Chủ Nhật, 2 tháng 7, 2023

HIỂU ĐÚNG QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY


Quyền tự do ngôn luận, báo chí và quyền tiếp cận thông tin là một quyền cơ bản, quan trọng của cá nhân được quy định trong nhiều công ước quốc tế về quyền con người. Ở Việt Nam, quyền con người được quy định trong các hiến pháp, đặc biệt là Hiến pháp năm 2013, thế mà các phần tử thù địch đã đăng một số bài viết về cung cấp thong tin như “Cuộc chiến thông tin của Việt Nam chống lại ai”, dẫn chứng một số phát ngôn của những kẻ thường xuyên chống đối chính quyền xung quanh vấn đề cung cấp thông tin, quản lý thông tin của Chính phủ Việt Nam. Trong đó nổi lên có nhận định cho rằng: “Cộng sản Việt Nam từ khi thiết lập cai trị đến nay luôn kiểm soát thông tin”, xuyên tạc, bịa đặt “Bản chất cuộc chiến thông tin của chính quyền Việt Nam là chống lại người dân, để bảo vệ quyền lực cho Đảng Cộng sản”.

Như chúng ta đã biết, quyền tiếp cận thông tin và được thông tin là một thành tố quan trọng của quyền tự do thông tin, một quyền cơ bản của con người, được Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền năm 1948 thừa nhận và xác định. Quyền tự do thông tin bao gồm quyền tìm kiếm, thu thập, phổ biến và quyền được thông tin. Quyền được thông tin tạo cơ sở cho người dân trong việc giám sát sự công khai, minh bạch trong hoạt động của nhà nước.  

Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân, bởi đây là một trong những quyền cơ bản của con người. Chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước ta là khuyến khích, tạo mọi điều kiện thuận lợi để người dân được thông tin; mọi công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin; khai thác, sử dụng internet để tiếp cận thông tin nhằm phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, hỗ trợ cải cách hành chính, nâng cao chất lượng cuộc sống và thực hiện các quyền tự do cơ bản của nhân dân. Chủ trương này đã được hiến định trong Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013) và được cụ thể hóa trong nhiều đạo luật, nghị định, như: Luật Báo chí (2016), Luật Tiếp cận thông tin (2016), Nghị định 72/2013/NĐ-CP, ngày 15/07/2013 của Chính phủ về Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng,… Thủ tướng Chính phủ còn hành Quy chế về cơ chế phát ngôn, cung cấp thông tin cho báo chí của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo các quy định của pháp luật và hoạt động báo chí hiện hành...

Ở Việt Nam, quyền tiếp cận thông tin của người dân Việt Nam được biết đến chính là thông qua các đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, hoặc thông qua các cuộc họp dân (họp đại diện gia đình trong thôn, tổ dân phố, họp cử tri…); thông qua hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo; yêu cầu cơ quan báo chí cung cấp thông tin của công chúng tới các cơ quan nhà nước và chuyển tiếp câu trả lời của các cơ quan nhà nước tới công chúng… Những quyền tiếp cận thông tin này không chỉ là một quyền thụ động do cơ quan nhà nước công khai thông tin theo nhận thức của mình, mà còn là quyền chủ động, được đòi hỏi các cơ quan, tổ chức nhà nước đáp ứng. Mọi hành vi cản trở, đe dọa đến quyền được thông tin, quyền tự do tiếp cận thông tin; lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do thông tin để xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp và chính đáng của tổ chức, cá nhân; gây tổn hại đến uy tín, danh dự của người khác; xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức và sức khỏe cộng đồng... tùy vào tính chất, mức độ đều bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Như vậy chúng ta có thể khẳng định rằng Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân, không như những gì mà các thế lực thù địch xuyên tạc trên Đài RFA về cái gọi là “kiểm soát thông tin” của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy bản thân mỗi chúng ta cần có nhận thức đúng đắn, thực hiện việc tốt tiếp cận thông tin, cung cấp thông tin theo quy định của pháp luật, của Quân đội, nêu cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranh, phản bác mọi luận điệu sai trái, xuyên tạc, bóp méo sự thật về bảo đảm quyền con người nói chung và quyền được thông tin, tiếp cận thông tin của người dân Việt Nam nói riêng.

HĐ11

 

LẬT TẨY NHỮNG NỘI DUNG, CÁCH THỨC XUYÊN TẠC VỀ TÌNH HÌNH TỰ DO TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

 

Một trong những chiêu bài thường được các thế lực thù địch, phản động sử dụng là đăng tải, công bố các thông tin phiến diện, lệch lạc, thù địch, xuyên tạc về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam. Đấu tranh trên lĩnh vực này là nhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩa quan trọng, góp phần giúp cộng đồng trong nước và quốc tế nắm rõ, nhận thức đúng đắn về tình hình tự do tôn giáo và pháp luật về tôn giáo ở Việt Nam.

Các quan điểm sai trái, thù địch, điển hình là những báo cáo phiến diện, lệch lạc, thiếu căn cứ khoa học lẫn pháp lý của Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Mỹ - USCIRF, thường lặp đi lặp lại điệp khúc rằng: tình trạng vi phạm tự do tôn giáo vẫn tiếp diễn ở Việt Nam; sự đàn áp của Chính phủ tiếp tục là một thực tế khắc nghiệt đối với các nhóm tôn giáo độc lập chưa đăng ký. Các thế lực phản động, thù địch thường lập luận một cách vô căn cứ về quyền tự do tôn giáo được ghi nhận trong luật pháp về tôn giáo của Việt Nam, xuyên tạc rằng các quy định về quyền tự do tôn giáo trong pháp luật Việt Nam là “hạn chế về bản chất”, “đi ngược lại với các tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế và vi phạm một cách có hệ thống tự do tín ngưỡng”.

Cần phải khẳng định rằng, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong luật pháp ở Việt Nam được xây dựng dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin - một học thuyết khoa học, đúng đắn về tự do tôn giáo khi đặt nó trong quyền con người (nhân quyền) - như C. Mác đã khẳng định: “Tự do tín ngưỡng là quyền thực hành bất cứ tín ngưỡng nào,... quyền được mộ đạo, được mộ đạo theo bất luận kiểu nào, được hành đạo theo tôn giáo riêng của mình. Đặc quyền tín ngưỡng là một quyền phổ biến của con người”. Kế thừa và vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Tự do tín ngưỡng là một quyền lợi căn bản của nhân dân ta”.

Ở Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo luôn được Đảng, Nhà nước ta khẳng định, được pháp luật thừa nhận và thực thi trong thực tế. Hiến pháp Việt Nam năm 2013 đã mở rộng nội hàm khái niệm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, thay cụm từ “mọi công dân” (quyền công dân) (Hiến pháp năm 1992), bằng cụm từ “mọi người” (nhân quyền, quyền con người). Điều 24, Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. 2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. 3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”.

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được mở rộng cho cả những “người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định của pháp luật về thi hành tạm giữ, tạm giam; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc”, và “người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam” (Điều 8).

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam luôn được thực hiện trong thực tiễn, được pháp luật bảo hộ và được chính quyền tạo điều kiện. Thể hiện ở số lượng tín đồ các tôn giáo không ngừng gia tăng, sinh hoạt đời sống tâm linh, tôn giáo diễn ra sôi động. Theo số liệu của Ban Tôn giáo Chính phủ, số lượng tín đồ, chức sắc tôn giáo không ngừng tăng lên. Năm 1997, cả nước có trên 15 triệu tín đồ, chiếm hơn 20% dân số; đến năm 2021, số tín đồ của 41 tổ chức tôn giáo đã được công nhận tăng lên 26,59 triệu người, chiếm trên 27% dân số. Bên cạnh đó có hơn 200 nghìn người thuộc 70 nhóm Tin lành tư gia và trên 30 nghìn người thuộc hơn 60 hiện tượng tôn giáo mới (“đạo lạ”), chưa đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung. Ngoài ra, đại đa số người Việt Nam có đời sống tâm linh, theo tín ngưỡng đa thần truyền thống.

Trước các luận điệu sai trái, xuyên tạc của thế lực thù địch mỗi quân nhân cần tích cực đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta trên lĩnh vực tôn giáo, dân tộc có hiệu quả, góp phần làm cho xã hội và cộng đồng quốc tế hiểu rõ hơn luật pháp về tự do tôn giáo và tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam. Tăng cường công tác tuyền truyền, phổ biến về luật pháp về tự do tôn giáo và tình hình tự do tôn giáo ở nước ta cho cán bộ, chiến sĩ trong quân đội, toàn dân và cộng đồng quốc tế hiểu rõ hơn. Quán triệt, nâng cao nhận thức mọi mặt, về quan điểm, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo. Nghiêm túc chấp hành chính sách, pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo; Nâng cao chất lượng của công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch nhằm bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trên phương diện tín ngưỡng, tôn giáo. Đi đôi với đấu tranh phản bác các luận điểm sai trái, thù địch cần phải tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển lý luận của Đảng về tôn giáo ngày càng sâu sắc hơn, đáp ứng với yêu cầu của cách mạng trong tình hình mới.

Có thể nói, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã và đang nỗ lực nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng tôn giáo cho mọi người dân. Tuy nhiên, các thế lực thù địch và một số phẩn tử phản động trong tôn giáo đang cố tình phớt lờ những nỗ lực của Đảng và Nhà nước ta, phớt lờ những thành tựu về tự do tôn giáo ở Việt Nam. Họ đã và đang lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước, chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. gây sức ép, “mặc cả” Việt Nam đánh đổi các vấn đề về chính trị và lợi ích kinh tế trong quan hệ quốc tế và từng bước cải cách Việt Nam theo hướng tự do, dân chủ theo kiểu phương Tây, từ đó chuyển hóa chế độ chính trị của Việt Nam hoặc có thể tạo cớ công khai can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta. Do đó, mỗi quân nhân cần tỉnh táo nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; thực hiện tốt chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, tạo sự ổn định để phát triển đất nước theo mục tiêu mà dân tộc ta đã lựa chọn.

NT11

 

 

 

ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH VỀ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO CỦA VIỆT NAM


Biển Đông ngày càng được định vị quan trọng hơn trong các chính sách đối ngoại của các nước trên thế giới, là tâm điểm tranh giành quyền lực và tầm ảnh hưởng của các quốc gia trong và ngoài khu vực đặc biệt là các nước lớn. Hơn hai thập kỷ trôi qua, vùng biển này luôn là “chảo lửa” trên bàn cờ chính trị của khu vực. Do đó, các thế lực phản động đã triệt để lợi dụng internet và mạng xã hội để tung ra những thông tin sai sự thật nhằm xuyên tạc, chống phá vấn đề chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.

Trước hết, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã lập nên các tờ báo, đài phát thanh phản động ở nước ngoài như BBC, Đài châu Á tự do (RFA)..; các trang mạng xã hội như facebook, Youtube, Twitter,… để phát tán tài liệu, hình ảnh, video xuyên tạc tình hình, diễn biến phức tạp trên Biển Đông. Thủ đoạn quen thuộc của các thế lực thù địch là lợi dụng những “điểm nóng” trên biển Đông để bóp méo, bịa đặt, xuyên tạc quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Điển hình là các sự kiện như: tàu Viking 02 và tàu Bình Minh 02 của Việt Nam bị cắt cáp năm 2011 và 2012; dàn khoan Hải Dương 981 xâm phạm chủ quyền biển, đảo của Việt Nam trên biển Đông năm 2014; sự kiện Bãi Tư Chính (từ ngày 4/7/2019 đến ngày 24/10/2019). Và từ đầu tháng 5/2023 đến nay tình hình Biển Đông lại “nóng lên” khi Trung Quốc tiếp tục điều tàu khảo sát, tàu hải cảnh, tàu dân binh vi phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa phía Nam Biển Đông của Việt Nam.

Các đối tượng phản động đã lợi dụng những sự kiện đó để xuyên tạc chủ trương, chính sách và các hoạt động bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Đảng, Nhà nước Việt Nam, gây chia rẽ, bất ổn trong nước. Chúng viết bài đưa ra các luận điệu xuyên tạc: “Chính phủ Việt Nam nhu nhược, hèn nhát”, “Chính phủ Việt Nam bán Biển Đông”, “Cộng sản Việt Nam làm ngơ về Biển Đông”, Đảng, Nhà nước Việt Nam im lặng vì đã thỏa hiệp với nước ngoài; chính quyền “không nói rõ về tình hình tại khu vực bãi Tư Chính”, “không có giải pháp mạnh với Trung Quốc”. Chính phủ Việt Nam “bịt miệng báo chí”, “Nhà nước Việt Nam đã đồng ý giao bãi Tư Chính cho Trung Quốc” để nhân đó kêu gọi lật đổ chế độ. Có kênh Youtube tung ra nhiều tin giả như “vụ Tư Chính là bước đầu để hợp thức hóa Mật ước Thành Đô” để kích động nhân dân bức xúc, xúi giục biểu tình, tẩy chay Trung Quốc.

Bên cạnh đó, lấy cớ việc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ bác bỏ hầu hết yêu sách chủ quyền trên biển Đông của Trung Quốc, trên mạng xã hội các tổ chức khủng bố, phản động lại tăng cường tái diễn nhiều chiêu trò, luận điệu xuyên tạc về chủ trương, đường lối, chính sách, của Đảng, Nhà nước ta; cổ súy cho việc “bài Trung, thân Mỹ” hòng gây mất ổn định, mất đoàn kết trong nước và quốc tế làm tổn hại lợi ích quốc gia, dân tộc.

Các thế lực thù địch còn tán phát nhiều tài liệu, bài viết có nội dung xuyên tạc đường lối đối ngoại hòa bình, độc lập, tự chủ; chính sách quốc phòng của Việt Nam và khả năng chiến đấu của Quân đội, gây tâm lý bất an, hoài nghi của một bộ phận quần chúng do thiếu thông tin, do ngộ nhận; đòi “hợp tác với một nước khác để giải quyết tình hình”, từ đó đánh vào tâm lý người dân, cho rằng lãnh đạo Đảng, Nhà nước “vì phe này, phe kia” để chủ quyền biển, đảo bị xâm lấn; đưa ra luận điệu: khi đất nước chỉ có một đảng thì không có đủ sức mạnh để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, từ đó hướng lái tư tưởng đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Lợi dụng các trang mạng xã hội, các thế lực thù địch rêu rao rằng Đảng, Nhà nước Việt Nam “nhu nhược” trong đường lối, chính sách bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển; hải quân Việt Nam “hèn yếu”, “nhu nhược”...

Mục đích của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội khi lợi dụng internet và mạng xã hội để đưa các thông tin tuyên truyền sai sự thật, xuyên tạc về tình hình biển Đông là nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, chia rẽ giữa Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân trong vấn đề bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Mưu đồ sâu xa của các thế lực là thông qua vấn đề biển, đảo để chống phá chế độ, gây chia rẽ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, thực hiện “diễn biến hòa bình”; chia rẽ quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước có liên quan, làm cho Việt Nam rơi vào tình trạng đối đầu, bị cô lập. Đó là những âm mưu thâm độc, thủ đoạn tinh vi nên cần phải có những cách thức để đấu tranh phản bác có hiệu quả.

Trong bối cảnh tình hình biển Đông đã và đang có nhiều diễn biến phức tạp, cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và các lợi ích chính đáng, hợp pháp của Việt Nam theo luật pháp quốc tế ở Biển Đông ngày càng khó khăn, quyết liệt hơn bao giờ hết. Quan điểm thống nhất, xuyên suốt của Việt Nam là bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ và các lợi ích hợp pháp trên Biển Đông, đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước, củng cố quan hệ hữu nghị, hợp tác với Trung Quốc, các nước ASEAN và các nước khác: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền và các lợi ích hợp pháp, chính đáng của quốc gia trên biển, đồng thời chủ động, tích cực giải quyết, xử lý các tranh chấp, bất đồng trên Biển Đông bằng các biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định và hợp tác để phát triển”.

Những quan điểm trên chính là căn cứ chính trị, pháp lý quan trọng để chúng ta cần kiên trì, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc vấn đề chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Do vậy mỗi người dân Việt Nam cần hiểu rõ về lập trường, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề chủ quyền là nhất quán và đều vì lợi ích của dân tộc và nhân dân Việt Nam; đồng thời có thái độ ủng hộ, tin tưởng, tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay; từ đó góp phần làm cho cộng đồng quốc tế hiểu rõ về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam trên khu vực Biển Đông, qua đó tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của bạn bè quốc tế đối với cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.

ĐQ11

 

THỰC TIỄN VÀ THÀNH QUẢ SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI PHỦ NHẬN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM


Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930, đã có không ít quan điểm sai trái, thù địch chống phá Đảng, xuyên tạc, phủ nhận con đường cách mạng mà Đảng và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn trong hơn 90 năm qua. Họ cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam đưa dân tộc Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) không khác gì “đẩy dân tộc vào “thiên đường mù”, “bến bờ ảo vọng”. Luận điệu xuyên tạc này đã bị phủ nhận hoàn toàn bởi thực tiễn công cuộc đổi mới và những thành quả ban đầu của sự nghiệp xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa (XHCN).

Thực tế cho thấy, từ khi thành lập đến nay, với đường lối đúng đắn và bản lĩnh của một Đảng cách mạng chân chính, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân ta thực hiện thành công cách mạng giải phóng dân tộc và tiến hành công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN ngày càng đạt được những kết quả to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Mặc dù vậy, cho đến nay, vẫn có những con người được sinh ra, được hưởng thành quả của sự nghiệp cách mạng ấy đã phủ nhận, xuyên tạc đường lối lãnh đạo của Đảng và phủ nhận thành quả cách mạng của nhân dân ta. Họ cho rằng, nếu không đi theo con đường XHCN thì dân tộc Việt Nam đã không chậm phát triển, không có tham nhũng; rằng, nếu đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, đất nước sẽ phát triển nhanh, xã hội sẽ tiến bộ và công bằng...

Thực chất, những luận điệu nêu trên, hoặc là quan điểm sai trái, thù địch, phản động; hoặc là không đủ khả năng nhận thức được xu thế phát triển tất yếu của lịch sử nhân loại.

Có thể khẳng định, từ khi lịch sử loài người xuất hiện giai cấp, áp bức, bóc lột, bất công, thì tình trạng chiến tranh, thủ đoạn cướp đoạt bằng bạo lực, nô dịch cũng xuất hiện. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, tình trạng ấy ngày càng trở nên gay gắt. Từ đó, những khát vọng, mong muốn được giải phóng của những giai cấp bị áp bức, bóc lột cũng xuất hiện. Nhiều thế hệ các nhà tư tưởng, các nhà cách mạng ưu tú đã cống hiến, hy sinh cả cuộc đời cho lý tưởng tốt đẹp, nhân đạo, cho sự tiến bộ của nhân loại. Từ những tư tưởng sơ khai của Aghit, Clê-ô-men thế kỷ III trước Công nguyên đến những mô hình, hệ thống quan điểm ngày càng hoàn chỉnh, tiến bộ hơn như T.Moro, G.Ba-bớp, Xanh-xi-mông, Ph.Phurie, R.Owen, N.Đô-bzô-liu-bốp. Tư tưởng XHCN được khái quát thành hệ một thống lý luận khoa học trong Chủ nghĩa Mác. Đến V.I.Lê-nin, lý luận đó là tiền đề cho sự ra đời CNXH hiện thực. CNXH được hiểu với 3 tư cách: Là một học thuyết, một phong trào cách mạng và một chế độ xã hội. Học thuyết, phong trào, chế độ ấy hướng đến sự giải phóng triệt để con người, chấm dứt bạo lực, cường quyền, chiến tranh; để phát triển toàn diện con người, để sự tự do của mỗi người là tiền đề cho sự tự do của tất cả mọi người.

Xuất phát từ nhận thức rằng, áp bức giai cấp là nguyên nhân căn bản, sâu xa của áp bức dân tộc, thì các chế độ người áp bức, bóc lột người trong lịch sử đều dẫn đến tình trạng dân tộc này đi áp bức, bóc lột dân tộc khác. Tình trạng này xuất hiện là do giai cấp thống trị về kinh tế trong một dân tộc luôn muốn củng cố địa vị kinh tế của mình thông qua bóc lột, đồng thời mở rộng sự ảnh hưởng của mình thông qua áp bức, nô dịch các dân tộc khác. Sự đô hộ của các nước đế quốc đối với các nước thuộc địa cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, về thực chất là sự bành trướng, áp bức bóc lột của giai cấp tư sản khi nó đã trở thành giai cấp lỗi thời về mặt lịch sử.

Chế độ XHCN ra đời sẽ tạo cơ sở kinh tế để nhân dân được ăn no, mặc ấm. Theo Hồ Chí Minh: “Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”. Chế độ chính trị của CNXH sẽ bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân. Chế độ xã hội trong CNXH sẽ bảo đảm cho quyền tự do, dân chủ, bình đẳng và tiến bộ. Khi nhân dân được thụ hưởng những lợi ích thực sự mà cách mạng đem lại, nhân dân các nước XHCN sẽ ra sức bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ chế độ, qua đó góp phần củng cố độc lập dân tộc bền lâu. Thực tế là, từ năm 1945 đến nay, không chỉ có Việt Nam giành được độc lập từ sự đô hộ của chủ nghĩa thực dân, mà có nhiều nước từ Á, Phi đến Mỹ Latin cũng giành được độc lập nhưng khi đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, nhiều nước vẫn chìm trong bạo lực, chiến tranh, mâu thuẫn sắc tộc, nghèo đói. Các nước ấy bị chi phối, thao túng, và thực sự không có độc lập, tự do.

Đến nay, Việt Nam chưa phải là quốc gia phát triển, nhưng nếu tính từ năm 1945 thì nền độc lập của dân tộc Việt Nam mới được 78 năm và nếu tính từ năm 1975 thì dân tộc Việt Nam mới chấm dứt chiến tranh được 48 năm. Với từng ấy thời gian cho việc xây dựng và kiến thiết đất nước thì còn quá ngắn so với chế độ tư bản đã có hơn 500 năm kiến tạo.

Tuy nhiên, điều căn bản là, ngày nay, chế độ tư bản chủ nghĩa không phải là chế độ mà ở đó con người được giải phóng và phát triển thực sự; chế độ mà ở đó “một bộ phận rất nhỏ, thậm chí chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới 3/4 nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội”, do đó “Sự rêu rao bình đẳng về quyền nhưng không kèm theo sự bình đẳng về điều kiện để thực hiện các quyền đó đã dẫn đến dân chủ vẫn chỉ là hình thức, trống rỗng mà không thực chất”.

Trong khi đó, với thành tựu của sự nghiệp đổi mới đất nước, dân tộc và nhân dân Việt Nam ngày càng được hưởng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. “Nhờ thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế bắt đầu phát triển và phát triển liên tục với tốc độ tương đối cao trong những năm qua với mức tăng trưởng trung bình khoảng 7% mỗi năm. Quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2020 đạt 342,7 tỷ đô la Mỹ (USD), trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN. Thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 17 lần, lên mức 3.512USD; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Từ một nước bị thiếu lương thực triền miên, đến nay Việt Nam không những đã bảo đảm được an ninh lương thực mà còn trở thành một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới”.

Cách mạng là sự nghiệp khó khăn, lâu dài, gian khổ, vì cách mạng là thay chế độ xã hội cũ bằng xã hội mới. Lịch sử cho thấy, chiếm hữu nô lệ chỉ tan rã sau 400 năm từ khi xuất hiện mầm mống của chế độ phong kiến trong lòng nó. Giai cấp tư sản lật đổ chế độ phong kiến để xác lập địa vị thống trị của mình phải mất gần 300 năm, bắt đầu từ cách mạng tư sản Hà Lan (thế kỷ XVI), đến tận khi vua Louis XVI lên đoạn đầu đài ở Pháp vào thế kỷ XVIII thì chủ nghĩa phong kiến ở châu Âu về đại thể mới chấm dứt sự thống trị. Thậm chí, tàn dư của chế độ phong kiến còn tồn tại cho đến ngày nay ở nhiều quốc gia. Tuy nhiên, đúng như Đảng ta khẳng định: “Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới CNXH”. Với ý nghĩa đó, “Chủ nghĩa cộng sản là hình thức tất yếu và là nguyên tắc kiên quyết của tương lai sắp tới”.

Do vậy, độc lập dân tộc và CNXH là mục tiêu cơ bản và lâu dài của cách mạng Việt Nam, bảo đảm cho dân tộc ta đi đến tương lai phồn vinh, hạnh phúc. Với lịch sử hào hùng hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, các thế hệ cha ông ta từ thuở xa xưa đã luôn ý thức được trách nhiệm của mình đối với đất nước. Trong thời kỳ chiến tranh, họ là những người tiên phong trong các phong trào đấu tranh giành độc lập và cứu nước, luôn làm nòng cốt cho cách mạng, hy sinh tất cả cho sự nghiệp độc lập tự do. Với sự may mắn được sinh ra trong thời bình, chúng ta cũng phải trân trọng sự cống hiến hi sinh của thế hệ đi trước; hiểu rõ trách nhiệm của mình để gìn giữ và bảo vệ đất nước, bảo vệ những thành quả đổi mới của đất nước được xây dựng bằng xương máu của cha ông mình; phải xác định tư tưởng, tình cảm, lý tưởng sống của mình: yêu quê hương đất nước, tự hào tự tôn dân tộc, có ý thức bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của dân tộc, lao động, học tập để khẳng định bản lĩnh, tài năng cá nhân và phục vụ cống hiến cho đất nước, sẵn sàng có mặt khi Tổ Quốc cần; kiên quyết đấu tranh, phản bác làm thất bại mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch.

MĐ11

 

VẠCH TRẦN LUẬN ĐIỆU LỢI DỤNG XÃ HỘI DÂN SỰ XUYÊN TẠC TỰ DO, NHÂN QUYỀN


Có thể nói trong thời gian ngần đây có nhiều bài đăng trên mạng xã hội xuyên tạc, bôi nhọ Đảng, nhà nước cụ thể bài viết.“Xã Hội Dân sự: Độc lập, Đối tác, hay Đối lập với Nhà Nước”, để đưa ra những luận điệu sai trái, thù địch, xuyên tạc về tự do, dân chủ, nhân quyền, hoạt động của các tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam hiện nay. Chúng đã đưa ra nhận định hết sức phản động là: “Hơn nữa, nhà cầm quyền Việt Nam nên xem lại các luật lệ về tổ chức hội đoàn, không chỉ trên giấy tờ mà cả việc thực thi luật pháp nữa. Công dân có được tự do thành lập tổ chức xã hội dân sự hay nhà cầm quyền chỉ muốn mọi thứ luôn nằm trong sự kiểm soát và quản lý của họ”.

Cái mà họ đưa ra và với luận điệu trên mục đích của các thế lực thù địch là nhằm xuyên tạc vu khống Nhà nước Việt Nam vi phạm tự do, nhân quyền, làm cho một bộ phận quần chúng nhân dân, giới trẻ hoài nghi, bi quan, dao động, suy giảm niền tin vào đường lối lãnh đạo của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước. Chúng ta cần phải hiểu rõ, Xã hội dân sự, nói chính xác là các tổ chức xã hội dân sự đóng vai trò xây dựng cộng đồng, trợ giúp Nhà nước. Tổ chức xã hội dân sự tồn tại không chỉ trong xã hội tư bản mà cả trong chủ nghĩa xã hội. Ở Việt Nam xã hội dân sự thấm nhuần về mặt văn hóa cộng đồng, tính đoàn kết, tương trợ và tính đồng thuận xã hội. Tổ chức xã hội dân sự có thể đóng vai trò tích cực, là người phản biện đối với chủ trương, chính sách của Nhà nước một cách ôn hòa và có trách nhiệm. Song, thực tế ở nhiều quốc gia trên thế giới cũng cho thấy, tổ chức xã hội dân sự, bao gồm cả các đảng chính trị (không nằm trong hệ thống chính trị Nhà nước) cũng có thể trở thành lực lượng đối kháng với Nhà nước, là nòng cốt cho những cuộc bạo loạn, lật đổ chế độ xã hội, thậm chí có thể kết nối với các thế lực thù địch bên ngoài gây chiến tranh, làm tổn hại đến độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia.

Đối với đất nước ta, quyền con người, quyền công dân là thành quả cách mạng được thể chế hóa và phát huy trên thực tế. Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) là sự kế thừa, phát triển những giá trị quyền con người, quyền công dân của nhân loại trong thời đại mới. Trong các bản Hiến pháp (năm 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013) đều thể hiện rõ bản chất của chế độ ta là tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân; là chế độ dân chủ do nhân dân làm chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Pháp luật Việt Nam đã quy định các điều kiện cụ thể để thành lập, hoạt động của tổ chức xã hội dân sự. Trên thực tế, bên cạnh các tổ chức chính trị, đoàn thể quần chúng, nhiều hội, tổ chức phi chính phủ đã và đang được thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, hoạt động công khai, hợp pháp, mang lại những lợi ích đáng kể cho xã hội và cộng đồng. Tuy nhiên, vẫn còn các hội, tổ chức quần chúng tự phát thành lập, không có tư cách pháp nhân, mang tính hình thức, chạy theo lợi nhuận kinh tế đơn thuần, hoạt động tùy tiện, kém hiệu quả, không phát huy được vai trò đại diện cho lợi ích của hội viên; cá biệt còn một số tổ chức có nhiều hoạt động vi phạm pháp luật, gây phương hại đến an ninh quốc gia, buộc các cơ quan chức năng phải chấn chỉnh, xử lý. Lợi dụng điều này, các thế lực thù địch đã xuyên tạc, vu cáo Nhà nước ta vi phạm dân chủ, nhân quyền. Đó là sự đơm đặt vô căn cứ, mang nặng tính thù địch.

Thực tế cho thấy, ngay từ ý tưởng cho đến quá trình thành lập và hoạt động, do tính chất nhạy cảm về chính trị - xã hội, nhiều tổ chức đã trượt khỏi bản chất, hình ảnh tích cực của xã hội dân sự đích thực, trở thành công cụ để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá chế độ. Các tổ chức núp bóng “xã hội dân sự” này thường trá hình dưới danh nghĩa bảo vệ “dân chủ”, “nhân quyền”, nhằm hướng lái vào phê phán vai trò lãnh đạo của Đảng, họ cho rằng: chế độ độc đảng là “độc tài toàn trị”, là nguyên nhân dẫn đến tham nhũng, sai lầm, v.v. Các thế lực thù địch còn tìm cách thao túng, lôi kéo, chi phối tổ chức “xã hội dân sự” cho mục tiêu của mình, gia tăng các hoạt động móc nối, liên kết, hậu thuẫn cho những người “bất đồng chính kiến” trong nước hoạt động theo khuynh hướng “độc lập”, hình thành “xã hội dân sự” trái pháp luật, chống Nhà nước, tạo tiền đề cho sự ra đời của các tổ chức chính trị đối lập, thiết lập chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập nhằm tiến tới mục tiêu thay đổi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Cùng với đó, họ mượn cớ “phản biện xã hội”, “kiểm soát quyền lực”, nhân danh “dân chủ”, “nhân quyền” để mị dân bằng các hoạt động xây dựng quan hệ thương mại và phát triển, gây phương hại đến an ninh quốc gia.

Trước những luận điệu phản động của các thế lực thù địch đã bộc lộ dã tâm thâm độc, xuyên tạc sự thật nhằm hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, giảm lòng tin của Nhân dân với Đảng và chế độ. Do vậy, chúng ta cần hết sức cảnh giác, vạch trần âm mưu, thủ đoạn của chúng, kiên quyết đấu tranh, tiến hành quản lý chặt chẽ, chấn chỉnh, xử lý nghiêm minh các tổ chức, cá nhân vi phạm.

TA11

Thứ Ba, 6 tháng 6, 2023

THƯỜNG XUYÊN “TỰ SOI”, “TỰ SỬA”, NÊU CAO DANH DỰ, LÒNG TỰ TRỌNG CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN


 

          Trong tiến trình cách mạng, Đảng ta đặc biệt quan tâm xây dựng, bổ sung, phát triển, hoàn thiện chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của từng giai đoạn, trong đó có yêu cầu cán bộ, đảng viên thường xuyên “tự soi”, “tự sửa”, nêu cao danh dự, lòng tự trọng.

          Thường xuyên “tự soi”, “tự sửa”

          Từ Đại hội IX đến Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định các chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên đã được xây dựng và thực hiện trong các giai đoạn trước đó, đồng thời bổ sung, hoàn thiện những chuẩn mực mới, đáp ứng yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng.

          Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) yêu cầu: “Nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các chuẩn mực đạo đức cách mạng phù hợp với điều kiện mới và truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc để làm cơ sở cho cán bộ, đảng viên tự giác tu dưỡng, rèn luyện, tự điều chỉnh hành vi ứng xử trong công việc hàng ngày.

          Nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng suốt đời, thường xuyên “tự soi”, “tự sửa” và nêu cao danh dự, lòng tự trọng của người đảng viên”(Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t.II, tr.237, 248.); “Tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự “trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân”” (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t.II, tr.237, 248).

          Sau Đại hội XIII của Đảng, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị ban hành nhiều nghị quyết, kết luận, chỉ thị, quy định về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Trong đó đặc biệt là:

          Kết luận số 01-KL/TW ngày 18.5.2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, khẳng định: “Không ngừng học tập, tu dưỡng, rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng, mẫu mực về nhân cách, lối sống; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; trung thực, giản dị, thẳng thắn, chân thành; không tham nhũng, không bị chi phối bởi lợi ích nhóm, không để người nhà, người thân lợi dụng vị trí công tác để vụ lợi. Nghiêm túc tự phê bình và phê bình, thấy đúng phải cương quyết bảo vệ, thấy sai phải quyết liệt đấu tranh”.

          Kết luận số 21-KL/TW ngày 25.10.2021 của Ban Chấp hành Trung ương ban hành, về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”.

          Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25.10.2021 của Ban Chấp hành Trung ương ban hành về những điều đảng viên không được làm.

          Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 16.6.2022 của Ban Chấp hành Trung ương về tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới.

          Nêu cao tinh thần tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên, Đại hội XIII của Đảng đã bổ sung, nhấn mạnh tầm quan trọng và đặt lên hàng đầu vấn đề “Nêu cao tinh thần tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên” (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t.I, tr.183.). Đặc biệt, Đảng đã đưa nội dung “Nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các giá trị đạo đức cách mạng theo tinh thần “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” cho phù hợp với điều kiện mới và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc.

          Xây dựng các chuẩn mực đạo đức làm cơ sở cho cán bộ, đảng viên tự điều chỉnh hành vi ứng xử trong công việc hàng ngày” (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t.I, tr.184) là một giải pháp mới để xây dựng Đảng về đạo đức.

          Đại hội XIII của Đảng đã đề cập và nhấn mạnh hầu hết tất cả các mặt của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng về đạo đức, với 6 giải pháp trọng tâm là: 1) Tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên; 2) Thực hiện nghiêm quy định nêu gương; 3) Bổ sung, hoàn thiện các giá trị và xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng; 4) Giáo dục đạo đức cách mạng; 5) Đấu tranh chống quan điểm, hành vi phản đạo đức, phi đạo đức; 6) Khen thưởng, kỉ luật cán bộ, đảng viên.

          Các chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên được Đảng ta nhấn mạnh là: thật sự tiên phong, gương mẫu; kiên định, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng; hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, suốt đời phấn đấu hi sinh vì mục tiêu cách mạng; gắn bó mật thiết với nhân dân, vì lợi ích của nhân dân, của dân tộc; chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết, kết luận, chỉ thị, quy định… của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; có phẩm chất, đạo đức cách mạng, có nhân cách và lối sống mẫu mực, lành mạnh, trong sáng, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, bản lĩnh, kiên định, đoàn kết, kỉ cương, trung thực, trách nhiệm; thường xuyên “tự soi”, “tự sửa”, nêu cao danh dự, lòng tự trọng; có năng lực hoàn thành nhiệm vụ, năng động, sáng tạo, vững vàng trước mọi khó khăn, thử thách; kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân và mọi biểu hiện, hành vi tiêu cực./.

MĐ11

 

THÁNG 4 “THÁNG QUỐC HẬN” CỦA BÈ LŨ BÁN NƯỚC

 

Tháng 4, đối với tuyệt đại đa số người dân Việt Nam, tháng 4 là một tháng với nhiều ngày lễ trọng đại của đất nước. Ngày mà 48 năm trước đây, non sông Việt Nam quy về một mối, đất nước hoàn toàn hòa bình, thống nhất. Ấy vậy mà, trong mắt một số người, đặc biệt là bè lũ bán nước, đây là tháng chúng coi là "quốc hận". Bởi vì cũng thời gian này 48 năm về trước, chúng đã dẫm đạp lên nhau, kể cả người thân và bạn bè đồng đội để được "lên trực thăng" qua đất Mỹ mà chúng ta hiện nay vẫn gọi chúng là những kẻ "đu càng" năm 1975.

48 năm sau, một số kẻ vẫn "cố tình" không tỉnh ngộ, vẫn dã tâm âm mưu gây mất hòa bình, ổn định ở Việt Nam bằng các hoạt động khủng bố, phá hoại. Bằng chứng là suốt trong những năm tháng ở hải ngoại, chúng lập ra nhiều các tổ chức khủng bố, phản động mà điển hình là tổ chức khủng bố "Việt Tân". Thông qua các tổ chức khủng bố, phản động này, chúng tăng cường việc xuyên tạc, tuyên truyền chống phá chế độ; kích động biểu tình, bạo loạn trong nước với mục tiêu "phục hồi chế độ mẹ đẻ của chúng là chế độ Việt Nam cộng hòa". Và hơn lúc nào khác trong năm, tháng 4 luôn là tháng để chúng tiến hành mạnh mẽ các hoạt động chống phá. Trước đây, bằng các hoạt động liều lĩnh và khủng bố, các tổ chức khủng bố này thậm chí còn đưa người về nước nhập cài bom, gây nổ tiến hành các hoạt động khủng bố gây bất ổn an ninh, trật tự.

Hiện nay, khi chính quyền bảo trợ của chúng đang tiến hành cuộc chiến chống khủng bố trên phạm vi toàn cầu thì chúng không còn dám liều lĩnh như vậy. Thay vào đó, chúng tăng cường tiến hành hỗ trợ các tổ chức, cá nhân phản động trong nước như Nguyễn Văn Đài, Phạm Đoan Trang, Trần Huỳnh Duy Thức… tiến hành chống đối. Hoặc chúng thông qua đám linh mục phản động như Đặng Hữu Nam, Nguyễn Đình Thục… để kích động một bộ phận tín đồ thiên chúa chống đối. Cộng với đó, chúng kêu gọi các thành viên ở hải ngoại tổ chức các buổi "lễ" kỉ niệm "chống cộng" bằng cách cổ lỗ đưa các "lĩnh chiến Việt Nam cộng hòa" cũ ra để

dương oai.

Ấy vậy mà kết quả thì thật là thảm hại, 48 năm qua, 48 mùa "quốc hận" ấy vậy mà bè lũ bán nước lại càng thất bại trong âm mưu trở về của mình. Liên tiếp các âm mưu, kế hoạch bị phá sản, liên tiếp các "chân rết" trong nước bị bắt giữ mà tiêu biểu là các thành viên của "Hội anh em dân chủ" sẽ được xét xử trong tháng 4 này. Và hơn thế, trong mắt người dân Việt Nam, chúng không khác gì những "con chó" đi ăn "c**" nơi đất khách quê người để về cắn lại đất nước!

LĐ11