Thứ Năm, 15 tháng 3, 2018

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CẢNH GIÁC CÁCH MẠNG PHÒNG CHỐNG CHIẾN LƯỢC “ DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CHO CÁN BỘ, CHIẾN SĨ QUÂN ĐỘI NHÂN VIỆT NAM HIỆN NAY


Đ.V.L.Psy. K11
Hiện nay, các thế lực thù địch đang đẩy mạnh các hoạt động chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng ta, coi việt nam là một trọng tâm để xúc tiến chiến lư­ợc “Diễn biến hoà bình”, trong đó chúng xác định Quân đội là trọng điểm chống phá. Do đó, để cán bộ, chiến sĩ luôn nâng cao cảnh giác đánh bại chiến lược “Diễn biến hoà bình” cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:
Một là, thường xuyên giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức toàn diện về “Diễn biến hoà bình”, xây dựng ý chí chiến đấu, tinh thần cảnh giác cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội. Giáo dục chính trị tư tưởng là hoạt động rất quan trọng của công tác tư tưởng, có ý nghĩa to lớn đối với việc nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội nói chung, đối với cán bộ, chiến sĩ trong phòng chống chiến lược “Diễn biến hoà bình” nói riêng. Khi đề cập vai trò của giáo dục Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm”. Do đó, nội dung công tác giáo dục phải toàn diện, đồng thời phải sử dụng nhiều hình thức phong phú, đa dạng sát thực tiễn, gần gũi với đời sống học tập, công tác của bộ đội. Thông qua các hoạt động xã hội của cán bộ, chiến sĩ mà giáo dục những kiến thức cơ bản và sâu sắc làm cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn chiến lược “Diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch và những yêu cầu cấp bách của cuộc đấu tranh phòng chống những âm mưu thủ đoạn đó, kịp thời vạch trần bản chất phản động, nguy hiểm của nó, từ đó nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, uốn nắn những biểu hiện lệch lạc, quan điểm mơ hồ, dao động về tư tưởng trước âm mưu thủ đoạn của kẻ thù, xây dựng và củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng vào thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Hai là, nâng cao bản lĩnh chính trị tư tưởng, củng cố và giữ vững trận địa tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội. Bản lĩnh chính trị là sản phẩm tổng hợp của những tri thức, tình cảm, ý chí và hành vi chính trị của mỗi chủ thể. Biểu hiện ở khả năng tự quyết định những suy nghĩ và hành vi chính trị một cách độc lập, sáng tạo và có hiệu quả trong các tình huống phức tạp về chính trị, không dao động thay đổi trước những tác động từ bên ngoài. Bản lĩnh chính trị không tự phát hình thành mà là quá trình hoạt động tự giác, có mục đích, được cấu thành bởi sự thống nhất biện chứng của ý thức chính trị, nhận thức chính trị, tình cảm chính trị và hành vi chính trị. Người cán bộ, đảng viên của Đảng phải được xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng sẽ giúp họ làm chủ cuộc sống, không dao động trước thử thách, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, trước hết phải tập trung xây dựng nâng cao bản lĩnh chính trị. Vì bản lĩnh chính trị là cơ sở, điều kiện để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội. Bản lĩnh chính trị góp phần định hướng, tạo động lực bên trong thúc đẩy mọi hoạt động của bộ đội được đúng hướng. Mặt khác, bản lĩnh chính trị còn là tiêu chí để phân biệt Quân đội cách mạng với Quân đội phản cách mạng.
Ba là, chăm lo xây dựng củng cố các tổ chức trong đơn vị vững mạnh toàn diện, kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện sai trái. Tổ chức là nơi cán bộ, chiến sĩ sống, làm việc, học tập và công tác, tổ chức Quân đội là một tổ chức chặt chẽ, có hệ thống hoạt động theo mục đích thống nhất, có kỷ luật tự giác nghiêm minh. Do đó, việc xây dựng các tổ chức là một yêu cầu, một nhân tố không thể thiếu được bảo đảm xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Trong chiến lược “Diễn biến hoà bình” các thế lực thù địch tập trung chống phá quyết liệt các tổ chức trong Quân đội hòng làm Quân đội ta suy yếu. Các tổ chức đó bao gồm: Tổ chức Đảng (lãnh đạo), tổ chức chỉ huy và tổ chức quần chúng.... Các tổ chức này có vị trí, vai trò, nội dung và phạm vi hoạt động khác nhau nhưng có chung mục đích là quản lý, giáo dục, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ để góp phần xây dựng con người, xây dựng tổ chức vững mạnh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.
Bốn là, duy trì chặt chẽ công tác quản lý nội bộ, đập tan những hoạt động chiến tranh tâm lý, gián điệp và tình báo của địch. Tiến hành chiến tranh tâm lý, gián điệp và hoạt động tình báo là một thủ đoạn thâm độc và xảo quyệt của các thế lực thù địch nhằm khai thác bí mật quốc gia, bí mật quốc phòng an ninh, lôi kéo, dụ dỗ mua chuộc cán bộ, đảng viên. Mục đích của chúng là xây dựng lực lượng ngầm, chui sâu leo cao để thực hiện nội công ngoại kích gây tâm lý hoang mang hoài nghi trong cán bộ, chiến sĩ. Do đó, việc quản lý chặt chẽ tình hình chính trị nội bộ, ngăn chặn và đập tan chiến tranh tâm lý, gián điệp và các hoạt động tình báo của địch là một nhiệm vụ, một nguyên tắc, một nội dung hoạt động Công tác Đảng, công tác chính trị. Mặt khác, hiện nay tình hình thế giới, trong nước và khu vực đang diễn ra phức tạp, cho nên việc quản lý nội bộ càng phải được quan tâm nhiều hơn để nắm chắc tình hình đơn vị chống lại sự phá hoại về tổ chức của kẻ thù.


ĐẤU TRANH PHÊ PHÁN PHỦ NHẬN NGUYÊN TẮC TẬP TRUNG DÂN CHỦ


Đ.V.L. Psy.K11


Trung thành với những nguyên lý xây dựng Đảng kiểu mới của chủ nghĩa  Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn giữ vững và khẳng định tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức hoạt động của Đảng là điều kiện không thể thiếu để phát huy dân chủ, giữ vững kỷ cương, bảo đảm cho hoạt động thông suốt từ Trung ương đến Chi bộ. Thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ là điều kiện đảm bảo cho các tổ chức Đảng cấu kết chặt chẽ về tổ chức, thống nhất ý chí và hành động có kỷ luật nghiêm minh, phát huy được tính tích cực, chủ động sáng tạo của các tổ chức và đảng viên. Đây là nguyên tắc phân biệt chính Đảng của giai cấp công nhân, Đảng cách mạng chân chính với các Đảng phái khác nhau, là điểm mà mọi thế lực chống đối đang công kích nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng cho rằng nguyên tắc tập trung dân chủ đến nay đã lỗi thời, thực hiện tập trung dân chủ sẽ dẫn đến mất dân chủ trong Đảng làm cho Đảng rơi vào quân phiệt độc đoán, độc tài. Họ ra sức tán dương thực hiện dân chủ tự do; dân chủ vô hạn độ dân chủ cực đoan; ủng hộ trong Đảng có nhiều phe nhóm đối lập để đấu tranh bàn cãi, sử dụng triệt để chiêu bài “dân chủ” “đa nguyên”, họ cổ vũ cho những bất đồng ý kiến, trong Đảng rồi lợi dụng để chia rẽ Đảng. Họ cố tình tỏ ra không hiểu hoặc cố tình xuyên tạc nội dung và bản chất của nguyên tắc. Họ cho rằng tập trung dân chủ chỉ đúng trên lý thuyết, trên giấy tờ chứ thực tế không thực hiện được. Tuy rằng thực tế đã chứng kiến không ít những hiện tượng vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, nhưng không phải từ những hiện tượng trên để khẳng định việc từ bỏ nguyên tắc cơ của Đảng kiểu mới. Hiện tượng trên chỉ có thể đã chứng minh ở đâu không thực hiện đúng đắn nguyên tắc tạp trung dân chủ thì ở đó hiện tượng gia trưởng độc đoán, quan liêu vô tổ chức vô kỷ luật.
Vì vậy, nhiệm vụ cấp bách trong đổi mới chỉnh đốn Đảng hiện nay là phải nắm vững bản chất nguyên tắc tập trung dân chủ, đây là vấn đề hết sức quan trọng để thực hiện đúng đắn nguyên tắc cơ bản trong xây dựng tổ chức và hoạt động của Đảng, là cơ sở bảo vệ và đấu tranh phê phán chống mọi quan điểm sai trái thù địch, nhằm phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ, làm tan rã Đảng từ bản chất, phá hoại sự nghiệp mổi mới đất nước, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Quân đội là lực lượng nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân, là lực lượng nòng cốt bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng bảo vệ nhân và bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ chế độ Xã hội chủ nghĩa. Từ công cuộc Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa đất nước, phương hướng xây dựng Quân đội cách mạng chính quy tinh nhuệ từng bước hiện đại đang đặt ra cho Quân đội nhiệm vụ nặng nề, đa dạng, phức tạp. Để thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng bộ quân đội hiện nay cần thực hiện tốt các giải pháp cơ bản đó là:
Một là, quán triệt cho cán bộ đảng viên nhận thức đầy đủ thống nhất về nguyên tắc tập trung dân chủ, đặc biệt nắm vững bản chất nội dung mối quan hệ biện chứng giữa tập trung và dân chủ, gắn liên hệ kiểm điểm về nhận thức với thực hiện nguyên tắc này. Cần phải tiếp tục cụ thể hóa nội dung yêu cầu của nguyên tắc thành chức trách nhiệm vụ quyền hạn và các mối quan hệ, chế độ công tác của từng cán bộ đảng viên của từng cấp ủy. Trong quá trình kiểm điểm phải chỉ rõ được kết quả, thành tựu, những hạn chế khuyết điểm, đối với tập thể, cá nhân vi phạm, nguyên nhân, biện pháp khắc phục hạn chế khuyết điểm. Đối với tập thể cá nhân vi phạm nguyên tắc phải kiên quyết xử lý nghiêm minh, thường xuyên chấn chỉnh tổ chức, kịp thời kiện toàn cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các cấp.
Hai là, giữ vững và tăng cường nâng cao chất lượng sinh hoạt của các cấp ủy Đảng, mọi thành viên tham gia ý kiến thẳng thắn, với tinh thần xây dựng, đề án chủ trương, phải trung thực tiếp thu đúng đắn trước khi quyết nghị, phải được thảo luận kỹ, phải tiến hành điều tra khảo sát.
Ba là, thực hiện nghiêm túc có nề nếp chất lượng chế độ phê bình và tự phê bình, bí thư và người chỉ huy phải thực sự gương mẫu chí công vô tư nghiêm túc trong tự phê bình, phát huy dân chủ và có quy định phù hợp bắt buộc phải dân chủ lấy ý kiến quần chúng đánh giá phê bình cán bộ đảng viên, có quy chế thật cụ thể để bảo vệ những người có ý kiến thẳng thắn, đông thời xử lý nghiêm minh những đảng viên lợi dụng phê bình để vu cáo đả kích cá nhân, gây rối nội bộ. Đảng viên cán bộ phải giữ gìn đoàn kết thống nhất trên cơ sở đường lối, nguyên tắc và tinh yêu thương đông chí, phải bố trí đúng cán bộ chủ trì.
Bốn là, phải thường xuyên tiến hành làm tốt công tác kiểm tra, thực hiện đúng Điều lệ Đảng, các nghị quyết chỉ thị và các quy chế, quy định hoạt động của cấp ủy, tổ chức đảng, đặc biệt là kiểm tra thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, kịp thời phát hiện những vấn đề đúng sai, chấn chỉnh và xử lý kịp thời. Nâng cao cảnh giác và kiên quyết đấu tranh với âm mưu thủ đoạn xuyên tạc phủ nhận của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch với nguyên tắc tập trung dân chủ và khắc phục những hiện tượng sai trái trong nội bộ.
Năm là, mở rộng phát huy dân chủ phải đi đôi thực hiện tập trung thống nhất, đề cao kỷ cương, kỷ luật. Kết hợp chặt chẽ giữa xây và chống trong nhận thức cũng như trong hành động. Mọi hành vi vô tổ chức vô kỷ luật, không chấp hành Nghị quyết, gây chia rẽ bè phái đều phải xử lý nghiêm minh, mọi sự năng động sáng tạo, phải trong đương lối chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Thực tiễn cho thấy nếu ở đâu tập trung và dân chủ không đi đôi với nhau thì ở đó xuất hiện tập trung quan liêu, hoặc dân chủ quá trớn, những hiện tượng độc đoán, chuyên quyền,  bè cánh, có biểu hiện trong hội nghị không giám nói ngoài hội nghị nói, tuyên truyền quan điểm riêng. Đó là những trở ngại lớn phát triển dân chủ trong Đảng, dân chủ bị biến dạng thành dân chủ hình thức. Tập trung, quan lieu, tham ô là bạn đồng hành tạo nên sự e dè nể nang, né tránh sợ nói sự thật, chất lượng thực hiện tập trung dân chủ chính là kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp, một cuộc đấu tranh vừa phải xây dựng nhận thức và hành động đúng vừa phải kiên quyết đấu tranh phê phán loại bỏ, đề phòng những khuynh hướng lệch lạc, sai lầm, muốn xây thì phải chống, chống cũng là để xây hai mặt không thể tách rời.

Thứ Tư, 14 tháng 3, 2018

"Thanh niên, bất kể thành phần nào phải đề cao tinh thần thượng tôn pháp luật"


Ng.Đ.N.Psy.35E
Tham gia nghĩa vụ quân sự là quyền và nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi công dân. Chỉ có những hành động xuất phát từ sự tự nguyện mới mang lại ý nghĩa sâu sắc. Hôm nay là ngày hội tòng quân chúng ta có thể cảm nhận được điều đó từ ánh mắt, nụ cười, sự quyết tâm của nhiều bạn trẻ.
Để có được kết quả đó, tổ chức đoàn thanh niên phải làm tốt công tác tuyên truyền thông tin về Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi, chính sách hậu phương, tổ chức các buổi tọa đàm trao đổi, tìm hiểu về lịch sử hào hùng của quê hương, đất nước, về truyền thống vẻ vang của anh bộ đội Cụ Hồ, những bài học kinh nghiệm trong quân ngũ, làm tốt công tác tuyên truyền vận động đoàn viên thanh niên tham gia khám tuyển nghĩa vụ quân sự theo đúng quy định.
Bên cạnh đó, tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa, văn nghệ; qua đó lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, lý tưởng của các thanh niên chuẩn bị lên đường nhập ngũ và gia đình của họ
Thanh niên là lực lượng nòng cốt đi đầu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, trên thực tế, không ít thanh niên vẫn còn có những nhận thức chính trị sai lệch, nghe theo lời xúi giục, kích động, thực hiện những hành vi chống phá, vi phạm pháp luật, Điển hình như sự việc xảy ra gần đây tại Nghệ An, trong số nhiều giáo dân bị kích động, nghe theo lời linh mục Nguyễn Đình Thục thực hiện các hành vi phạm pháp cũng có thành phần là thanh niên. Điều này một lần nữa đặt ra trách nhiệm cho những người làm công tác tuyên truyền, giáo dục thanh niên phải dùng nhiều cách thức, biện pháp để nâng cao nhận thức chính trị cho họ, để họ phân biệt được đúng, sai, phải, trái, để họ hiểu được rằng thanh niên, dù ở bất cứ thành phần nào đều phải đề cao tinh thần thượng tôn pháp luật; mọi công dân đều có quyền bình đẳng trước pháp luật, nếu vi phạm sẽ bị xử lý, dù theo bất cứ tôn giáo, tín ngưỡng nào.
 Nắm bắt được tâm lý lứa tuổi, tiếp cận nhanh nhạy với internet, tổ chức đoàn thanh niên Việt Nam nói chung, Thanh niên quân đội nói riêng chúng ta phải tích cực khai thác, sử dụng có hiệu quả các phương tiện truyền thông, trong đó có sử dụng mạng xã hội, đặc biệt là qua Facebook. Đăng tải những bài viết, phân tích, lập luận đúng đắn để đoàn viên thanh niên nhận thực rõ chính xác vấn đề
Đổi mới nội dung, phương thức giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho phù hợp với đặc điểm của từng đối tượng thanh niên trong và ngoài quân đội.
Xây dựng và nhân rộng nhiều cá nhân, tập thể thanh niên tiên tiến, lấy gương “người tốt, việc tốt” để lan tỏa trong cộng đồng, nhân lên những nghĩa cử cao đẹp
Bên cạnh đó cũng tích cực tạo ra diễn đàn trao đổi, đối thoại với thanh thiếu niên về các vấn đề chính trị, xã hội, thường xuyên nắm bắt, dự báo tình hình tư tưởng, định hướng dư luận đối với thanh thiếu niên, đặc biệt là vấn đề thượng tôn pháp luật, đè cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật của thế hệ trẻ hiện nay./.


“Vì Việt Nam, Cu-ba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình” - Biểu tượng của tình hữu nghị giữa Cu-ba và Việt Nam”

Nobita91275

Đêm 25-11 theo giờ La Ha-ba-na, tức trưa ngày 26-11 theo giờ Hà Nội, nhân dân Cu-ba, nhân dân Việt Nam và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới bàng hoàng trước tin nhà Lãnh tụ Cách mạng Cu-ba Phi-đen Ca-xtơ-rô Ru-xơ, nguyên Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Cu-ba, nguyên Chủ tịch Hội đồng Nhà nước và Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hoà Cu-ba, Lãnh tụ của nhân dân Cu-ba, đã từ trần ở tuổi 90. Phi-đen Ca-xtơ-rô đã ra đi nhưng câu nói bất hủ chí tình chí nghĩa của Người: “Vì Việt Nam, Cu-ba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình” còn sống mãi.
Cuộc đời trong sáng và sự nghiệp bất tử của đồng chí Phi-đen Ca-xtơ-rô gắn liền và sẽ sống mãi trong sự nghiệp Cách mạng vẻ vang của nhân dân Cu-ba và các dân tộc đang nỗ lực đấu tranh vì một thế giới công bằng, dân chủ, văn minh, phồn vinh và hạnh phúc. Người đã tiếp nối xứng đáng sự nghiệp vẻ vang của các Anh hùng Si-mông Bô-li-va, Hô-xê Mác-ti và các vị Anh hùng tiền bối của Cu-ba, Mỹ La-tinh, cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng cao cả của nhân dân Cu-ba. Người là biểu tượng của tinh thần chiến đấu quả cảm, ý chí kiên cường đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc; đi đầu và lãnh đạo nhân dân Cu-ba từ Môn-ca-đa đến Xi-ê-ra Ma-ét-xtơ-ra, đập tan chế độ độc tài tay sai đế quốc, đưa đất nước và nhân dân Cu-ba vào kỷ nguyên độc lập, tự do thực sự kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1959; không ngừng nâng cao vị thế của cách mạng, cũng như phẩm giá của nhân dân Cu-ba trên trường quốc tế; đưa đất nước Cu-ba từ đói nghèo, lạc hậu trở thành tấm gương của các nước đang phát triển về giáo dục, y tế, thể thao - văn hoá, công nghệ sinh học và đặc biệt là tinh thần quốc tế hào hiệp đối với các dân tộc anh em khác ở Mỹ La-tinh, ở Châu Phi và Châu Á, v.v.
Trong suốt cuộc đời sự nghiệp của mình, đồng chí Phi-đen Ca-xtơ-rô luôn sát cánh cùng Việt Nam trong những năm tháng gian khổ của cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất Tổ quốc, cũng như trong ngày vui thắng lợi và công cuộc "xây dựng đất nước Việt Nam đàng hoàng hơn, to đẹp hơn" như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong muốn. Mặc dù không được gặp Bác Hồ trước lúc Người đi xa, nhưng trong ký ức của nhà lãnh đạo cách mạng Cu-ba, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là vị lãnh tụ kính yêu, tiêu biểu cho tinh thần đấu tranh không biết mệt mỏi vì độc lập dân tộc và tự do, bình đẳng của mỗi con người. Phi-đen Ca-xtơ-rô và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công vun đắp cho tình đoàn kết chiến đấu và tình hữu nghị thắm thiết Việt Nam – Cu-ba không ngừng được củng cố, trở thành tình cảm mẫu mực, thủy chung, trong sáng và là tài sản vô giá mà hai Đảng và nhân dân hai nước luôn giữ gìn, vun đắp. Trong trái tim của nhân dân Việt Nam, Cu-ba và vị Lãnh tụ Phi-đen Ca-xtơ-rô đã trở thành biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần quật khởi, khát vọng hòa bình, vươn tới tự do, hạnh phúc và luôn khắc sâu lời bất hủ: “Vì Việt Nam, Cu-ba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình”.
Còn nhớ, khi đất nước Việt Nam còn chìm trong khói lửa của cuộc chiến tranh ác liệt chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, Phi-đen Ca-xtơ-rô là nguyên thủ quốc gia đầu tiên trên thế giới đến thăm vùng mới giải phóng Quảng Trị (9-1973) để trực tiếp gặp, động viên tinh thần nhân dân và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tiếp tục chiến đấu giành thắng lợi. Tại đây, Người đã giương cao ngọn cờ truyền thống bách chiến, bách thắng, lấp lánh huân chương của Đoàn Khe Sanh, Quân Giải phóng Trị Thiên Huế anh hùng; chụp ảnh kỷ niệm bên đồn An ninh Nhân dân Bến Hải, nơi địa đầu của miền Nam; gặp nữ anh hùng Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam Tạ Thị Kiều và nói chuyện tại cuộc mít tinh với nhân dân Quảng Trị trong chuyến thăm Vùng giải phóng miền Nam (ngày 15-9-1973); thăm căn cứ Tân Lâm và Dốc Miếu trên vành đai Mắc Na-ma-ra bị quân dân miền Nam phá hủy, v.v. Đồng thời, Người cũng là Nguyên thủ quốc gia đi đầu trong phong trào quốc tế ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam vì độc lập dân tộc và thống nhất đất nước trước đây, cũng như trong sự nghiệp tái thiết, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa sau này trên các diễn đàn quốc tế. Trong chiến tranh, Chủ tịch Phi-đen Ca-xtơ-rô đã nói: “Vì Việt Nam, Cu-ba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình”; trong hòa bình xây dựng đất nước, Người tiếp tục khẳng định: “Ngày nay, trong hòa bình, Cu-ba sẵn sàng đổ mồ hôi để xây dựng lại Việt Nam mười lần to đẹp hơn như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong muốn”.
Với tinh thần đó, từ ngày Việt Nam thống nhất đến nay, quan hệ hữu nghị truyền thống, sự hợp tác toàn diện, tin cậy giữa Cu-ba với Việt Nam tiếp tục được củng cố, phát triển, luôn nồng thắm, sâu đậm, thủy chung, đậm tình quốc tế anh em và tinh thần xã hội chủ nghĩa. Mặc dù đất nước bị phong tỏa, cô lập, cuộc sống người dân còn bộn bề khó khăn, nhưng Chính phủ Cu-ba đã giúp Việt Nam với tinh thần vô tư, trong sáng; xây dựng tặng nhân dân ta nhiều công trình kinh tế quan trọng, như: khách sạn Thắng lợi ở Hà Nội, nông trường bò sữa Mộc Châu - Sơn La, nông trường nuôi gà thịt và đẻ trứng ở Lương Mỹ - Hòa Bình, đường nhựa chất lượng cao từ Xuân Mai đi Ba Vì, Hà Nội và bệnh viện lớn nhất miền Trung với 500 giường bệnh ở thành phố Đồng Hới, Quảng Bình. Trong lịch sử thế giới đương đại, hiếm có mối quan hệ nào đặc biệt như quan hệ hệ hai Đảng, hai Chính phủ và nhân dân hai nước Việt Nam – Cu-ba. Hơn nửa thế kỷ qua, hai nước đã luôn kề vai sát cánh bên nhau trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do và phẩm giá của con người. Ngày nay, hai nước luôn sát cánh cùng nhau vững bước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở mỗi nước. Đây thực sự là mối quan hệ hữu nghị, đoàn kết, anh em, trước sau như một, trở thành biểu tượng của thời đại, là tài sản vô giá mà hai Đảng và nhân dân hai nước Việt Nam – Cu-ba luôn giữ gìn, bảo vệ, vun đắp và truyền tiếp cho các thế hệ mai sau. Tình cảm mà Lãnh tụ Phi-đen Ca-xtơ-rô và nhân dân Cu-ba giành cho nhân dân Việt Nam đã thể hiện tình quốc tế cao cả, trọn nghĩa, vẹn tình, mệnh lệnh từ trái tim của người cộng sản chân chính mà chỉ có ở Phi-đen Ca-xtơ-rô.
Lãnh tụ Phi-đen Ca-xtơ-rô đã đi vào lịch sử và trở thành huyền thoại ngay từ khi còn sống, một nhà cách mạng kiệt xuất của thế giới, cống hiến trọn đời mình cho lý tưởng tự do và sự nghiệp giải phóng dân tộc. Giờ đây, Phi-đen Ca-xtơ-rô đã về cõi vĩnh hằng, nhưng lý tưởng, tình cảm và tinh thần của Người luôn sống mãi với nhân dân Cu-ba, nhân dân Việt Nam, nhân dân Mỹ La-tinh và các lực lượng yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Người mất đi, nhân dân Cu-ba mất đi một vị lãnh tụ kính yêu; những người cộng sản mất đi một tinh thần bất khuất, kiên trung; nhân dân Việt Nam mất đi một người bạn lớn, thủy chung, trong sáng. Thương tiếc vị lãnh tụ của mình, từng hàng cây, góc phố ở La Ha-ba-na và các thành phố Cu-ba cũng đứng im, từng dòng người tuôn lệ tiễn đưa với tình cảm luyến tiếc khôn nguôi. Trong thời điểm này, cả nhân loại hướng về Cu-ba, chia sẻ sự mất mát lớn lao cùng nhân dân Cu-ba.
Thế nhưng, độc ác thay! Tủi hổ và trơ trẽn thay! Ở đâu đó trên trái đất này, vẫn có tiếng nói vô cảm, lạc lõng đi ngược lại xu thế, tình cảm chung của nhân loại đối với cách mạng Cu-ba và Lãnh tụ Phi-đen Ca-xtơ-rô. Những thế lực thù địch với chủ nghĩa xã hội, với Cu-ba và cả Việt Nam cho rằng, sự ra đi của Phi-đen Ca-xtơ-rô là “sự giải thoát cho Cu-ba”! Đúng là lối suy luận của những kẻ chuyên “chọc gậy bánh xe”, vốn mang trong mình ý thức hệ phản động, lỗi thời hòng chống cách mạng Cu-ba. Điều đáng suy ngẫm là nó được tung ra vào thời điểm không thích hợp, nên thấy nó táng tận lương tâm làm sao. Những người đưa ra suy diễn tầm thường, thiếu căn cứ đó đã cố tình lảng tránh những thành tựu mà nhân dân Cu-ba đạt được trong xã hội mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Cu-ba, đứng đầu là Lãnh tụ Phi-đen Ca-xtơ-rô. Bởi vậy, họ cần thấy rằng, Lãnh tụ Phi-đen Ca-xtơ-rô không chỉ là một nhà cách mạng kiệt xuất mà còn là một lãnh đạo có tầm nhìn xa và hết lòng vì người dân, đất nước. Minh chứng rõ nhất là chính sách đầu tư phát triển hệ thống y tế và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Các số liệu đã chỉ ra rằng, với chiến lược đầu tư bài bản và dài hạn, Cu-ba hiện đang sở hữu một hệ thống y tế hàng đầu khu vực châu Mỹ La-tinh và là một trong những nước có chính sách chăm sóc sức khỏe tốt nhất thế giới. Trước năm 1959, tức là trước cuộc cách mạng Cu-ba, nước này chỉ có khoảng 6.400 bác sĩ. Tính trung bình thời đó, một bác sĩ phải chăm sóc cho khoảng 1.058 người dân. Sau khi cách mạng thành công do Lãnh tụ Phi-đen Ca-xtơ-rô và những người đồng chí của Ông lãnh đạo, số bác sĩ của nước này đã tăng lên nhanh chóng và hiện là hơn 76.000 bác sĩ, đạt tỷ lệ 01 bác sĩ/155 dân; tỷ lệ trẻ sơ sinh tử vong ở Cu-ba là 5,3/1.000, thuộc hàng thấp nhất trên thế giới; tuổi thọ trung bình của người dân Cu-ba năm 2014 là 78,2 tuổi, thấp hơn không nhiều so với tuổi thọ trung bình của người dân Mỹ là 79,5 và mọi người dân Cu-ba đều được điều trị miễn phí tại bệnh viện. Cùng với y tế, giáo dục cũng là một thành công vượt bậc của Cu-ba. Bất chấp những khó khăn về kinh tế, dưới sự lãnh đạo của Phi-đen, Cu-ba dần hoàn thiện hệ thống giáo dục của mình. Vào những năm 1950-1951, tại Cu-ba chỉ có 7.614 trường học, con số này đã tăng lên 12.207 trường vào năm 2000; tỷ lệ người dân biết chữ tại Cu-ba hiện đạt 99,8% và mọi trẻ em đều được miễn học phí hết bậc đại học. Cu-ba hiện có 10.300 tiến sĩ và 45.000 thạc sĩ, v.v. Đáng chú ý là, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Cu-ba, đứng đầu là Lãnh tụ Phi-đen Ca-xtơ-rô, đời sống của nhân dân Cu-ba được cải thiện; phẩm giá, nhân cách, giá trị Cu-ba được khẳng định trên trường quốc tế và Cu-ba vẫn đứng vững trong muôn vàn khó khăn của sự cấm vận, chống phá, v.v. Sự thật hiển nhiên đó, đã phủ nhận mọi luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch; tinh thần của Lãnh tụ Phi-đen Ca-xtơ-rô mãi mãi bất diệt.
Tiễn biệt Phi-đen Ca-xtơ-rô trong niềm tiếc thương vô hạn, chúng ta mãi khắc ghi câu nói chí tình: “Vì Việt Nam, Cu-ba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình”. Đó cũng là biểu tượng của tình hữu nghị giữa nhân dân Cu-ba và nhân dân Việt Nam, sợi chỉ đỏ xuyên suốt mối quan hệ Việt Nam – Cu-ba trước đây, hiện nay và mãi mãi sau này./.

“KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM” KHÔNG LÀ KHÁI NIỆM MƠ HỒ

Nobita(ST)

Trên cơ sở phát triển lý luận và tổng kết thực tiễn 15 năm đổi mới đất nước, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam (Đảng CSVN) đã khẳng định: “Chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trưòng định hướng xã hội chủ nghĩa thể hiện tư duy, quan niệm của Đảng ta về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Đó là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội”.[1] Nhận định này có giá trị chiến lược hết sức quan trọng. Nó không chỉ mang ý nghĩa về mặt khoa học mà còn là một định hướng rất cơ bản cho sự phát triển của nước ta trong quá trình đổi mới. Hơn nữa, nó còn là cơ sở để đi đến sự thống nhất về nhận thức, quan điểm, đường lối, mục tiêu con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng CSVN.

Không phải ngẫu nhiên mà Đảng CSVN rút ra được nhận định chiến lược có ý nghĩa hết sức quan trọng này. Đó chính là kết quả của quá trình phát triển lý luận và tổng kết thực tiễn của Đảng trong nhiều năm lãnh đạo nhân dân ta xây dựng chủ nghĩa xã hội, có cả những thành công và thất bại, có cả những bài học kinh nghiệm quý báu của các nước trên thế giới mà Đảng CSVN đã lựa chọn tiếp thu. Qua mỗi kỳ Đại hội, nhận thức của Đảng CSVN về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày càng được sáng tỏ hơn, được bổ sung, phát triển và không ngừng hoàn thiện, ngày càng phản ánh đúng thực tế khách quan và quy luật vận động của đất nước trong tiến trình đổi mới và phát triển.
Nhờ những đổi mới có tính chất bước ngoặt về tư duy, đặc biệt về tư duy kinh tế, dưới sự lãnh đạo của Đảng CSVN, công cuộc đổi mới đất nước đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa như Văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng CSVN đã đánh giá: “Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh CNH,HĐH và hội nhập quốc tế. Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành, phát triển. Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường. Văn hóa - xã hội có bước phát triển; bộ mặt đất nước và đời sống nhân dân có nhiều thay đổi,…”.
Từ những thành tựu của 30 năm đổi mới, cùng với những nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn trong quá trình đổi mới, Đại hội lần thứ XII của Đảng CSVN tiếp tục nhất quán chủ trủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Những tưởng rằng, sự đúng đắn của chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã được kiểm nghiệm qua thực tế với những thành tựu to lớn trong 30 năm qua, là không thể bàn cãi. Ấy vậy mà, hiện nay trên một số trang mạng xã hội vẫn còn một số người tuyên truyền các luận điệu hồ nghi rằng: có hay không có mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chỉ là khái niệm mơ hồ, thị trường và chủ nghĩa xã hội là hai khái niệm không thể trộn lẫn, chủ nghĩa xã hội không dung nạp kinh tế thị trường v.v.. Đó là những ý kiến không những sai lầm về mặt khoa học mà còn chứa đầy sự ác ý, không mang tính xây dựng.
Nhìn lại lịch sử phát triển của kinh tế thị trư­ờng trên thế giới cho thấy, kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hóa phát triển đến giai đoạn cao; ở đó các quy luật kinh tế của kinh tế hàng hóa hoạt động mạnh mẽ thông qua hệ thống thị trường tương đối đồng bộ và ở trình độ cao; thị trường trở thành đặc trưng nổi bật, chi phối mãnh liệt các chủ thể hoạt động trong nền kinh tế. Kinh tế thị trường xuất hiện tr­ước khi chủ nghĩa tư bản ra đời, nó còn tồn tại và phát triển cả sau chủ nghĩa tư bản, khi những cơ sở kinh tế - xã hội cho nó tồn tại và phát triển vẫn còn. Tuy nhiên, dưới chủ nghĩa tư bản, kinh tế thị trường đạt đến đỉnh cao khi sức lao động trở thành hàng hóa. Ngày nay, kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa phát triển rất mạnh mẽ; nó xuyên qua các quốc gia, hình thành nên thị trường không chỉ có tính khu vực mà còn có tính toàn cầu. Có lẽ, vì thế mà không ít người ngộ nhận rằng, kinh tế thị trường là sản phẩm riêng, là đặc trưng của chủ nghĩa tư bản.
 Chúng ta đã thừa nhận kinh tế thị trường còn tồn tại và phát triển khi những điều kiện khách quan của nó là sự phân công lao động xã hội và sự độc lập về mặt kinh tế giữa những chủ thể sản xuất, kinh doanh vẫn còn. Vậy thì, dưới chủ nghĩa xã hội, kinh tế thị trường có còn tồn tại và phát triển không? Trong những năm trước đây, ở các nước xã hội chủ nghĩa, do nhận thức không đầy đủ về vấn đề này, cùng với sự nôn nóng, duy ý chí, cho rằng, khi đã thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, phân phối sản phẩm trực tiếp, thực hiện quản lý theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung thì sẽ không còn sản xuất hàng hoá nữa, nếu còn thì đó cũng chỉ là những tàn dư và sớm bị xoá bỏ. Sự nhận thức sai lầm này đã được khắc phục trong cuộc cải cách, đổi mới của Đảng Cộng sản ở một nước xã hội chủ nghĩa. Sự thực là, dưới chủ nghĩa xã hội, phân công lao động xã hội với tư cách là cơ sở của trao đổi hàng hóa không mất đi, trái lại ngày một phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu; sự chuyên môn hóa và hợp tác lao động không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn được mở rộng ra phạm vi quốc tế. Và, trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất (sở hữu toàn dân - sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân và các hình thức sở hữu hỗn hợp khác); trong hình thức sở hữu nhà nước có sự tách biệt tương đối giữa quyền sở hữu (thuộc Nhà nước) và quyền sử dụng tư liệu sản xuất (thuộc tổ chức và cá nhân được Nhà nước giao quyền sử dụng). Đó là cơ sở kinh tế để cho các chủ thể sản xuất kinh doanh độc lập về mặt kinh tế, toàn quyền chi phối sản phẩm. Do đó, những điều kiện kinh tế - xã hội để kinh tế thị trường tồn tại và phát triển vẫn còn. Vậy thì, không chỉ có kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa mà còn có cả kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa.
Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nên nền kinh tế thị trường chư­a hoàn toàn là kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, mà đó là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Vậy kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là gì? Nhằm giải đáp vấn đề này, Văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng CSVN đã đưa ra định nghĩa rất rõ ràng: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”.
Đồng thời, tại Đại hội lần thứ XII của Đảng CSVN, những đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã được nhận thức rõ:  “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật; thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quản các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường. Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử dụng các công cụ, chính sách và các nguồn lực của Nhà nước để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi trường; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển. Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội[2].
Như vậy, sau 30 năm đổi mới đất nước, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ngày càng được nhận thức rõ hơn. Tuy nhiên, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là vấn đề mới chưa có trong tiền lệ trên thế giới cũng như ở Việt Nam, nên quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thì việc nhận thức về nó là vấn đề tiếp tục được đặt ra, song điều chắc chắn rằng đó không phải là kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam sẽ ngăn chặn, không để thị trường tự phát theo con đường tư­ bản chủ nghĩa, bảo đảm cho nền kinh tế phát triển đúng hướng đi lên chủ nghĩa xã hội. Điều đó tạo ra sự khác biệt căn bản về chất giữa kinh tế thị trư­ờng định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam với kinh tế thị trư­ờng t­ư bản chủ nghĩa.
Một sự thật hiển nhiên là, kinh tế thị trư­ờng tư­ bản chủ nghĩa dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư­ bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, thành phần kinh tế chủ yếu là kinh tế tư­ bản t­ư nhân; mục đích chủ yếu của nền kinh tế là mang lại lợi ích cho giai cấp bóc lột. Ngày nay, trong chủ nghĩa tư bản xuất hiện một số mô hình kinh tế thị trường khác nhau, như: kinh tế thị trường định hướng xã hội ở một số nước châu Âu (do các Đảng xã hội dân chủ cầm quyền) với mục tiêu điều hòa lợi ích, xoa dịu mâu thuẫn giai cấp; kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước theo học thuyết Kenyes để khắc phục khủng hoảnh kinh tế; kinh tế thị trường kết hợp với kế hoạch của nhà nước v.v.. Tuy nhiên, các nền kinh tế thị trường đó vẫn dựa trên quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, về thực chất vẫn là kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa.
Kinh tế thị trư­ờng định h­ướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là nền kinh tế nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị tr­ường có sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa nhằm mục tiêu“ dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”. Mặc dù còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, nh­ưng thành phần kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nư­ớc cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam có sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa bằng các công cụ quản lý vĩ mô, như kế hoạch, chính sách, pháp luật,… và bằng cả sức mạnh vật chất của thành phần kinh tế nhà nước, đồng thời sử dụng cơ chế thị trường để giải phóng sức sản xuất, phát huy mặt tích cực, hạn chế và khắc phục có hiệu quả mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của đông đảo quần chúng nhân dân lao động. Dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, kinh tế thị trư­ờng định hư­ớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thực hiện phân phối theo lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội.
Vì vậy, không thể nói rằng kinh tế thị tr­ường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là khái niệm mơ hồ; kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với kinh tế thị trường tư­ bản chủ nghĩa cũng không có gì khác nhau; chủ nghĩa xã hội không dung nạp kinh tế thị trường,... Nói như thế là không hiểu sự khác nhau về bản chất kinh tế cũng như chính trị - xã hội của kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế thị trường định h­ướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là nền kinh tế thị trường có tổ chức, có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Những quan điểm, những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đ­ường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; mọi sự nghi ngờ, phân vân ch­ưa tin kinh tế thị trường có thể phát triển trên cơ sở chế độ công hữu là nền tảng, kinh tế nhà nước là chủ đạo,… là không có căn cứ  khoa học./.

Nâng cao cảnh giác đấu tranh chống “ Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực chính trị tư tưởng trong Quân đội hiện nay


Ng.Th.H. Psy35 E          
Trong giai đoạn hiện nay, các thế lực thù địch luôn coi Việt Nam là một trọng điểm trong chiến lược “diễn biến hòa bình” (DBHB), mà mũi nhọn chống phá nhằm vào lĩnh vực chính trị - tư tưởng. Chúng công kích, xuyên tạc, phủ nhận vai trò chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, chế độ XHCN và ra sức chống phá lực lượng vũ trang nhân dân về chính trị.
Trong đó, đối tượng hàng đầu mà chúng tập trung chống phá quyết liệt là Quân đội nhân dân Việt Nam. Với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt để chống phá toàn diện quân đội, nhưng trước hết nhằm xoá bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với quân đội; xuyên tạc, phủ định mục tiêu, lý tưởng và bản chất, truyền thống của quân đội; phá hoại mối đoàn kết mật thiết giữa quân đội với nhân dân và tình đoàn kết quốc tế, làm cho quân đội giảm sút sức mạnh chính trị, tinh thần, không còn là lực lượng chiến đấu, lực lượng chính trị tin cậy và trung thành tuyệt đối của Đảng, Nhà nước và nhân dân.
          Thực hiện đánh phá trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng, điều đầu tiên các thế lực thù địch mưu toan làm thay đổi tư tưởng, ý thức hệ, nhằm “phi chính trị hoá” quân đội. Do đó, chúng dùng mọi thủ đoạn, phương tiện, biện pháp mà trước hết là lợi dụng ưu thế về phương tiện thông tin hiện đại, với một số lượng lớn các đài phát thanh, các loại sách, báo, internet, các trang mạng xã hội... tập trung xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của Quân đội nhân dân Việt Nam; phủ nhận mục tiêu chiến đấu của quân đội, hòng tạo “khoảng trống” về tư tưởng trong quân đội, từ đó tiến hành các hoạt động “lấp khoảng trống” về ý thức hệ, về tư tưởng bằng hệ tư tưởng tư sản, từng bước chuyển hoá lập trường tư tưởng vô sản sang lập trường tư tưởng tư sản, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ quân đội, đẩy quân đội đứng ngoài chính trị,
phá hoại chính trị vô sản của quân đội.
          Điều nguy hiểm là chúng âm mưu tạo ra sự thờ ơ về chính trị trong cán bộ, chiến sĩ, trong đó tập trung vào đối tượng quân nhân là thanh niên, chiến sĩ mới. Bằng các thủ đoạn tuyên truyền, xuyên tạc, phủ nhận các giá trị tốt đẹp của cách mạng, của dân tộc, chúng muốn làm cho thế hệ quân nhân trẻ hiện nay quên đi quá khứ hào hùng của Đảng, của dân tộc, hấp thụ các giá trị văn hoá, tư tưởng lối sống tư sản, từ đó đối lập với các thế hệ quân nhân đi trước, quay lưng lại với cách mạng, với Đảng. Chúng còn triệt để lợi dụng những khuyết điểm, những tiêu cực trong quá trình đổi mới, hội nhập quốc tế ở nước ta để tác động vào quân đội, nhằm tạo ra những hiệu ứng tiêu cực trong một bộ phận cán bộ, chiến sĩ, làm phai nhạt dần và làm giảm sút niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng.
          Để đánh phá trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng của quân đội, các thế lực thù địch còn tìm mọi cách đưa sản phẩm phi văn hoá vào đời sống tinh thần của quân đội. Thông qua những hoạt động văn hoá - nghệ thuật, đưa trái phép tài liệu, sách báo có nội dung xấu độc vào quân đội, nhằm từng bước tác động làm suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của quân nhân, làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và CNXH, hòng từng bước tạo ra một thế hệ quân nhân có lối sống thực dụng, thích hưởng thụ, xa rời lý tưởng cách mạng. Thông qua các hoạt động văn học, nghệ thuật hướng vào những nội dung, hình thức thể hiện quan điểm tư sản, làm phai mờ dòng văn học - nghệ thuật cách mạng, kháng chiến, xoá hình tượng người chiến sĩ cách mạng hy sinh quên mình vì Tổ quốc, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, tạo dựng hình tượng người lính theo quan điểm phi giai cấp, đứng ngoài chính trị, xa lạ với chính trị của Đảng, của dân tộc.
          Để thực hiện đấu tranh chống DBHB trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng trong quân đội hiện nay đạt hiệu quả cần chú trọng tiến hành đồng bộ nhiều hoạt động mà trước hết là phải đẩy mạnh giáo dục chính trị - tư tưởng, nâng cao giác ngộ mục tiêu lý tưởng chiến đấu, xây dựng ý chí quyết tâm, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ. Nếu cán bộ, chiến sĩ có giác ngộ chính trị, bản lĩnh vững vàng, ý chí quyết tâm cao, đạo đức cách mạng trong sáng sẽ tạo sự “miễn dịch” cần thiết, tăng sức “đề kháng”, đủ để ngăn chặn, loại trừ sự thẩm thấu và xâm nhập của các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc.
          Thường xuyên giáo dục nâng cao trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật quân sự hiện đại, nâng cao đời sống văn hoá tinh thần cho bộ đội, tẩy trừ văn hoá phẩm xấu độc, phản động. Tích cực bồi dưỡng cán bộ, chiến sĩ nâng cao năng lực đấu tranh chống lại sự phá hoại của các thế lực thù địch trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng thông qua  trang bị những kiến thức về lý luận, văn hoá, khoa học kỹ thuật quân sự, chuyên môn nghiệp vụ; đề phòng và khắc phục quan điểm vũ khí luận của tư tưởng quân sự tư sản, đề cao quá mức sức mạnh vũ khí, trang bị kỹ thuật công nghệ cao, dẫn đến mất lòng tin vào khả năng và sức mạnh chiến đấu của quân đội hiện nay.
          Cùng với công tác giáo dục nâng cao nhận thức mọi mặt cho mọi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội, phải thường xuyên chăm lo xây dựng các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh gắn với xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện. Xây dựng tổ chức cơ sở đảng vững mạnh, trong sạch về chính trị, tư tưởng, tổ chức là yếu tố quan trọng hàng đầu bảo đảm sự vững chắc của trận địa chính  trị - tư tưởng xã hội chủ nghĩa trong các đơn vị quân đội. Cùng với đó, phải tăng cường xây dựng đơn vị vững mạnh thông qua tiếp tục thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 917/1999/CT-QP ngày 22-9-1999 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, trong đó có yêu cầu hàng đầu là vững mạnh về chính trị - tư tưởng. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” và “Xây dựng môi trường văn hoá trong sạch, lành mạnh” ở các đơn vị quân đội.
          Chú trọng tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, chủ động kịp thời có biện pháp ngăn ngừa “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” ở các đơn vị quân đội. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ phải nhằm bảo đảm sự trong sạch về chính trị, tư tưởng, tổ chức của tổ chức đảng và các đơn vị quân đội. Do đó, phải thường xuyên giáo dục nâng cao tinh thần cảnh giác, ý thức bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ quân đội cho mọi quân nhân.
          Thực hiện phối hợp chặt chẽ với cáưc cơ quan tuyên truyền, văn hoá, báo chí của Đảng, Nhà nước và các tổ chức khác trong hệ thống chính trị nhằm phản bác có hiệu quả  các quan điểm sai trái, thù địch, các luận điệu tuyên truyền, lừa bịp mị dân về chính trị - tư tưởng của các thế lực thù địch. Đồng thời phối hợp chặt chẽ các hoạt động quân sự, quốc phòng với an ninh và đối ngoại; tăng cường phối hợp với tất cả các cấp, các ngành, các lực lượng trong hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương trong cuộc đấu tranh chống DBHB  nói chung và đấu tranh chống DBHB trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng trong quân đội nói riêng ./.  











BÙI TÍN-LÃO GIÀ GÀN DỞ, MẮC BỆNH ĐÃNG TRÍ


Psy34.HD89
          Hình ảnh lão già Bùi Tín đang xuất hiện lan tràn trên trang voatiengviet càng làm cho mọi  người dân Việt Nam chúng ta thấy rõ bộ mặt của y. Y đúng là một lão già ngang ngược, gàn dở và mất trí nhớ. Y đã quên rằng y sống được là nhờ cơm dân áo Đảng, để khi hạ cánh rồi y qua cầu rút ván đi sang thế giới cái gọi là “thiên đường tự do”. Ơi hỡi Bùi Tín ơi, tuổi ông xứng là tuổi cụ, kỵ của thế hệ trẻ Việt Nam. Nhưng ông sống gàn dở, cố chấp, ăn cháo đá bát như thế chúng tôi chỉ coi ông là lão già đãng trí mà thôi.
          Ông đã thấy “thiên đường sung sướng” nơi ông sống chưa. Hàng năm có bao nhiêu là vụ xả súng cướp đi hàng chục sinh mạng vô tội. Tội phạm nguy hiểm gấp vạn lần. Thế mà ông rêu rao đất nước Việt Nam là “một xã hội xuống cấp, lụi tàn”. Thật vô phúc khi đất mẹ Việt Nam đã nuôi dưỡng, che trở cho ông. Giờ đây, người con bất trị này đang hàng ngày, hàng giờ trà đạp lên thân thể người mẹ đang căng tràn bầu sữa nuôi dưỡng các con. Xã hội nào cũng vậy, điều tất nhiên là không tránh khỏi tai nạn giao thông, tệ nạn xã hội, và những “con sâu làm rầu nồi canh” . Điều ngẫu nhiên là nói ở đâu vào đối tượng nào. Nhưng nhìn toàn cục mà thấy, đó là những hiện tượng mà Đảng và Nhà nước cũng đang ra sức mạnh mẽ để tìm cách khắc phục, đấu tranh loại trừ. Vậy mà lão già Bùi Tín được đà lấn tới. Y tìm đủ mọi lý lẽ để bôi nhọ những điều đất nước ta đang phấn đấu vươn tới. Không biết có phải Y đang ăn vạ hay  không khi bóp mép sự thật, ăn không nói có, có một nói mười. Thật là trơ tráo với lão già 91 tuổi đầu. Ông nói dân Việt Nam bất an. Vậy thì bất an ở nơi đâu. Ông có ở Việt Nam đâu mà ông biết bất an ở chỗ nào hay nó xuất hiện trong sọt rác nhà ông. Ông đâu biết rằng tết cổ truyền dân tộc vừa qua, nhân dân vui vẻ phấn khởi thế nào. Khắp nơi treo đèn, cờ hoa, pháo rực sáng cả bầu trời đêm giao thừa. Không khí lễ hội tràn ngập khắp đất nước Việt Nam. Cả nước có niềm tin vào nền kinh tế khởi sắc trong năm qua mà ai ai cũng phấn khởi.
          Để có sự tăng trưởng GDP “ngoạn mục” đến 6,81là một cố gắng rất lớn của toàn Đảng, toàn dân. Con số đó cũng cho thấy sức mạnh của dân tộc ta, vai trò lãnh đạo của Đảng và Nhà nước trong phát triển kinh tế đất nước. Vậy mà cái lão già Bùi Tín chẳng hiểu ăn bổng lộc của ai mà ngang ngược đến mức mù quáng. Đúng là “có già mà không có khôn”. Ông thực dụng khi sống hết sự nghiệp quan chức, đến khi về vườn lại “đá thúng đụng nia”, “chọc gậy bánh xe”. Con người của ông thật vô đạo đức, con cháu ông cũng phải thất vọng, cha mẹ ông nơi chín suối cũng phải đau lòng. Thật đáng buồn cho con người bất trung, bất hiếu như ông.