Thứ Năm, 30 tháng 4, 2020


SỰ THÀNH CÔNG TRONG PHÒNG, CHỐNG COVID-19
CÀNG TỎA SÁNG BẢN CHẤT ƯU VIỆT CỦA CHẾ ĐỘ XHCN Ở VIỆT NAM.
Nằm giáp Trung Quốc, trung tâm ổ dịch bệnh viêm phổi cấp do vi rút corona gây ra, VN được nhiều chuyên gia dự báo rất có thể sẽ là quốc gia bị dịch lây lan mạnh nhất ở châu Á. Nhưng chính VN đã làm cho cả thế giới phải thán phục, bất ngờ vì đã thể hiện tốt năng lực ứng phó, kiểm soát, phòng ngừa và dập dịch COVID-19.
Có thể nói, đất nước chúng ta về kinh tế còn thua kém rất nhiều so với các nước trên thế giới và trong khu vực, nhưng lại là nước có nền y tế nhân dân, toàn dân rộng khắp từ trung ương đến tận huyện, xã, cơ quan, trường học, nhất là hệ thống y tế dự phòng được triển khai ngày càng mạnh mẽ, góp phần kiểm soát, chăm sóc tốt sức khỏe cho người dân, đó cũng là điều nói lên bản chất ưu việt của chế độ XHCN ở VN. Nhìn ra thế giới mới biết, trong đại dịch Covid-19 ở các nước đại tư bản giàu có, chi phí cho 1 ca chữa bệnh vô cùng đắt đỏ (Mỹ 3.200 USD/ca), nhiều bệnh nhân nghèo phải chấp nhận cái chết trong đau đớn, tuyệt vọng (Mỹ dẫn đầu thế giới với gần 560.000 ca nhiễm, 23.000 người tử vong, chủ yếu là người nghèo, số hưởng trợ cấp xã hội…), thì VN lại thực hiện chính sách BHYT chi trả chi phí điều trị cho người bị nhiễm Covid-19, miễn chi phí cho người đi cách ly y tế tập trung. Đặc biệt là, một số nước tư bản phương Tây có sự kỳ thị, phân biệt đối xử giữa người trong nước với người nước ngoài. Thì trên tinh thần nhân đạo, Chính phủ nước VN XHCN đã chỉ đạo quan tâm, hỗ trợ để người nước ngoài tại VN cũng như người VN được được giám sát, chăm sóc y tế, điều trị tích cực trong trường hợp cần thiết. Những việc làm này đã được công dân nước ngoài, chính quyền các nước, cộng đồng quốc tế đánh giá rất cao; hy vọng rằng tinh thần này của VN sẽ được nhân rộng trên toàn thế giới để công dân của tất cả các quốc gia, vùng lãnh thổ đều được chăm sóc sức khỏe và được quyền sống.
Tính ưu việt của chế độ XHCN ở VN trong phòng, chống dịch Covid-19 còn thể hiện ở đạo lý nhân văn cao đẹp của dân tộc VN. Nhân dân vừa là đối tượng phục vụ của chế độ, vừa là nguồn gốc, nuôi dưỡng, nảy nở và phát huy những giá trị nhân văn của dân tộc; trong lúc hoạn nạn do đại dịch Covid-19 gây ra, những tấm lòng và nghĩa cử cao đẹp của muôn triệu người dân VN lại được tỏa sáng, lan tỏa khắp trên đất nước, mỗi con người, cộng đồng dân tộc VN cả trong và ngoài nước, bằng cả tư tưởng, lời nói, hành động, việc làm tràn đầy trách nhiệm, tình yêu thương của con người VN. Cộng đồng các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, các văn nghệ sĩ… đã tự nguyện san bớt gánh nặng đang đè lên vai Chính phủ. Cùng với đó là “đội quân” tình nguyện đã viết đơn sẵn sàng tham gia phòng, chống đại dịch, đi đầu là những sinh viên, học sinh các trường y, kể cả người làm ngành y đã nghỉ hưu trong cả nước; lực lượng CA, Quân đội. Ngoài ra, còn biết bao nhiêu những con người, tấm gương ở mọi giới, người già, người trẻ trên khắp mọi miền của đất nước đã và đang thầm lặng tham gia hỗ trợ Đảng, Nhà nước, Chính phủ, địa phương và các ban ngành cùng chống “giặc Covid”. Tấm lòng “máu chảy ruột mềm”, nghĩa cử “đồng bào” máu đỏ da vàng, “lá lành đùm lá rách” đang cuồn cuộn chảy trong “dòng giống Tiên Rồng”. Tính nhân văn, nhân bản của mọi người dân VN dưới chế độ XHCN đang được Đảng, Nhà nước định hướng, phát huy một cách cao cả.
Tuy nhiên, trong bối cảnh dịch bệnh vẫn có một số kẻ lạc lõng, ảo tưởng đăng đàn xuyên tạc, chê bai chế độ và đất nước, con người VN; cần khẳng định rằng lựa chọn con đường phát triển là quyền của mọi quốc gia - dân tộc. Sự lựa chọn đó chỉ thật sự trở nên có ý nghĩa và được người dân ghi nhận, đồng tình và tôn trọng khi hướng tới và xây dựng một xã hội dân chủ, bình đẳng, công bằng, vì lợi ích toàn dân, nhất là đối với nhân dân lao động, nghèo khó. Việc để dân bệnh, dân chết tràn lan trong dịch bệnh ở Mỹ và một số nước Châu Âu, cho thấy CNTB không phải là “thiên đường”, không phải là “đỉnh cao” như một số người vẫn thường ca ngợi, tán dương và ảo vọng. Chính thực tế đó càng chứng minh con đường Ðảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn nhằm xây dựng xã hội: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” là con đường duy nhất đáp ứng khát vọng của nhân dân Việt Nam! (MP)


Nghĩa tình quân – dân trong phòng chống dịch Covid-19
Trước khi dịch bệnh bùng lên ở Đức, chị Nguyễn Thị Lan (51 tuổi), sống ở một thành phố cách Munich khoảng 100km cảm thấy đau nhức trong người. Chị đến bệnh viện xét nghiệm xem mình có mắc Covid-19 không thì nhận kết quả âm tính. Đi khắp các bệnh viện ở Đức, bác sĩ không tìm ra bệnh của chị. Chị quyết định về Việt Nam khám bệnh dù biết là ngay khi đặt chân xuống sân bay, 2 mẹ con chị sẽ được đưa đi cách ly tập trung 14 ngày.
14 ngày trong khu cách ly ở doanh trại quân đội Trung đoàn Pháo binh 58 (xã Hoà Thạch, huyện Quốc Oai, Hà Nội), không đêm nào chị ngủ được vì đau. “Nhưng cứ nhìn thấy các chú bộ đội chăm sóc bà con là mình thương lắm” - chị Lan kể. “Các chú phải nhường chỗ, nhường giường, nhường chăn cho mình. Hằng ngày, cũng chính các chú đun nước uống, nước tắm cho bà con bằng bếp củi. Khổ lắm”’. Bây giờ, dù đã được về nhà nhưng cứ khi nào nhớ về 14 ngày cách ly trong doanh trại là chị Lan lại thấy xúc động và biết ơn. Chỉ kể, ngày đầu tiên vào doanh trại, mỗi người được phát một túi đồ dùng cá nhân gồm: Xà phòng, khăn mặt, bàn chải đánh răng, giấy vệ sinh…“Bà con được phục vụ không thiếu thứ gì mặc dù điều kiện trong đơn vị còn nhiều hạn chế”. “Cứ sáng sáng, 6 giờ 30 phút là bộ đội lại gọi bà con dậy ăn sáng. Các suất ăn được mang vào tận phòng. Ngày 3 lần như thế, lần nào các chú cũng hỏi han bà con có thiếu gì không, có ăn được không, ngủ được không. Khi bà con cần gì, đơn vị lại cử một người đi mua về phục vụ tận tình cho mọi người”.
Cùng đợt cách ly với chị là 298 người Việt bay về từ 23 nước châu Âu, Mỹ, Hàn Quốc. Có nhiều người mang cả trẻ con theo, thậm chí là vài tháng tuổi cũng có. “Quy định trong doanh trại rất nghiêm nhưng bộ đội thì rất tình cảm và gần gũi. Cứ bước chân vào đây là mình cảm thấy rất an toàn”. Chị Lan chia sẻ, ngay từ khi bước chân xuống sân bay, chị đã nghĩ đến việc sẽ xin phép đơn vị cho mình được trả các chi phí trong 14 ngày sinh hoạt. “Nhưng các chú không đồng ý. Các chú nói, các chú không được phép nhận tiền của bà con”.
Từ đó, chị Lan nảy ra ý tưởng vận động bà con trong khu cách ly cùng đóng góp để làm một con đường bê tông đi lại trong khu vực khuôn viên doanh trại. “Ngay từ lúc vào, mình đã thấy doanh trại có khuôn viên trồng nhiều cây rất đẹp và thoáng đãng nhưng lại trải nền đất, nhiều hôm đi lại rất lầy lội”. Đoạn đường bê tông dài 150 mét, rộng 80cm được hoàn thành trong vòng 3-4 ngày với sức lao động của chính các anh bộ đội và sự góp sức của những người trẻ đang cách ly. Ở khu vực giữa khuôn viên, chị Lan và mọi người cũng nhất trí mua thêm vài bộ ghế giả gỗ để có chỗ ngồi ngắm cảnh.
Chị Lan chia sẻ rằng “nói mãi đơn vị mới chịu nhận món quà này”. "Chúng tôi muốn làm một cái gì đó để làm kỷ niệm cho đơn vị, như một lời cảm ơn của bà con kiều bào gửi tới đơn vị vì đã chăm sóc tận tình tất cả chúng tôi 14 ngày qua". Chị cũng hào hứng khoe rằng, trước khi về, đồng chí chỉ huy doanh trại - một người có đam mê chăm sóc hoa lan - đã tặng cho chị một bầu lan rất đẹp. (MP)



Không thể thay đổi tên gọi và giá trị
 “Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước”
Hiện nay, khi nói về tên gọi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, do nhãn quan chính trị khác nhau, do sự hiểu biết khác nhau.
Có ý kiến cho rằng, gọi cuộc chiến tranh đó là "Chiến tranh Việt Nam". Họ lập luận rằng, vì nó xảy ra ở Việt Nam. Nếu chỉ căn cứ vào địa điểm xảy ra chiến tranh mà gọi như thế là phi chính trị. Cách đây gần hai thế kỷ Clao-dơ-uýt đã cho rằng: "Chiến tranh chỉ là một sự tiếp tục của chính trị bằng những biện pháp khác (cụ thể bằng bạo lực) và "Chiến tranh chẳng qua chỉ là chính trị từ đầu đến cuối". Do đó, không thể gọi cuộc chiến tranh xâm lược đó là "Chiến tranh Việt Nam".
Một số thế lực cho rằng, đây là một "cuộc nội chiến" giữa những người Cộng sản và không Cộng sản, hay là cuộc "chiến tranh ủy nhiệm" giữa hai phe TBCN và CNXH. Thực tế cho thấy, từ năm 1965 Mỹ hoàn toàn tham gia chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam, đến năm 1969 mới bắt đầu giai đoạn chuyển tiếp "Việt Nam hóa chiến tranh" và trong suốt hơn 20 năm từ 1954 đến 1975 Mỹ hoàn toàn nắm quyền định đoạt các chiến lược chiến tranh do Mỹ đề ra thì sao có thể gọi đây là "cuộc nội chiến" giữa người miền Bắc với người miền Nam được. Mặt khác, vì sự chính nghĩa nên cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ rộng rãi về tinh thần, sự giúp đỡ to lớn về vật chất của các lực lượng tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới, nhất là của Liên Xô, Trung Quốc, cùng các nước xã hội chủ nghĩa khác. Việt Nam trân trọng cảm ơn và không bao giờ quên sự ủng hộ, giúp đỡ đó. Tuy nhiên, cần phải khẳng định yếu tố quyết định, dẫn đến thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng dân tộc Việt Nam chính là sức mạnh vật chất, tinh thần của toàn thể dân tộc Việt Nam, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam...
Những tên gọi như trên và còn nhiều tên gọi khác nữa xét đến cùng cũng chỉ là lẩn tránh, xuyên tạc sự thật, biện hộ cho các luận điệu của những kẻ đã và đang rắp tâm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phá hoại quá trình hòa hợp của người Việt Nam ở nước ngoài mà thôi. Do đó, một lần nữa chúng ta tiếp tục khẳng định tên gọi: "Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước"./. (MP)


ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN 1975 – BẢN ANH HÙNG CA BẤT HỦ
CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
Thắng lợi cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 là một trong những thắng lợi vĩ đại nhất, hiển hách nhất trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam; cùng với trận Bạch Đằng (1288), trận Chi Lăng (1427), trận Đống Đa (1789), trận Điện Biên Phủ (1954) tạo nên những mốc son chói lọi trong hành trình phát triển đầy vinh quang của dân tộc Việt Nam, tô đậm thêm truyền thống anh hùng, bất khuất của dân tộc ta trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước.
Đại thắng mùa Xuân năm 1975 nói riêng và cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung không chỉ là thắng lợi riêng của dân tộc Việt Nam mà còn là thắng lợi của hệ thống chủ nghĩa xã hội, phong trào giải phóng dân tộc, phong trào yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới. Nó góp phần tăng cường sức mạnh của các nước xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện thuận lợi cho phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới giành thắng lợi; cổ vũ mạnh mẽ phong trào dân chủ tiến bộ trên thế giới tiếp tục phát triển. Đánh giá về tầm vóc và ý nghĩa của sự kiện lịch sử đại thắng mùa Xuân 1975, Đại hội lần thứ IV của Đảng khẳng định: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của Nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và tính thời đại sâu sắc”. Kỷ niệm 45, Đại thắng mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước là dịp để chúng ta ôn lại những trang sử hào hùng của dân tộc, đồng thời nhận thức sâu sắc hơn giá trị, sự hy sinh cống hiến của các thế hệ cha anh đi trước để tiếp tục rèn luyện, phấn đấu sống xứng đáng hơn nữa với sự hy sinh, cống hiến đó, với truyền thống của dân tộc.
Mỗi người Việt Nam, mà trước hết là thế hệ trẻ chúng ta hôm nay “đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta, mà cần hỏi ta đã làm gì cho Tổ quốc hôm nay”; trước hết đừng đưa ra đòi hỏi vô lý, yêu cầu quá đáng; hãy đề cao cảnh giác trước thông tin bịa đặt xuyên tạc, kích động chống phá của kẻ xấu; hãy suy xét kiểm chứng thông tin trước khi hành động; không ngừng ra sức phấn đấu học tập, công tác, nâng cao trình độ, góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp, văn minh, sớm sánh vai với các cường quốc năm châu như lời Bác Hồ dạy./. (MP)

Thứ Ba, 28 tháng 4, 2020


ĐỪNG LỢI DỤNG DỊCH COVID-19 ĐỄ DIỄN TRÒ CHỐNG PHÁ
Trước những nguy cơ đến từ đại dịch COVID-19, với tinh thần huy động tối đa lực lượng, phương tiện, biện pháp để phòng, chống dịch, từ Chính phủ đến chính quyền các địa phương, từ các tổ chức chính trị đoàn thể đến từng người dân, từ đồng bào trong nước đến kiều bào ta ở nước ngoài… đã hưởng ứng tham gia một cách tích cực, khẩn trương.
Trong đó, đã xuất hiện nhiều hành động đẹp, nhân văn góp sức, góp công vào cuộc chiến chống dịch, chia sẻ khó khăn với lực lượng trực tiếp làm nhiệm vụ cũng như người dân tại các khu vực cách ly tập trung. Thế nhưng, các đối tượng xấu vẫn tiếp tục diễn trò, lợi dụng dịch bệnh để xuyên tạc, chống phá.
Một trong số những câu chuyện được nhắc đến là “Bức thư chung kêu gọi trả tự do cho tù nhân ở Việt Nam”. Trong bài “Các tổ chức kêu gọi Thủ tướng Việt Nam thả tù nhân vì dịch COVID-19”, trang VOA loan tin: “Nhiều cộng đồng và tổ chức tôn giáo ở Việt Nam cũng như Ủy ban Luật gia Quốc tế hôm 6-4 đã lên tiếng kêu gọi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trả tự do cho tù nhân ở Việt Nam để họ tránh bị lây nhiễm virus Corona trong lúc lệnh cách ly xã hội đang được áp dụng trên toàn quốc.
Bức thư chung của 28 cộng đồng và tổ chức tôn giáo cùng với 108 cá nhân thuộc các cộng đồng tôn giáo và sắc tộc ở Việt Nam gửi đến Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đề nghị “trả tự do cho những tù nhân không nguy hiểm cho xã hội như các người hoạt động bảo vệ nhân quyền, những người thực thi quyền tự do ngôn luận, hoặc những người lên tiếng bảo vệ môi sinh”.
Ngay sau khi được công bố, trên nhiều diễn đàn đã phát đi những ý kiến phản đối, tẩy chay bức thư chung này, đơn giản vì đó là một ý tưởng viển vông, xa rời thực tế…; muốn đánh lận bản chất giữa những người hoạt động bảo vệ nhân quyền, những người thực thi quyền tự do ngôn luận, hoặc những người lên tiếng bảo vệ môi sinh với những kẻ cố tình lợi dụng những điều này để thực hiện mưu đồ chống phá Đảng, Nhà nước…
Với quan điểm “chống dịch như chống giặc”, ưu tiên hàng đầu của Việt Nam hiện nay là huy động tối đa các nguồn lực để chống dịch với mục tiêu đẩy lùi dịch COVID-19. Việc đáp ứng “yêu sách” này đồng nghĩa với việc kỷ cương, phép nước bị coi nhẹ và tạo điều kiện cho tội phạm hoành hành tràn lan, khó kiểm soát. Lúc đó, nguồn lực của chúng ta sẽ bị chi phối và đương nhiên sẽ ảnh hưởng xấu đến hiệu quả chống dịch trong thời điểm khó khăn, quan trọng bậc nhất này. Bức thư chung còn nêu “những tù nhân không nguy hiểm cho xã hội” với tư cách là một lí do khác để thuyết phục Nhà nước Việt Nam trả tự do cho tù nhân ở Việt Nam.
Có thể thấy, ngay bản thân vấn đề được nói đến đã chứa đựng sự mâu thuẫn. Bởi nếu họ đơn thuần chỉ là những người “hoạt động bảo vệ nhân quyền, những người thực thi quyền tự do ngôn luận, hoặc những người lên tiếng bảo vệ môi sinh” thì đó không phải là tội phạm, chứ đừng nói đến hành vi của họ có nguy hiểm cho xã hội hay không? Khi đó, hành vi trên sẽ không có một nhà nước hay chế định pháp luật nào được quyền bắt bớ, xử tù họ... Làm điều ngược lại sẽ đồng nghĩa với việc vi phạm nhân quyền.
Trên thực tế, những đối tượng bị bắt tại Việt Nam là phần tử đội lốt hoặc lợi dụng, nhân danh những hoạt động đó để thực hiện những mưu đồ chống phá chế độ... và việc đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi chủ yếu dựa trên tiêu chí này chứ không phải vỏ bọc dân chủ, nhân quyền. Và đối với một thể chế chính trị, nhà nước thì đây mới thực sự là những tội phạm nguy hiểm... Cho nên, cái gọi là "những tù nhân không nguy hiểm cho xã hội" thực chất là trò đánh lận con đen của những kẻ chuyên ủ mưu và dàn dựng những chuyện hòng gây sức ép...
Hiểu như thế để thấy rằng, trong cách nhìn nhận của những người đứng ra thảo bức thư chung đã có sự đánh đồng, nói đúng hơn là sự xảo biện, bao biện một cách bất chấp. Bằng chứng rõ ràng nhất là trong nhiều bản cáo trạng được nêu ra tại các phiên toà thì hành vi của họ được chỉ ra là lợi dụng hoặc nhân danh dân chủ, nhân quyền để phạm tội.
Việc cơ quan An ninh điều tra Công an TP Hồ Chí Minh đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can và thực hiện lệnh bắt bị can để tạm giam, lệnh khám xét đối với Phạm Chí Dũng về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam” theo Điều 117 - Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) mới đây là một ví dụ điển hình cho những điều được nói đến. Theo tài liệu của cơ quan chức năng ngày 4-7-2014, Phạm Chí Dũng ra “Tuyên bố thành lập Hội Nhà báo độc lập - IJAVN” với số lượng ban đầu hàng chục thành viên. Nội dung Điều lệ hoạt động của hội trái với quy định của pháp luật Việt Nam. Hành vi của Phạm Chí Dũng có nhiều hoạt động công khai vi phạm pháp luật nghiêm trọng và rất nguy hiểm; tác động xấu đến sự ổn định xã hội, ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh trật tự khi nhiều tin, bài viết được đăng tải trên “Việt Nam Thời báo” có nội dung chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Với những điều được đưa ra thì không thể nói rằng hành vi của Phạm Chí Dũng là không nguy hiểm cho xã hội, cái gọi là tự do ngôn luận của ông ta thực chất chỉ nhằm che đậy, biện hộ cho hành vi chống đối của mình. Cái cách định danh, gọi tên “những tù nhân không nguy hiểm cho xã hội” từ bức thư chung vì thế cho thấy tư duy xảo biện của những kẻ lĩnh xướng hoặc tham gia ký tên vào bức thư chung này.
Đây không phải lần đầu tiên những “bức thư chung” kiểu thế này xuất hiện. Thông thường, nó thường diễn ra vào những thời điểm được dư luận đánh giá là nhạy cảm như trước, trong các kỳ Đại hội Đảng, bầu cử Đại biểu Quốc hội, HĐND các cấp, hoặc trong các thời điểm khủng hoảng kinh tế, xã hội, thiên tai và dịch bệnh… Việc lợi dụng thời điểm đại dịch COVID-19 đang hoành hành trên thế giới để đưa ra thư chung hòng gây sức ép càng cho thấy bản chất cơ hội, sự thâm hiểm, chống đối đến cùng của các thế lực thù địch. (MP)



PHÒNG CHỐNG VIỆC LỢI DỤNG PHẢN BIỆN XÃ HỘI
ĐỂ CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM
Xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, lật đổ chế độ XHCN mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang xây dựng là mục tiêu không bao giờ thay đổi của các thế lực thù địch. Dù không mới nhưng âm mưu, thủ đoạn để thực hiện mục tiêu của chúng thì ngày càng tinh vi hơn. Lợi dụng phản biện xã hội (PBXH), xem PBXH là "chiêu bài" để chống phá Đảng, Nhà nước là một trong những thủ đoạn như thế.
Thực tế cho thấy nhận thức về PBXH của nhân dân ta còn có những khoảng trống. Do vậy, muốn làm thất bại âm mưu, thủ đoạn lợi dụng PBXH để chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, chúng ta cần đặt lên hàng đầu việc tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức của người dân về hoạt động PBXH. Có như vậy mới giúp người dân hiểu đúng mục đích, ý nghĩa của công việc hệ trọng này, phân biệt được đâu là PBXH tích cực, đâu là PBXH tiêu cực, từ đó đề cao cảnh giác, chủ động phát hiện, kịp thời đấu tranh với những hành vi lợi dụng PBXH để chống phá.
Vai trò định hướng để hoạt động PBXH diễn ra đúng mục đích, ý nghĩa và đem lại hiệu quả tích cực của các cấp ủy đảng, chính quyền, cơ quan chức năng là rất quan trọng. Cùng với phát huy tốt vai trò định hướng, cấp ủy đảng, chính quyền các cấp cần quan tâm tạo điều kiện thuận lợi để các tầng lớp nhân dân được tiếp cận thông tin, nghiên cứu, thể hiện quan điểm, chính kiến của mình đối với từng nội dung liên quan tới đường lối, chủ trương, chính sách, thể chế... tác động trực tiếp đến quyền lợi của người dân.
Đối với từng người dân, khi tiếp cận với những thông tin, tài liệu, nhất là những nội dung thuộc quan điểm về các vấn đề hệ trọng, nhạy cảm của đất nước tán phát trên MXH, cần phải tỉnh táo nhận diện đâu là thông tin tốt, đâu là thông tin xấu, đâu là thông tin có cơ sở khách quan, đâu là thông tin xuyên tạc. Nâng cao hiểu biết, tự trang bị cho mình những kiến thức cần thiết là cách tốt nhất để mỗi người nâng cao "sức đề kháng", tránh bị cuốn theo những giọng điệu xuyên tạc, kích động chống phá của các thế lực thù địch.
Đi đôi với mở rộng dân chủ, tổ chức chặt chẽ hoạt động PBXH tích cực, cần làm tốt việc nắm bắt, tổng hợp, tiếp thu ý kiến của nhân dân để trình cấp có thẩm quyền xem xét quyết định. Trong tổng hợp và ghi nhận những ý kiến đóng góp của nhân dân, các cơ quan chức năng cần có sự đánh giá, phân tích kỹ lưỡng, thận trọng, không để kẻ xấu lợi dụng PBXH để thực hiện những mục đích đen tối.
Công tác bảo vệ chính trị nội bộ cần tiến hành chặt chẽ, lấy phòng là chính nhưng cũng phải kiên quyết đấu tranh để vừa bảo vệ, vừa ngăn chặn tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị trong nội bộ, lợi dụng PBXH để thực hiện những động cơ, mục đích không trong sáng. Đặc biệt, cần quan tâm quản lý, giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, nhất là lớp trẻ để bồi dưỡng xây dựng những nhân tố tích cực, kịp thời phát hiện những tư tưởng, hành động sai trái. Đối với những cán bộ, đảng viên, công chức thoái hóa biến chất về chính trị lợi dụng PBXH tiếp tay cho các thế lực thù địch, cần xử lý kịp thời, nghiêm minh. Cần coi trọng công tác phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn có hiệu quả âm m­ưu, thủ đoạn lợi dụng hoạt động PBXH để tuyên truyền, xuyên tạc chống phá Đảng và Nhà nước ta.
Các lực lượng chức năng cần chủ động phát hiện những hội, nhóm, cá nhân lợi dụng PBXH để tuyên truyền, tán phát những quan điểm sai trái trên MXH, từ đó có biện pháp kiên quyết đấu tranh. Đối với những trang mạng lợi dụng PBXH để tuyên truyền theo kiểu xuyên tạc, kích động chống phá Nhà nước Việt Nam, âm mưu làm mất ổn định chính trị ở Việt Nam thì cần tổ chức lực lượng phối hợp với các nhà mạng, kết hợp giữa biện pháp kỹ thuật với biện pháp hành chính để đấu tranh ngăn chặn và xử lý kịp thời theo quy định của pháp luật. (MP)


Cảnh giác với hiện tượng gieo mầm, nuôi dưỡng
 đối tượng phản biện xã hội tiêu cực
Mở rộng dân chủ, tăng cường phản biện tích cực, lắng nghe những ý kiến đóng góp tâm huyết của nhân dân là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta. Hưởng ứng tinh thần ấy, các hoạt động phản biện, phản biện xã hội (PBXH) thời gian qua diễn ra khá sôi động và mang lại những kết quả tích cực. Thế nhưng, một thực tế rất đáng quan tâm là cả trong và ngoài nước xuất hiện một số người lợi dụng PBXH để gây nhiễu thông tin, làm rối tình hình, kích động, hòng tạo ra những mâu thuẫn trong xã hội. Lợi dụng tình hình này, các thế lực thù địch, một số tổ chức phản động đã móc nối, gieo mầm, nuôi dưỡng các đối tượng PBXH để sử dụng làm công cụ chống phá Đảng và Nhà nước ta.
Theo cách hiểu phổ quát, PBXH là sự tương tác, giao thoa qua lại về quan điểm, tư duy của các lực lượng, thành phần trong xã hội trước những vấn đề thuộc chủ trương, chính sách, thể chế... có liên quan trực tiếp đến quyền lợi của các thành viên trong xã hội. Thông qua việc lắng nghe, tiếp thu những ý kiến phản biện xác đáng, có cơ sở khoa học mà các chủ trương, chính sách, thể chế... của cộng đồng ngày càng phù hợp, đáp ứng tốt hơn với những đòi hỏi của thực tiễn.
Thực tế cho thấy, trước mỗi kỳ đại hội đảng, mỗi lần sửa đổi Hiến pháp, ban hành các đạo luật hay trước các sự kiện lớn, những vấn đề hệ trọng của đất nước... Đảng và Nhà nước ta đều công bố rộng rãi các văn kiện dự thảo, đưa ra quan điểm, chủ trương... để lấy ý kiến thảo luận, đóng góp của toàn dân. Đại đa số nhân dân có ý thức trách nhiệm cao, luôn coi mỗi đợt đóng góp ý kiến xây dựng dự thảo các văn kiện là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng và hưởng ứng tích cực. Các cơ quan chức năng luôn quan tâm tạo điều kiện thuận lợi nhất để người dân tiếp cận sớm, hướng dẫn người dân nghiên cứu, bày tỏ quan điểm, ý kiến của mình về từng nội dung trong dự thảo các văn kiện và những vấn đề quan trọng. Các bộ, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị tổ chức hàng trăm hội nghị, hội thảo, tọa đàm... nhằm tạo điều kiện để người dân có cơ hội bày tỏ quan điểm. Hằng ngày, hằng giờ, mọi người dân đều có thể tiếp nhận thông tin và phản ánh quan điểm, ý kiến của mình qua hàng trăm xuất bản phẩm báo chí in, báo điện tử, đài phát thanh, truyền hình từ Trung ương đến địa phương.
Tất cả ý kiến dù đồng thuận hay không đồng thuận đều được cơ quan chức năng tổng hợp báo cáo với Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ để xem xét quyết định. Theo tinh thần ấy, để nâng cao chất lượng xây dựng các dự thảo văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh việc phát huy dân chủ, lắng nghe, trân trọng các ý kiến đóng góp của nhân dân, nhất là của các chuyên gia, nhà khoa học có kiến thức chuyên sâu về từng lĩnh vực... chắt lọc để nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các dự thảo văn kiện. Chính nhờ mở rộng dân chủ, phát huy tinh thần PBXH của toàn dân mà các văn kiện của Đảng, Nhà nước ta đều thể hiện sự kết tinh giữa ý Đảng với lòng dân, được sự đồng thuận trong xã hội và sớm đi vào cuộc sống.
Thực tế chứng minh, để hoạt động PBXH đi đúng hướng, theo đúng ý nghĩa tích cực thì việc bày tỏ các quan điểm, nêu ý kiến đóng góp phải theo đúng quy trình, trên nền tảng khoa học, với thái độ khách quan, đặc biệt là phải đặt lợi ích của cộng đồng, lợi ích quốc gia-dân tộc lên trên hết. Thế nhưng, đã có không ít người lợi dụng hoạt động PBXH để mưu mô cơ hội, phản biện kiểu phủ nhận sạch trơn, với các quan điểm hoàn toàn không vì lợi ích của cộng đồng, lợi ích của đất nước. Những quan điểm này càng trở nên nguy hiểm khi được các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá.
Những người mang động cơ xấu, nhằm mục đích chống phá đất nước không bày tỏ quan điểm theo quy trình tổ chức và các kênh chính thống. Các đối tượng triệt để lợi dụng ưu thế của internet, nhất là mạng xã hội (MXH) để tiến hành các hoạt động chống phá núp dưới danh nghĩa PBXH. Dưới sự giật dây của các thế lực thù địch, một số phần tử cơ hội trong nước và cả ở nước ngoài đã soạn ra các văn bản dưới dạng “tâm thư”, “thư ngỏ”, “thư góp ý” (cả chính danh, nặc danh và mạo danh); thậm chí họ còn soạn hẳn một dự thảo văn kiện mới, hoàn toàn khác với dự thảo văn kiện chính thống được công bố... để thể hiện những ý kiến trái ngược với quan điểm của Đảng, Nhà nước rồi gửi đến các đồng chí lãnh đạo. Với kiểu lập luận của họ, thông qua các câu từ bóng bẩy, chau chuốt... thoáng qua người ta dễ lầm tưởng đó là những "ý kiến tâm huyết", "những đóng góp chân thành"... Nhưng thực chất, trước khi những “tâm thư”, “thư ngỏ”, “thư góp ý”... kia được gửi đi thì nó đã được các đối tượng đưa lên MXH. Để minh họa cho những quan điểm sai trái đã nêu, núp dưới chiêu bài PBXH, họ dựng chuyện, tung ra nhiều thông tin thất thiệt, tuyên truyền xuyên tạc, nhằm gây nhiễu loạn thông tin, kích động, gây áp lực, gieo rắc tâm lý hoài nghi, gây bất ổn trong dư luận.
Trên không gian mạng, họ lập ra các hội, nhóm trá hình, sau đó tuyên truyền vận động, lôi kéo những người thiếu bản lĩnh, nhẹ dạ cả tin tham gia. Thông qua đó, họ khơi gợi các thành viên trong từng hội, nhóm theo danh nghĩa PBXH nêu những quan điểm, ý kiến trái chiều, nhưng thực chất là tuyên truyền xuyên tạc quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước; kích động tư tưởng, thái độ chống đối. Đặc biệt, trước những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, như: Dân tộc, tôn giáo, môi trường, chủ quyền biển, đảo... họ sử dụng các hội, nhóm và những đối tượng đã được móc nối, nuôi dưỡng đội lốt PBXH đưa lên MXH hàng loạt quan điểm, ý kiến đi ngược lại với quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta. Họ mưu toan phát triển đưa các hội, nhóm trên không gian mạng thành tổ chức, hoạt động dưới dạng câu lạc bộ tự do, hòng từ đó biến hoạt động PBXH trở thành một trào lưu làm méo mó thực tiễn.
Ngoài sử dụng những đối tượng PBXH đã được móc nối, để chống phá Việt Nam lâu dài, các thế lực thù địch với cách mạng Việt Nam rất quan tâm đến việc gieo mầm, nuôi dưỡng, phát triển lực lượng phản biện mới. Đối tượng PBXH trong giới trẻ và cán bộ, đảng viên, công chức... được họ đặc biệt để mắt. Cùng với tài trợ về tài chính, họ còn hướng dẫn nội dung, kế hoạch hoạt động liên kết thành mạng lưới. Khi xuất hiện những quan điểm đi ngược chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trên không gian mạng, thì ngay lập tức họ huy động lực lượng "chân rết" vào bình luận, chia sẻ, tung hô... Họ thường đánh tráo khái niệm giữa ý kiến PBXH chính thống được Đảng, Nhà nước ta tiếp thu, với những giọng điệu tuyên truyền chống phá; hoặc đánh đồng giữa những người có ý kiến khác với những đối tượng cơ hội chính trị, lợi dụng PBXH để gây bất ổn trong dư luận. Vì thế, khi một số đối tượng lợi dụng PBXH để tuyên truyền xuyên tạc, chống phá Nhà nước bị đưa ra xử lý trước pháp luật thì họ cho rằng Việt Nam “đàn áp người bất đồng chính kiến”, “vi phạm quyền tự do ngôn luận”... rồi từ đó kêu gọi các tổ chức quốc tế can thiệp.
Có thể khẳng định PBXH bên cạnh mặt tích cực, đang bị các thế lực thù địch trong và ngoài nước để chống phá cách mạng Việt Nam. Vì vậy, mọi người dân Việt Nam yêu nước cần thấy rõ âm mưu, thủ đoạn của chúng, nêu cao tinh thần cảnh giác không để bị lợi dụng trở thành công cụ trong tay bọn phản động chống phá lại lợi ích của đất nước và dân tộc. (MP)