỮ VĂN đểu, một môn học thuần lý trí: Nghiên cứu quy luật khoa học khách quan của ngôn ngữ văn học. Bỏ dạy môn Văn - một môn học của tâm hồn, của tình cảm rung động trước cái đẹp tiếng nói và chữ viết con người, cho phép chủ quan được tham gia bằng xúc cảm, bằng rung động con tim trước cái hay cái đẹp của ngôn ngữ và hình tượng văn học. Bỏ hẳn tâm hồn con em ta ra ngoài nền giáo dục là bộ giáo dục, là nhà nước, là đảng cầm quyền đã bỏ hẳn tính nhân văn của giáo dục. Một nền giáo dục bị tha hóa tận cùng, xấu xa tận cùng mới bỏ, không dạy môn văn”. Trần Mạnh Hảo không có năng lực hiểu hay cố tình không hiểu môn NGỮ VĂN là môn học được tích hợp từ ba phân môn Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn, gồm hai phần ngữ và văn gắn bó với nhau, bởi "ngôn ngữ là chất liệu làm nên văn học và văn học chính là nghệ thuật của ngôn ngữ". Là môn học tích hợp, nhưng về cơ bản nó vẫn là môn học nghệ thuật (Văn vẫn chiếm tỉ trọng lớn nhất), đồng thời nó lại là môn học thực hành (Tập làm văn được học bài bản và hệ thống). Ngữ văn là môn học về Cái Đẹp với hai khâu liên hoàn: cảm thụ Cái Đẹp trong văn chương (Văn), ngôn ngữ (Tiếng Việt) để tạo lập ra Cái Đẹp trong văn bản nói và viết. Môn Ngữ văn sẽ hình thành và phát triển hai năng lực quan trọng cho thế hệ trẻ: năng lực thẩm mĩ và năng lực ngôn ngữ. Năng lực thẩm mĩ là năng lực khám phá Cái Đẹp trong văn chương và trong tiếng Việt để thưởng thức chúng; còn năng lực ngôn ngữ là năng lực làm chủ được tiếng Việt, biết sử dụng tiếng Việt một cách thuần thục để tạo lập văn bản (nói và viết) giúp cho việc diễn đạt, giao tiếp đạt hiệu quả. Như vậy, đối tượng Trần Mạnh Hảo đã có một cái nhìn thiển cận về nền giáo dục Việt Nam, không thấy được yêu cầu của đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục – đào tạo, nhấn mạnh đến việc phát triển năng lực của người học hơn là cung cấp tri thức cho họ, trong đó có dạy môn ngữ văn thay vì chỉ dạy môn VĂN đơn thuần.

Thứ hai, đối tượng Trần Mạnh Hảo cho rằng hầu hết cán bộ ở Việt Nam với đồng lương của mình không thể cho con cái du học ở các nước tư bản phát triển, nhưng các vị lãnh đạo từ trung ương xuống địa phương đều cho con đi du học ở các nước tư bản, chưa thấy ai cho con sang các nước cộng sản du học. Từ đó đối tượng quy kết rằng các nước phương tây có nền giáo dục tốt đẹp nhất thế giới và xã hội của họ ưu việt hơn xã hội ta. Thật nực cười cho sự hiểu biết kém cỏi, “ếch ngồi đáy giếng” của y. Đối tượng không hề biết rằng, ở Việt Nam hiện nay, không chỉ có con em cán bộ mà rất nhiều con em của các thành phần khác cũng đều có điều kiện để đi du học ở nước ngoài. Mặt khác, trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, việc cho con đi du học ở những nước phát triển là xu thế chung của nhiều nước chứ không riêng ở Việt Nam. Luận điệu trên của đối tượng Trần Mạnh Hảo thể hiện thái độ hằn học, bất mãn đối với nền giáo dục Việt Nam,

Thứ ba, Trần Mạnh Hảo còn thổi phồng một số hiện tượng tiêu cực ,yếu kém trong giáo dục- đào tạo của Việt Nam, những thông tin mà đối tượng nêu ra không có gì mới mẻ mà đã được Việt Nam chỉ ra để khắc phục, chấn chỉnh song đối tượng đã sâu chuỗi và diễn đạt thành một chuỗi khiến cho người đọc nếu không tỉnh táo sẽ tin rằng nền giáo dục của Việt Nam yếu kém thật, từ đó làm suy giảm niềm tin và đổ lỗi cho sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, làm cho mọi người ngộ nhận và chỉ hìn thấy lỗi, thấy khuyết điểm mà không hề thấy những thành quả to lớn của giáo dục đã đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Nền giáo dục của một quốc gia không thể bị xuyên tạc và bị phủ nhận những thành tựu đã đạt được chỉ bởi một kẻ thiếu hiểu biết và có một cái nhìn thiển cận, thiếu khách quan, không thấy được những thành quả to lớn trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục – đào tạo ở Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Một kẻ lộ rõ mưu đồ chống phá của mình khi chỉ nhìn vào những mặt tiêu cực, thổi phồng nó và có tư tưởng sùng ngoại, bài nội nhằm hạ thấp uy tín và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với giáo dục - đào tạo nói riêng và đối với toàn xã hội nói chung.

Mỗi cán bộ, đảng viênvà người dân Việt Nam cần hết sức tỉnh táo và cảnh giác trước những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, tự hào về những thành tựu mà đất nước đã đạt được trên mọi lĩnh vực dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong đó có giáo dục – đào tạo, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.

VT11

 

LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CẦN BÁC BỎ


Gần đây, các đối tượng chống phá vin vào việc một số thanh niên tìm cách trốn tránh nghĩa vụ quân sự đã bị xử lý, tung luận điệu đánh đồng rằng: "Lớp thanh niên Việt Nam hiện nay đang tìm mọi cách trốn tránh nghĩa vụ quân sự", "không ai yêu nước” và rằng "cơ đồ này không còn chỗ dựa" vì thanh niên không còn tin tưởng vào chế độ...

Đây là những luận điệu phản động, phiến diện, âm mưu thâm độc của bọn chúng hòng làm cho thanh niên Việt Nam nói chung và thanh niên nhập ngũ thực hiện nghĩa vụ quân sự nói riêng dao động tư tưởng, hoài nghi dẫn đến phai nhạt lý tưởng. Không những thế, những người thiếu bản lĩnh khi tiếp nhận thông tin trên sẽ mất niềm tin vào thế hệ trẻ, xa hơn là không tin tưởng vào chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và Quân đội.

Cũng phải thẳng thắn nhìn nhận rằng, những năm gần đây, dưới sự tác động của mặt trái cơ chế thị trường, mạng xã hội, một bộ phận nhỏ thanh niên bị ảnh hưởng bởi lối sống hưởng thụ, thực dụng. Họ bắt đầu có những so đo, tính toán thiệt hơn về việc nhập ngũ vì sợ vất vả, ngại rèn luyện; thậm chí có hiện tượng tìm cách trốn tránh nghĩa vụ quân sự. Tuy nhiên, đây chỉ là hiện tượng cá biệt và những hành vi vi phạm Luật Nghĩa vụ quân sự đều bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

Thực tế cho thấy, trong các cuộc đấu tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc, đã có hàng triệu thanh niên tình nguyện nhập ngũ. Nhiều lá đơn được viết bằng máu, thể hiện ý chí, trách nhiệm, quyết tâm của lớp lớp thanh niên đối với đất nước. Tiếp nối truyền thống đó, thanh niên ngày nay luôn nhận thức rõ nghĩa vụ, trách nhiệm thiêng liêng của mình đối với Tổ quốc; cảm thấy vinh dự khi trở thành người chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam.

Tại lễ giao, nhận quân của các địa phương vừa qua, hầu hết thanh niên nhập ngũ đều bày tỏ niềm tự hào và hăng hái lên đường thực hiện nghĩa vụ quân sự. Tỷ lệ thanh niên viết đơn tình nguyện nhập ngũ ngày càng cao. Ví dụ như ở TP Hà Nội, năm 2023, có gần 1.000 công dân viết đơn tình nguyện nhập ngũ; 100% thanh niên nhập ngũ của huyện Long Mỹ (tỉnh Hậu Giang) và huyện Long Hồ (tỉnh Vĩnh Long) viết đơn tình nguyện thực hiện nghĩa vụ quân sự... Rất nhiều thanh niên là đảng viên, công chức, có trình độ đại học, cao đẳng cũng viết đơn xung phong nhập ngũ; có gia đình có 2-3 người con tình nguyện thực hiện nghĩa vụ quân sự. Không khí của ngày hội tòng quân ở các địa phương trong cả nước rất sôi nổi, phấn khởi và tuyệt đại đa số quân nhân hoàn thành nghĩa vụ quân sự đều có nhiều kỷ niệm sâu sắc trong thời gian tại ngũ, tình cảm đẹp đối với Quân đội và đơn vị.

Từ những minh chứng trên cho thấy, việc một số đối tượng cố tình quy chụp, xuyên tạc, rêu rao rằng hầu hết thanh niên hiện nay đều trốn tránh nhập ngũ vì không yêu nước, không tin tưởng vào chế độ là hoàn toàn sai trái, phản động. Âm mưu thâm độc, bịa đặt này cần phải lên án và đấu tranh bác bỏ.

HN11

 

 

DÂN TỘC VIỆT NAM KHÔNG BAO GIỜ QUÊN SỰ KIỆN GẠC MA NGÀY 14/3/1988


Khoảng 3 giờ sáng ngày 14/3/1988, lực lượng của Trung đoàn Công binh 83 bắt đầu chuyển vật liệu từ tàu HQ-604 lên bãi Gạc Ma, lực lượng của Lữ đoàn 146 đã cắm được cờ lên bãi Gạc Ma.

Rạng sáng 14/3/1988, các tàu chiến TQ áp sát. Đó là các biên đội tàu chiến thật sự với hỏa lực mạnh, trong khi các tàu VN chỉ là loại hải vận và đa số chiến sĩ trên tàu là công binh làm nhiệm vụ xây dựng đảo, không phải lính chiến đấu, trong tay chỉ có cuốc, xẻng, xà beng.

Tại bãi Gạc Ma, thủy triều buổi sáng đã dâng cao hơn, nhưng nhóm bảo vệ ngọn cờ chủ quyền của thiếu úy Trần Văn Phương vẫn kiên cường trụ vững.

Gần 6 giờ sáng , tàu chiến TQ cho xuồng nhỏ áp sát Gạc Ma với lính hải chiến TQ nai nịt đầy đủ vũ khí để đổ bộ.

Trước tình thế đó, trên bãi Gạc Ma, các chiến sĩ VN đã quây thành vòng tròn bảo vệ ngọn cờ Tổ quốc. Lính TQ đổ bộ dày đặc lên đảo với AK sáng quắc lưỡi lê cố tràn vào vòng tròn, cố giật và hạ cờ Việt Nam, nhưng đều bị bật ra. Đến khi chúng nhả đạn mới áp sát được vào chỗ thiếu úy Phương đang giữ chặt ngọn cờ.

Bất ngờ lính TQ nổ súng thẳng vào đầu thiếu úy Phương. Anh ngã xuống nhưng vẫn ôm chặt lá cờ loang máu. Trước khi về với biển, anh hô to: "Thà hy sinh chứ không chịu mất đảo”.

Sau khi anh Phương bị bắn, lính TQ định cướp lá cờ, nhưng hạ sĩ Nguyễn Văn Lanh giằng lại được. Lính TQ đâm anh từ phía sau rồi bắn thẳng vào anh bằng AK khiến anh bị thương.

Tiếp đó, lính đổ bộ TQ lùi ra xa để đại liên, pháo 37 li từ tàu chiến của chúng bắn thẳng vào các chiến sĩ Việt Nam vẫn đang quyết tử bám trụ giữ đảo.

Hình ảnh bi tráng của những chiến sĩ hải quân hy sinh ở Trường Sa năm 1988 sau này được tôn vinh là “vòng tròn bất tử”.

VK11

 

KHÔNG THỂ BỎ ĐIỀU 331


Theo đúng dự đoán của tôi, dường như lại đang có một chiến dịch kêu gọi chống phá, thậm chí đòi bỏ điều 331 bộ luật hình sự về hành vi “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”.

Chiến dịch này có sự phối hợp trong-ngoài khá chặt chẽ.

Ở nước ngoài, nổi lên là cánh nhà đài RFA, BBC, VOA và cánh phản động khủng bố Việt Tân.

Ở trong nước thấy lên tiếng rất mạnh là số luật sư trong “hợp tác xã luật sư toàn thua” như Ngô Anh Tuấn, Đặng Đình Mạnh, hay số “dân chủ” như Huỳnh Ngọc Chênh.

Số này đang lợi dụng việc cơ quan chức năng khởi tổ một loạt đối tượng liên quan drama Phương Hằng- Hàn Ni, và số luật sư liên quan để đả phá đòi bỏ điều luật này.

Tuy nhiên, như tôi và mọi người đã phân tích, điều 258 trước đây và điều 331 hiện nay là rất cần thiết để duy trì trật tự xã hội và cũng là để mỗi người thụ hưởng các quyền tự do dân chủ của mình đúng nghĩa nhất, không làm ảnh hưởng tới quyền tự do dân chủ của người khác.

Một quyền chỉ đúng khi nó thực hiện trong khuôn khổ và không gây ảnh hưởng tới quyền dân chủ của người khác. Còn anh cố tình vượt rào thì đương nhiên phải bị xử lý. Chân lý đó không bao giờ thay đổi.

Liên minh hợp tác xã luật sư toàn thua và số bên ngoài muốn xoá luật của Việt Nam ta ư, đâu có dễ!

TP11

 

VIỆT NAM TÔN TRỌNG QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO CỦA NHÂN DÂN


Chính sách nhất quán, những nỗ lực của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân được khẳng định trên nguyên tắc Hiến định tại các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992, 2013. Chưa bao giờ các tôn giáo có điều kiện hoạt động thuận lợi như hiện nay. Song, thế lực xấu chưa bao giờ từ bỏ âm mưu “diễn biến hòa bình”, lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo, móc nối với số bất mãn chế độ, có tư tưởng định kiến với Đảng, Nhà nước ta, xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo.

Đảng, Nhà nước Việt Nam khẳng định: Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc, đồng bào các tôn giáo là một bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo, các tôn giáo cùng tồn tại trong lòng dân tộc và bình đẳng trước pháp luật. Ngay sau khi nước nhà độc lập, ngày 03/9/1945, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị Chính phủ tuyên bố “tín ngưỡng, tự do và lương - giáo đoàn kết”. Quan điểm tư tưởng đó được Đảng, Nhà nước ta thể chế bằng các văn bản pháp luật, để quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ và bảo đảm ngay trên thực tế.

Trong tiến trình cách mạng của đất nước, chính sách nhất quán, những nỗ lực của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân được khẳng định trên nguyên tắc Hiến định tại các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992, 2013. Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 và các văn bản pháp luật liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo được hoàn thiện theo hướng tiệm cận luật pháp quốc tế và Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị năm 1966 (ICCPR) mà Việt Nam đã tham gia thành viên, nhằm đảm bảo cho mọi người được thụ hưởng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ngày càng tốt hơn trên thực tế và được bảo đảm bằng các văn bản pháp luật như: Pháp lệnh 21/2004/PL-UBTVQH11 quy định về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo; Nghị định số 22/2005/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo; Chỉ thị 1940/CT-TTg về nhà đất liên quan đến tôn giáo.

Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”. Quốc hội khóa XIV đã ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 162/2017/NĐ-CP và các văn bản pháp luật khác đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân…

Với sự nỗ lực của Việt Nam trong việc hoàn thiện chủ trương, chính sách, pháp luật về tôn giáo, tình hình đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ngày càng phong phú, đa dạng, số lượng chức sắc, người theo đạo, cơ sở thờ tự ngày càng tăng. Qua thống kê cho thấy, năm 2003, cả nước có 6 tôn giáo 15 tổ chức, với 17 triệu người có đạo, khoảng 20 nghìn cơ sở thờ tự; 34 nghìn chức sắc, 78 nghìn chức việc. Năm 2022, chính quyền đã công nhận 43 tổ chức, thuộc 16 tôn giáo khác nhau, với trên 27,2 triệu người có đạo, trên 53 nghìn chức sắc, khoảng 148 nghìn chức việc, 29.718  cơ sở thờ tự. Số lượng chức sắc, chức việc trong tổ chức tôn giáo có vai trò quan trọng trong tổ chức Giáo hội, là người thụ hưởng chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo…

Bên cạnh đó, hàng năm có trên 8.000 nghìn lễ hội về tín ngưỡng, tôn giáo, với hàng vạn người theo đạo tham gia. Các tổ chức, cá nhân tôn giáo được khuyến khích, tạo điều kiện tham gia các hoạt động an sinh xã hội, từ thiện xã hội, chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Các tổ chức tôn giáo có trên 500 cơ sở khám chữa bệnh, trên 800 cơ sở bảo trợ xã hội, với 300 trường mầm non... Từ năm 2018 - 2021, đã cấp phép xuất bản 2.027 ấn phẩm với trên 7 triệu bản in, trong đó có nhiều xuất bản phẩm được dịch ra tiếng Anh, Pháp, tiếng dân tộc và có 25 tờ báo, tạp chí của các tôn giáo đang hoạt động.

Trong 10 năm thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã cấp hàng trăm hécta đất để xây dựng cơ sở thờ tự như: Thành phố Hồ Chí Minh đã giao 7.500 m2 đất cho Tổng Liên hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam) xây dựng Viện Thánh kinh thần học. Tỉnh Đắk Lắk giao hơn 11.000 m2 đất cho Tòa Giám mục Buôn Ma Thuột. Thành phố Đà Nẵng giao hơn 9.000 m2 đất cho Tòa Giám mục Đà Nẵng. Tỉnh Quảng trị giao thêm 15 ha cho Giáo xứ La Vang…

Năm 2022, chính quyền các cấp đã cấp phép xây dựng, sửa chữa, cải tạo cho 486 cơ sở thờ tự tôn giáo, tăng 60 cơ sở so với năm 2021; cấp đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung cho 183 điểm nhóm; cấp quyết định xuất bản cho 140 xuất bản phẩm, với trên 684,2 nghìn bản in. Các hoạt động phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, thuyên chuyển chức sắc, chức việc; các hoạt động thành lập tổ chức tôn giáo trực thuộc; sửa đổi hiến chương, điều lệ; đăng ký chương trình hoạt động hàng năm... theo đúng quy định của pháp luật; chấp thuận cho 646 người được phong phẩm, suy cử làm chức sắc; 3.238 người được bổ nhiệm, bầu cử, suy cử làm chức việc; 424 chức việc các tôn giáo được thuyên chuyển theo đúng Hiến chương, điều lệ.

Có thể nói, chưa bao giờ các tôn giáo có điều kiện hoạt động thuận lợi như hiện nay. Quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng. Chức sắc, chức việc, tín đồ ngày càng đông. Cơ sở thờ tự ngày càng khang trang, việc sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài tại Việt Nam được công khai theo quy định của pháp luật, tạo điều kiện để các tổ chức tôn giáo tăng cường giao lưu, học tập, trao đổi các đoàn với các tổ chức tôn giáo trên thế giới.

Từ năm 2011 đến nay, khoảng 2.000 lượt cá nhân tôn giáo đã xuất cảnh tham gia khóa đào tạo ở nước ngoài, tham dự hội thảo, hội nghị quốc tế liên quan đến tôn giáo. Đồng thời, gần 500 đoàn nước ngoài, với hơn 3.000 lượt người vào Việt Nam để trao đổi, giao lưu, hướng dẫn tại cơ sở thờ tự, tham dự các sự kiện tôn giáo do các tổ chức tôn giáo Việt Nam tổ chức như: Giáo hội Phật giáo Việt Nam 3 lần đăng cai Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc VESAK, với trên 1.000 đại biểu quốc tế đến từ 120 quốc gia, vùng lãnh thổ, cùng hàng vạn quần chúng nhân dân tham dự; Lễ hội của Công giáo, Tin lành như: Đại hội đồng Giám mục Á châu; Lễ 100 năm Tin Lành đến Việt Nam.

Ban Tôn giáo Chính phủ phối hợp với Liên minh châu Âu (EU) tổ chức hội thảo: “Tôn giáo Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế, những kinh nghiệm quốc tế được chia sẻ”, Đối thoại “Liên tín ngưỡng ASEM lần thứ VI”... đón và làm việc với nhiều tổ chức, chức sắc tôn giáo đến trao đổi, tìm hiểu pháp luật tôn giáo của Việt Nam như: Viện Can dự Toàn cầu Mỹ (IGE); tập đoàn truyền thông (WAZ) của Đức vào tìm hiểu chính sách tôn giáo của Việt Nam…

Ban Tôn giáo Chính phủ, các cơ quan chức năng đã chủ động cung cấp thông tin về tình hình tôn giáo và chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước, trao đổi tận cùng các vấn đề mà dư luận quốc tế quan tâm, để thấy rõ thực tiễn đời sống tôn giáo ở Việt Nam đa dạng, phong phú. Chính sách, pháp luật đã tạo điều kiện để các tôn giáo tham gia vào các lĩnh vực của đời sống xã hội như: Tham gia vào bộ máy nhà nước, cơ quan quan dân cử (Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp), các đoàn thể chính trị xã hội; tham gia vào các lĩnh vực y tế, giáo dục, dạy nghề, từ thiện xã hội, các phong trào thi đua yêu nước; xây dựng nông thôn mới..., đảm bảo quyền tự do tôn giáo chính đáng của nhân dân Việt Nam.

Thế nhưng, thế lực xấu chưa bao giờ từ bỏ âm mưu “diễn biến hòa bình”, lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo, móc nối với số bất mãn chế độ, có tư tưởng định kiến với Đảng, Nhà nước ta, xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo, quy chụp những điều không có thật, yêu cầu thả người “đấu tranh cho tự do tôn giáo”... Rồi chúng xuyên tạc quy định “việc đăng ký điểm nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung” trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo là nhằm “kìm kẹp hoạt động tôn giáo”.

Chúng cũng lợi dụng những vấn đề xã hội như: ô nhiễm môi trường, về công tác cán bộ, công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước để xuyên tạc quan điểm, chủ trương, chính sách pháp luật của Việt Nam, với mục tiêu gây rối loạn trong lòng dân, trong chức sắc tôn giáo và đồng bào có đạo, gây sự hoài nghi, giảm sút niềm tin của chức sắc tôn giáo và tín đồ quần chúng nhân dân với Đảng, Nhà nước ta.

Đảng, Nhà nước ta khẳng định, động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo. Đảng, Nhà nước chủ trương xóa bỏ mặc cảm, định kiến, không phân biệt đối xử về thành phần giai cấp, dân tộc, tôn giáo, tôn trọng ý kiến khác nhau, không trái với lợi ích đất nước, lợi ích dân tộc, đề cao truyền thống nhân nghĩa, khoan dung, vì sự ổn định, phát triển của đất nước.

Mỗi khi Đảng có chủ trương, quan điểm mới về tôn giáo, Nhà nước kịp thời thể chế bằng những văn bản pháp luật để đưa vào thực tiễn. Đảng, Nhà nước ta cũng kịp thời chấn chỉnh để công tác tôn giáo đi vào nền nếp, đúng hướng, tạo sự tin tưởng của chức sắc tôn giáo và đồng bào có đạo. Để xây dựng và phát triển đất nước Việt Nam như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần đã khẳng định “chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín của đất nước như ngày nay”, là do sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, trong đó có sự đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

HH11

 

Thứ Năm, 4 tháng 5, 2023

VIỆT NAM KÊU GỌI CHẤM DỨT XUNG ĐỘT, TÌM GIẢI PHÁP HÒA BÌNH CHO VẤN ĐỀ UKRAINE


Về những diễn biến liên quan đến Ukraine, Việt Nam tiếp tục kêu gọi chấm dứt xung đột, khôi phục hòa bình, bảo vệ an ninh, an toàn của người dân và các cơ sở hạ tầng thiết yếu, kiên trì thúc đẩy đối thoại, đàm phán để tìm giải pháp hòa bình lâu dài cho các bất đồng trên cơ sở phù hợp và triệt để tôn trọng luật pháp quốc tế và Hiến chương LHQ.

Tại phiên họp, Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng Phái đoàn thường trực Việt Nam tại LHQ đã bày tỏ quan ngại về tình hình xung đột tại Ukraine trong một năm qua, cũng như trước diễn biến đáng lo ngại gần đây, hậu quả của cuộc xung đột, mất mát to lớn về người và của, cơ sở hạ tầng và tác động tiêu cực đối với khu vực, thế giới và các nỗ lực chung trong thúc đẩy hợp tác quốc tế, ứng phó với các thách thức toàn cầu.

Trước tình hình đó, Việt Nam nhấn mạnh sự cần thiết tuân thủ luật pháp quốc tế, Hiến chương LHQ, nhất là các nguyên tắc cơ bản quan trọng hàng đầu là tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực.

Việt Nam khẩn thiết kêu gọi các bên chấm dứt chiến sự, tránh hành động leo thang căng thẳng, nối lại đối thoại, đàm phán để tìm giải pháp hòa bình toàn diện, thỏa đáng, lâu dài cho các bất đồng trên cơ sở phù hợp và tôn trọng luật pháp quốc tế và Hiến chương LHQ, có tính đến lợi ích, quan tâm chính đáng của các bên liên quan, vì hòa bình, ổn định của khu vực và thế giới.

Bên cạnh đó, Việt Nam cho rằng, cộng đồng quốc tế cần tăng cường bảo vệ an ninh, an toàn của người dân, bảo đảm những nhu cầu cấp bách của người dân chịu ảnh hưởng bởi chiến sự, bảo vệ và duy trì các cơ sở dân sự, nhất là cơ sở hạ tầng thiết yếu đối với sự sống của người dân.

Việt Nam kêu gọi LHQ, các nước, các tổ chức và đối tác quốc tế tiếp tục gia tăng nỗ lực để viện trợ, cứu trợ người dân bị ảnh hưởng bởi xung đột, đồng thời ủng hộ vai trò, nỗ lực của LHQ và Tổng Thư ký LHQ trong tìm kiếm giải pháp. Việt Nam khẳng định sẵn sàng đóng góp trong khả năng của mình vào nỗ lực ngoại giao, tái thiết, hồi phục, cứu trợ ở Ukraine.

Trước tình hình xung đột giữa Nga và Ukraine hiện nay đang là vấn đề nóng của thế giới, Lập trường nhất quán của Việt Nam là yêu cầu tôn trọng luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc, giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hoà bình, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc, đặc biệt là các nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ, không sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Vì vậy chúng ta cần có nhận thức đúng đắn trước tình hình và có hành động tích cực trong giải quyết vấn đề xung đột giữa Nga và Ukraine./.

LĐ11

CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ KỶ NIỆM 48 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG MIỀN NAM THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC


Cách đây 48 năm diễn ra một sự kiện trọng đại làm “chấn động địa cầu”, đó chính là ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Chiến thắng vào ngày 30/4/1975 đánh dấu mốc son chói lọi trong lịch sử, mở ra một kỷ nguyên mới cho đất nước ta. Quân và dân ta đã đánh thắng đế quốc Mỹ - kẻ thù lớn mạnh và hung hãn nhất trên thế giới lúc bấy giờ và chính quyền tay sai ở miền Nam, giành lại độc lập, chủ quyền và kết thúc cuộc chiến đấu 30 năm giành độc lập tự do, thống nhất cho tổ quốc.

Nhân dân Việt Nam đã làm nên câu chuyện thần kì tưởng chừng không thể làm được giữa thế kỷ XX. Lần đầu tiên trong lịch sử, một dân tộc vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, kinh tế kém phát triển, đánh thắng những cường quốc, đế quốc chủ nghĩa chủ yếu bằng sức của chính mình, nêu một tấm gương anh dũng, bất khuất, trí tuệ, tài năng trước toàn thế giới”.

Vào ngày này hàng năm, người dân lại có dịp nhìn lại hình ảnh hào hùng của quân và dân ta. Chiến thắng của chiến dịch Hồ Chí Minh 1975 lịch sử đã chứng minh trí tuệ và tài thao lược tài tình của Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc lãnh đạo cách mạng, cũng như chứng minh được tinh thần bất khuất, tự cường, tự lực, bền bỉ, hào hùng của dân tộc Việt Nam ta trong công cuộc chống giặc ngoại xâm.

Ngày 30/4 là ngày lễ toàn dân mang ý nghĩa lịch sử trọng đại, đây là dịp hàng năm nhắc nhở thế hệ con cháu về sự hy sinh và tinh thần quật khởi của đồng bào ta cùng máu và nước mắt vì sự độc lập, tự do của ngày hôm nay.

Hướng tới kỷ niệm 48 năm ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30/4/1975 – 30/4/2023), các thế lực phản động sẽ tăng cường sự chống phá, tuyên truyền phủ nhận, xuyên tạc ý nghĩa lịch sử của ngày lễ trọng đại này. Với những luận điệu cho rằng: Ngày 30/4/1975 là dấu mốc gây chia rẽ dân tộc; rằng có thể dùng các biện pháp hòa bình để thống nhất đất nước; rằng cứ để hai miền Bắc - Nam theo hai chế độ khác nhau thì đất nước sẽ phát triển hơn; rằng ngày 30/4/1975 Bộ đội cụ Hồ cưỡng chiếm miền Nam, tháng tư nhắc nhở một quá khứ đen tối và buồn, ngày Quốc Hận…  Ngoài ra, chúng còn tổ chức những diễn đàn, những đêm văn nghệ nhằm “tẩy não” những người xem bằng ngôn từ thù địch, lật lọng, dối trá.

Những quan điểm, luận điệu, yêu sách sai trái, tiêu cực không phải xuất phát từ thiện chí hòa hợp, hòa giải dân tộc mà chỉ là một thủ đoạn để khoét sâu hận thù, kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc của những thế lực chống phá đất nước. Hơn ai hết, thế hệ trẻ - những người gắn bó mật thiết với sự phát triển của khoa học, công nghệ - cần tỉnh táo, tiên phong trong việc phản bác lại những quan điểm sai trái, hằn học, đi ngược lại giá trị của dân tộc Việt Nam.

Là người dân Việt Nam, chúng ta cần hiểu rõ, chiến tranh đã để lại cho đất nước những nỗi đau to lớn; biết bao xương máu các anh hùng đã đổ xuống để giành lấy độc lập, tự do. Hơn ai hết, chúng ta cần nhận thức đầy đủ nguyên nhân vì sao đất nước ta có chiến tranh, vì sao Bắc - Nam bị chia cắt. Đó là do mưu đồ của bọn đế quốc xâm lược, chúng muốn biến dân ta thành nô lệ, biến đất nước Việt Nam phải lệ thuộc vào ngoại bang.

Ngày nay, trong công cuộc đổi mới của đất nước, chúng ta mãi tự hào và biết ơn sự hy sinh to lớn của các anh hùng, các thế hệ cha ông ta đã chiến đấu anh dũng vì độc lập tự do và thống nhất Tổ quốc. Chúng ta càng tự hào, tin tưởng vào sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt tài tình của Đảng cộng sản Việt Nam, vào tinh thần quật cường bất khuất và trí thông minh, sáng tạo của dân tộc ta, của quân đội ta. Mỗi người dân Việt Nam nguyện tiếp tục phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần tự lực, tự cường, tinh thần đại đoàn kết toàn dân, quyết tâm vươn lên hoàn thành tốt các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh theo chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đề ra./.

QT 11