Thứ Tư, 14 tháng 3, 2018

“KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM” KHÔNG LÀ KHÁI NIỆM MƠ HỒ

Nobita(ST)

Trên cơ sở phát triển lý luận và tổng kết thực tiễn 15 năm đổi mới đất nước, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam (Đảng CSVN) đã khẳng định: “Chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trưòng định hướng xã hội chủ nghĩa thể hiện tư duy, quan niệm của Đảng ta về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Đó là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội”.[1] Nhận định này có giá trị chiến lược hết sức quan trọng. Nó không chỉ mang ý nghĩa về mặt khoa học mà còn là một định hướng rất cơ bản cho sự phát triển của nước ta trong quá trình đổi mới. Hơn nữa, nó còn là cơ sở để đi đến sự thống nhất về nhận thức, quan điểm, đường lối, mục tiêu con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng CSVN.

Không phải ngẫu nhiên mà Đảng CSVN rút ra được nhận định chiến lược có ý nghĩa hết sức quan trọng này. Đó chính là kết quả của quá trình phát triển lý luận và tổng kết thực tiễn của Đảng trong nhiều năm lãnh đạo nhân dân ta xây dựng chủ nghĩa xã hội, có cả những thành công và thất bại, có cả những bài học kinh nghiệm quý báu của các nước trên thế giới mà Đảng CSVN đã lựa chọn tiếp thu. Qua mỗi kỳ Đại hội, nhận thức của Đảng CSVN về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày càng được sáng tỏ hơn, được bổ sung, phát triển và không ngừng hoàn thiện, ngày càng phản ánh đúng thực tế khách quan và quy luật vận động của đất nước trong tiến trình đổi mới và phát triển.
Nhờ những đổi mới có tính chất bước ngoặt về tư duy, đặc biệt về tư duy kinh tế, dưới sự lãnh đạo của Đảng CSVN, công cuộc đổi mới đất nước đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa như Văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng CSVN đã đánh giá: “Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh CNH,HĐH và hội nhập quốc tế. Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành, phát triển. Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường. Văn hóa - xã hội có bước phát triển; bộ mặt đất nước và đời sống nhân dân có nhiều thay đổi,…”.
Từ những thành tựu của 30 năm đổi mới, cùng với những nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn trong quá trình đổi mới, Đại hội lần thứ XII của Đảng CSVN tiếp tục nhất quán chủ trủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Những tưởng rằng, sự đúng đắn của chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã được kiểm nghiệm qua thực tế với những thành tựu to lớn trong 30 năm qua, là không thể bàn cãi. Ấy vậy mà, hiện nay trên một số trang mạng xã hội vẫn còn một số người tuyên truyền các luận điệu hồ nghi rằng: có hay không có mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chỉ là khái niệm mơ hồ, thị trường và chủ nghĩa xã hội là hai khái niệm không thể trộn lẫn, chủ nghĩa xã hội không dung nạp kinh tế thị trường v.v.. Đó là những ý kiến không những sai lầm về mặt khoa học mà còn chứa đầy sự ác ý, không mang tính xây dựng.
Nhìn lại lịch sử phát triển của kinh tế thị trư­ờng trên thế giới cho thấy, kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hóa phát triển đến giai đoạn cao; ở đó các quy luật kinh tế của kinh tế hàng hóa hoạt động mạnh mẽ thông qua hệ thống thị trường tương đối đồng bộ và ở trình độ cao; thị trường trở thành đặc trưng nổi bật, chi phối mãnh liệt các chủ thể hoạt động trong nền kinh tế. Kinh tế thị trường xuất hiện tr­ước khi chủ nghĩa tư bản ra đời, nó còn tồn tại và phát triển cả sau chủ nghĩa tư bản, khi những cơ sở kinh tế - xã hội cho nó tồn tại và phát triển vẫn còn. Tuy nhiên, dưới chủ nghĩa tư bản, kinh tế thị trường đạt đến đỉnh cao khi sức lao động trở thành hàng hóa. Ngày nay, kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa phát triển rất mạnh mẽ; nó xuyên qua các quốc gia, hình thành nên thị trường không chỉ có tính khu vực mà còn có tính toàn cầu. Có lẽ, vì thế mà không ít người ngộ nhận rằng, kinh tế thị trường là sản phẩm riêng, là đặc trưng của chủ nghĩa tư bản.
 Chúng ta đã thừa nhận kinh tế thị trường còn tồn tại và phát triển khi những điều kiện khách quan của nó là sự phân công lao động xã hội và sự độc lập về mặt kinh tế giữa những chủ thể sản xuất, kinh doanh vẫn còn. Vậy thì, dưới chủ nghĩa xã hội, kinh tế thị trường có còn tồn tại và phát triển không? Trong những năm trước đây, ở các nước xã hội chủ nghĩa, do nhận thức không đầy đủ về vấn đề này, cùng với sự nôn nóng, duy ý chí, cho rằng, khi đã thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, phân phối sản phẩm trực tiếp, thực hiện quản lý theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung thì sẽ không còn sản xuất hàng hoá nữa, nếu còn thì đó cũng chỉ là những tàn dư và sớm bị xoá bỏ. Sự nhận thức sai lầm này đã được khắc phục trong cuộc cải cách, đổi mới của Đảng Cộng sản ở một nước xã hội chủ nghĩa. Sự thực là, dưới chủ nghĩa xã hội, phân công lao động xã hội với tư cách là cơ sở của trao đổi hàng hóa không mất đi, trái lại ngày một phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu; sự chuyên môn hóa và hợp tác lao động không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn được mở rộng ra phạm vi quốc tế. Và, trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất (sở hữu toàn dân - sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân và các hình thức sở hữu hỗn hợp khác); trong hình thức sở hữu nhà nước có sự tách biệt tương đối giữa quyền sở hữu (thuộc Nhà nước) và quyền sử dụng tư liệu sản xuất (thuộc tổ chức và cá nhân được Nhà nước giao quyền sử dụng). Đó là cơ sở kinh tế để cho các chủ thể sản xuất kinh doanh độc lập về mặt kinh tế, toàn quyền chi phối sản phẩm. Do đó, những điều kiện kinh tế - xã hội để kinh tế thị trường tồn tại và phát triển vẫn còn. Vậy thì, không chỉ có kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa mà còn có cả kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa.
Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nên nền kinh tế thị trường chư­a hoàn toàn là kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, mà đó là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Vậy kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là gì? Nhằm giải đáp vấn đề này, Văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng CSVN đã đưa ra định nghĩa rất rõ ràng: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”.
Đồng thời, tại Đại hội lần thứ XII của Đảng CSVN, những đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã được nhận thức rõ:  “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật; thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quản các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường. Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử dụng các công cụ, chính sách và các nguồn lực của Nhà nước để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi trường; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển. Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội[2].
Như vậy, sau 30 năm đổi mới đất nước, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ngày càng được nhận thức rõ hơn. Tuy nhiên, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là vấn đề mới chưa có trong tiền lệ trên thế giới cũng như ở Việt Nam, nên quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thì việc nhận thức về nó là vấn đề tiếp tục được đặt ra, song điều chắc chắn rằng đó không phải là kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam sẽ ngăn chặn, không để thị trường tự phát theo con đường tư­ bản chủ nghĩa, bảo đảm cho nền kinh tế phát triển đúng hướng đi lên chủ nghĩa xã hội. Điều đó tạo ra sự khác biệt căn bản về chất giữa kinh tế thị trư­ờng định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam với kinh tế thị trư­ờng t­ư bản chủ nghĩa.
Một sự thật hiển nhiên là, kinh tế thị trư­ờng tư­ bản chủ nghĩa dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư­ bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, thành phần kinh tế chủ yếu là kinh tế tư­ bản t­ư nhân; mục đích chủ yếu của nền kinh tế là mang lại lợi ích cho giai cấp bóc lột. Ngày nay, trong chủ nghĩa tư bản xuất hiện một số mô hình kinh tế thị trường khác nhau, như: kinh tế thị trường định hướng xã hội ở một số nước châu Âu (do các Đảng xã hội dân chủ cầm quyền) với mục tiêu điều hòa lợi ích, xoa dịu mâu thuẫn giai cấp; kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước theo học thuyết Kenyes để khắc phục khủng hoảnh kinh tế; kinh tế thị trường kết hợp với kế hoạch của nhà nước v.v.. Tuy nhiên, các nền kinh tế thị trường đó vẫn dựa trên quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, về thực chất vẫn là kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa.
Kinh tế thị trư­ờng định h­ướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là nền kinh tế nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị tr­ường có sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa nhằm mục tiêu“ dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”. Mặc dù còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, nh­ưng thành phần kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nư­ớc cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam có sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa bằng các công cụ quản lý vĩ mô, như kế hoạch, chính sách, pháp luật,… và bằng cả sức mạnh vật chất của thành phần kinh tế nhà nước, đồng thời sử dụng cơ chế thị trường để giải phóng sức sản xuất, phát huy mặt tích cực, hạn chế và khắc phục có hiệu quả mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của đông đảo quần chúng nhân dân lao động. Dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, kinh tế thị trư­ờng định hư­ớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thực hiện phân phối theo lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội.
Vì vậy, không thể nói rằng kinh tế thị tr­ường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là khái niệm mơ hồ; kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với kinh tế thị trường tư­ bản chủ nghĩa cũng không có gì khác nhau; chủ nghĩa xã hội không dung nạp kinh tế thị trường,... Nói như thế là không hiểu sự khác nhau về bản chất kinh tế cũng như chính trị - xã hội của kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế thị trường định h­ướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là nền kinh tế thị trường có tổ chức, có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Những quan điểm, những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đ­ường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; mọi sự nghi ngờ, phân vân ch­ưa tin kinh tế thị trường có thể phát triển trên cơ sở chế độ công hữu là nền tảng, kinh tế nhà nước là chủ đạo,… là không có căn cứ  khoa học./.

Nâng cao cảnh giác đấu tranh chống “ Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực chính trị tư tưởng trong Quân đội hiện nay


Ng.Th.H. Psy35 E          
Trong giai đoạn hiện nay, các thế lực thù địch luôn coi Việt Nam là một trọng điểm trong chiến lược “diễn biến hòa bình” (DBHB), mà mũi nhọn chống phá nhằm vào lĩnh vực chính trị - tư tưởng. Chúng công kích, xuyên tạc, phủ nhận vai trò chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, chế độ XHCN và ra sức chống phá lực lượng vũ trang nhân dân về chính trị.
Trong đó, đối tượng hàng đầu mà chúng tập trung chống phá quyết liệt là Quân đội nhân dân Việt Nam. Với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt để chống phá toàn diện quân đội, nhưng trước hết nhằm xoá bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với quân đội; xuyên tạc, phủ định mục tiêu, lý tưởng và bản chất, truyền thống của quân đội; phá hoại mối đoàn kết mật thiết giữa quân đội với nhân dân và tình đoàn kết quốc tế, làm cho quân đội giảm sút sức mạnh chính trị, tinh thần, không còn là lực lượng chiến đấu, lực lượng chính trị tin cậy và trung thành tuyệt đối của Đảng, Nhà nước và nhân dân.
          Thực hiện đánh phá trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng, điều đầu tiên các thế lực thù địch mưu toan làm thay đổi tư tưởng, ý thức hệ, nhằm “phi chính trị hoá” quân đội. Do đó, chúng dùng mọi thủ đoạn, phương tiện, biện pháp mà trước hết là lợi dụng ưu thế về phương tiện thông tin hiện đại, với một số lượng lớn các đài phát thanh, các loại sách, báo, internet, các trang mạng xã hội... tập trung xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của Quân đội nhân dân Việt Nam; phủ nhận mục tiêu chiến đấu của quân đội, hòng tạo “khoảng trống” về tư tưởng trong quân đội, từ đó tiến hành các hoạt động “lấp khoảng trống” về ý thức hệ, về tư tưởng bằng hệ tư tưởng tư sản, từng bước chuyển hoá lập trường tư tưởng vô sản sang lập trường tư tưởng tư sản, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ quân đội, đẩy quân đội đứng ngoài chính trị,
phá hoại chính trị vô sản của quân đội.
          Điều nguy hiểm là chúng âm mưu tạo ra sự thờ ơ về chính trị trong cán bộ, chiến sĩ, trong đó tập trung vào đối tượng quân nhân là thanh niên, chiến sĩ mới. Bằng các thủ đoạn tuyên truyền, xuyên tạc, phủ nhận các giá trị tốt đẹp của cách mạng, của dân tộc, chúng muốn làm cho thế hệ quân nhân trẻ hiện nay quên đi quá khứ hào hùng của Đảng, của dân tộc, hấp thụ các giá trị văn hoá, tư tưởng lối sống tư sản, từ đó đối lập với các thế hệ quân nhân đi trước, quay lưng lại với cách mạng, với Đảng. Chúng còn triệt để lợi dụng những khuyết điểm, những tiêu cực trong quá trình đổi mới, hội nhập quốc tế ở nước ta để tác động vào quân đội, nhằm tạo ra những hiệu ứng tiêu cực trong một bộ phận cán bộ, chiến sĩ, làm phai nhạt dần và làm giảm sút niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng.
          Để đánh phá trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng của quân đội, các thế lực thù địch còn tìm mọi cách đưa sản phẩm phi văn hoá vào đời sống tinh thần của quân đội. Thông qua những hoạt động văn hoá - nghệ thuật, đưa trái phép tài liệu, sách báo có nội dung xấu độc vào quân đội, nhằm từng bước tác động làm suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của quân nhân, làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và CNXH, hòng từng bước tạo ra một thế hệ quân nhân có lối sống thực dụng, thích hưởng thụ, xa rời lý tưởng cách mạng. Thông qua các hoạt động văn học, nghệ thuật hướng vào những nội dung, hình thức thể hiện quan điểm tư sản, làm phai mờ dòng văn học - nghệ thuật cách mạng, kháng chiến, xoá hình tượng người chiến sĩ cách mạng hy sinh quên mình vì Tổ quốc, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, tạo dựng hình tượng người lính theo quan điểm phi giai cấp, đứng ngoài chính trị, xa lạ với chính trị của Đảng, của dân tộc.
          Để thực hiện đấu tranh chống DBHB trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng trong quân đội hiện nay đạt hiệu quả cần chú trọng tiến hành đồng bộ nhiều hoạt động mà trước hết là phải đẩy mạnh giáo dục chính trị - tư tưởng, nâng cao giác ngộ mục tiêu lý tưởng chiến đấu, xây dựng ý chí quyết tâm, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ. Nếu cán bộ, chiến sĩ có giác ngộ chính trị, bản lĩnh vững vàng, ý chí quyết tâm cao, đạo đức cách mạng trong sáng sẽ tạo sự “miễn dịch” cần thiết, tăng sức “đề kháng”, đủ để ngăn chặn, loại trừ sự thẩm thấu và xâm nhập của các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc.
          Thường xuyên giáo dục nâng cao trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật quân sự hiện đại, nâng cao đời sống văn hoá tinh thần cho bộ đội, tẩy trừ văn hoá phẩm xấu độc, phản động. Tích cực bồi dưỡng cán bộ, chiến sĩ nâng cao năng lực đấu tranh chống lại sự phá hoại của các thế lực thù địch trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng thông qua  trang bị những kiến thức về lý luận, văn hoá, khoa học kỹ thuật quân sự, chuyên môn nghiệp vụ; đề phòng và khắc phục quan điểm vũ khí luận của tư tưởng quân sự tư sản, đề cao quá mức sức mạnh vũ khí, trang bị kỹ thuật công nghệ cao, dẫn đến mất lòng tin vào khả năng và sức mạnh chiến đấu của quân đội hiện nay.
          Cùng với công tác giáo dục nâng cao nhận thức mọi mặt cho mọi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội, phải thường xuyên chăm lo xây dựng các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh gắn với xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện. Xây dựng tổ chức cơ sở đảng vững mạnh, trong sạch về chính trị, tư tưởng, tổ chức là yếu tố quan trọng hàng đầu bảo đảm sự vững chắc của trận địa chính  trị - tư tưởng xã hội chủ nghĩa trong các đơn vị quân đội. Cùng với đó, phải tăng cường xây dựng đơn vị vững mạnh thông qua tiếp tục thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 917/1999/CT-QP ngày 22-9-1999 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, trong đó có yêu cầu hàng đầu là vững mạnh về chính trị - tư tưởng. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” và “Xây dựng môi trường văn hoá trong sạch, lành mạnh” ở các đơn vị quân đội.
          Chú trọng tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, chủ động kịp thời có biện pháp ngăn ngừa “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” ở các đơn vị quân đội. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ phải nhằm bảo đảm sự trong sạch về chính trị, tư tưởng, tổ chức của tổ chức đảng và các đơn vị quân đội. Do đó, phải thường xuyên giáo dục nâng cao tinh thần cảnh giác, ý thức bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ quân đội cho mọi quân nhân.
          Thực hiện phối hợp chặt chẽ với cáưc cơ quan tuyên truyền, văn hoá, báo chí của Đảng, Nhà nước và các tổ chức khác trong hệ thống chính trị nhằm phản bác có hiệu quả  các quan điểm sai trái, thù địch, các luận điệu tuyên truyền, lừa bịp mị dân về chính trị - tư tưởng của các thế lực thù địch. Đồng thời phối hợp chặt chẽ các hoạt động quân sự, quốc phòng với an ninh và đối ngoại; tăng cường phối hợp với tất cả các cấp, các ngành, các lực lượng trong hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương trong cuộc đấu tranh chống DBHB  nói chung và đấu tranh chống DBHB trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng trong quân đội nói riêng ./.  











BÙI TÍN-LÃO GIÀ GÀN DỞ, MẮC BỆNH ĐÃNG TRÍ


Psy34.HD89
          Hình ảnh lão già Bùi Tín đang xuất hiện lan tràn trên trang voatiengviet càng làm cho mọi  người dân Việt Nam chúng ta thấy rõ bộ mặt của y. Y đúng là một lão già ngang ngược, gàn dở và mất trí nhớ. Y đã quên rằng y sống được là nhờ cơm dân áo Đảng, để khi hạ cánh rồi y qua cầu rút ván đi sang thế giới cái gọi là “thiên đường tự do”. Ơi hỡi Bùi Tín ơi, tuổi ông xứng là tuổi cụ, kỵ của thế hệ trẻ Việt Nam. Nhưng ông sống gàn dở, cố chấp, ăn cháo đá bát như thế chúng tôi chỉ coi ông là lão già đãng trí mà thôi.
          Ông đã thấy “thiên đường sung sướng” nơi ông sống chưa. Hàng năm có bao nhiêu là vụ xả súng cướp đi hàng chục sinh mạng vô tội. Tội phạm nguy hiểm gấp vạn lần. Thế mà ông rêu rao đất nước Việt Nam là “một xã hội xuống cấp, lụi tàn”. Thật vô phúc khi đất mẹ Việt Nam đã nuôi dưỡng, che trở cho ông. Giờ đây, người con bất trị này đang hàng ngày, hàng giờ trà đạp lên thân thể người mẹ đang căng tràn bầu sữa nuôi dưỡng các con. Xã hội nào cũng vậy, điều tất nhiên là không tránh khỏi tai nạn giao thông, tệ nạn xã hội, và những “con sâu làm rầu nồi canh” . Điều ngẫu nhiên là nói ở đâu vào đối tượng nào. Nhưng nhìn toàn cục mà thấy, đó là những hiện tượng mà Đảng và Nhà nước cũng đang ra sức mạnh mẽ để tìm cách khắc phục, đấu tranh loại trừ. Vậy mà lão già Bùi Tín được đà lấn tới. Y tìm đủ mọi lý lẽ để bôi nhọ những điều đất nước ta đang phấn đấu vươn tới. Không biết có phải Y đang ăn vạ hay  không khi bóp mép sự thật, ăn không nói có, có một nói mười. Thật là trơ tráo với lão già 91 tuổi đầu. Ông nói dân Việt Nam bất an. Vậy thì bất an ở nơi đâu. Ông có ở Việt Nam đâu mà ông biết bất an ở chỗ nào hay nó xuất hiện trong sọt rác nhà ông. Ông đâu biết rằng tết cổ truyền dân tộc vừa qua, nhân dân vui vẻ phấn khởi thế nào. Khắp nơi treo đèn, cờ hoa, pháo rực sáng cả bầu trời đêm giao thừa. Không khí lễ hội tràn ngập khắp đất nước Việt Nam. Cả nước có niềm tin vào nền kinh tế khởi sắc trong năm qua mà ai ai cũng phấn khởi.
          Để có sự tăng trưởng GDP “ngoạn mục” đến 6,81là một cố gắng rất lớn của toàn Đảng, toàn dân. Con số đó cũng cho thấy sức mạnh của dân tộc ta, vai trò lãnh đạo của Đảng và Nhà nước trong phát triển kinh tế đất nước. Vậy mà cái lão già Bùi Tín chẳng hiểu ăn bổng lộc của ai mà ngang ngược đến mức mù quáng. Đúng là “có già mà không có khôn”. Ông thực dụng khi sống hết sự nghiệp quan chức, đến khi về vườn lại “đá thúng đụng nia”, “chọc gậy bánh xe”. Con người của ông thật vô đạo đức, con cháu ông cũng phải thất vọng, cha mẹ ông nơi chín suối cũng phải đau lòng. Thật đáng buồn cho con người bất trung, bất hiếu như ông.

" NHẬN DIỆN ÂM MƯU THỰC HIỆN CÁCH MẠNG MÀU Ở VIỆT NAM"


ADMIN.PSY11
Cái gọi là “ cách mạng hoa nhài ” ở Ai Cập, Tuy-ni-di, Li-bi, Cách mạng 5 tháng 10 ở Serbia (2000), Cách mạng Hoa hồng ở Gruzia (2003), Cách mạng Cam ở Ukraina (2004), và Cách mạng Tulip ở Kyrgyzstan(2005). một số kẻ phản động trong và ngoài nước đang hí hửng cho rằng, các cuộc “cách mạng” ấy chẳng bao lâu sẽ lan tới Việt Nam. Chúng kích động những người nhẹ dạ cả tin, kêu gọi biểu tình, “ tập dượt ” cho một cuộc “ cách mạng hoa sen” để lật đổ chế độ XHCN.
Trước hết, có thể nhận thấy ngay đây là một chiêu bài “Diễn biến hòa bình”, lợi dụng các trào lưu xã hội trên thế giới để phát động phong trào chống đối, đi tới lật đổ chế độ XHCN ở Việt Nam. Ở đây, từ “cách mạng” đã bị lạm dụng đến mức nguy hiểm. Trên thực tế, những cuộc “cách mạng nhung”, “cách mạng cam”, “cách mạng hoa nhài” hay hoa gì đi chăng nữa không hề tạo ra một sự biến đổi xã hội mang tính sâu sắc, toàn diện, tạo bước ngoặt thay đổi về chất trong mọi lĩnh vực xã hội, thay thế hình thái kinh tế – xã hội lỗi thời, lạc hậu bằng hình thái xã hội cao hơn mà thực chất chỉ là cuộc lật đổ chế độ bằng các thủ đoạn phi bạo lực kết hợp với bạo lực ở mức độ khác nhau. Sự độc tài, bất công chẳng những không mất đi mà còn trầm trọng hơn, đổ máu nhiều hơn, nghèo đói nhiều hơn, bất ổn nhiều hơn.
Vì vậy, không thể gọi đó là một cuộc cách mạng dù nó có mang màu sắc sặc sỡ bao nhiêu, mang tên loài hoa đẹp bao nhiêu đi chăng nữa! Đặc biệt, hoa sen, một loài hoa với vẻ đẹp Việt Nam và mang nhiều triết lý nhân sinh Việt Nam, không thể gắn với những âm mưu và hành động đi ngược lợi ích của Tổ quốc, dân tộc, mang lại khổ đau, chém giết, huynh đệ tương tàn.
Tại nhiều diễn đàn, mạng xã hội trên internet hiện nay, các thế lực thù địch hải ngoại có khá nhiều bài viết, thậm chí cả các chương trình truyền hình, đối thoại, bàn luận khá rầm rĩ về “cách mạng hoa nhài và hiện tình Việt Nam”. Một số nhân vật chống Cộng say sưa phân tích thế sự từ Tây sang Đông, từ chuyện Ai Cập, Tuy-ni-di, Li-bi… để “soi rọi”, “cảnh báo cho quốc dân đồng bào trong nước”. Chúng cho rằng, một cuộc cách mạng dân chủ theo kiểu mẫu của phương Tây, có thể tạo ra cuộc “chuyển giao quyền lực êm đềm, không đổ máu” ở Việt Nam. Chúng huênh hoang, bất chấp lý luận về cách mạng xã hội khi lập luận: “Cách mạng hoa nhài” mang tính tự phát của quần chúng, không cần gắn liền với một ý thức hệ, cương lĩnh hay tổ chức nào cả và đây lại là một yếu tố quan trọng góp phần thành công mà những cuộc cách mạng trước kia không có. Kiểu “lý luận” này thực sự chỉ là một kiểu suy luận bừa. Lê-nin từng nói: “Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng”. Nếu cuộc cách mạng không cương lĩnh, không tổ chức, thì cuộc cách mạng đó vì ai, dựa vào đâu?
Sự thâm độc, xảo quyệt của chiêu bài này càng lộ rõ khi các thế lực phản động và thù địch “mách” rõ những cách làm rất cụ thể, tỉ mỉ cho từng giai tầng, lực lượng xã hội ở Việt Nam. Chúng luôn đề cao vai trò của các mạng xã hội và công cụ internet, từ facebook, youtube đến twitter, thậm chí điện thoại di động là “vũ khí hữu hiệu” trong việc tập hợp lực lượng nổi dậy ở nhiều nước. Từ đó, chúng kích động giới trẻ Việt Nam hãy tận dụng lợi thế của sự phát triển internet để “hành động”. Chúng cũng cho rằng cách mạng “hoa sen” thuận lợi hơn vì dân số trẻ, sẽ đi theo từng nấc thang để chính quyền khó đàn áp. Chúng đưa ra các bước hành động: Ban đầu chỉ kêu gọi nhau tụ tập mặc áo trắng ở chỗ đông người rồi dần dần tiến tới tụ tập vì biển, đảo, vì kinh tế khó khăn. “Hương hoa nhài, hoa sen” sẽ khích lệ tiếng nói đối kháng qua các phong trào cùng ký tên vào tâm thư, thỉnh nguyện, các bản tuyên cáo, kiến nghị nào đó để tạo dư luận xã hội. Ở nấc thang cao hơn, sẽ phát động biểu tình sẽ hướng tới phản đối những hạn chế trong điều hành, quản lý kinh tế, những tiêu cực xã hội rồi tiến tới kêu gọi lật đổ chính quyền, phát động phong trào “toàn dân xuống đường… cứu nước”.Chúng lại đưa ra chiêu bài kêu gọi: “Quân đội nhân dân sẽ thực sự là của nhân dân nên sẽ không bắn vào người biểu tình. Lực lượng công an và quân đội hãy trở về với nghĩa vụ giúp đỡ và bảo vệ nhân dân, vốn đã sinh ra và nuôi nấng mình”. Khi các cuộc biểu tình đã được đẩy lên ở mức cao tại các thành phố lớn, sẽ có sự hà hơi tiếp sức của các tổ chức phản động trong và ngoài nước, rồi chúng sẽ kêu gọi sự can thiệp của nước ngoài… Nhìn lại một vài cuộc tụ tập đông người vừa qua, có nhiều dấu hiệu cho thấy đã có bàn tay kích động, đứng sau của các thế lực thù địch theo một “kịch bản” dài hơi.
Chúng ta không cần một cuộc “cách mạng hoa sen, hoa nhài” hay loài hoa nào khác, mà kiên trì con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Chúng ta nhận thức sâu sắc rằng, thời kỳ quá độ lên CNXH là một quá trình đầy khó khăn, gian khổ, kéo dài. Chỉ có sự đoàn kết, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, nhìn thẳng vào sự thật, đấu tranh đẩy lùi tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực xã hội, hạn chế các yếu kém trong quản lý, điều hành xã hội vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh mới giúp cho cách mạng XHCN sớm thành công. Cái gọi là “cách mạng màu, cách mạng hoa” mà các thế lực thù địch đang mưu toan chỉ là sự lừa phỉnh nhân dân.
                                                                                                       ADMIN.PSY11
                                                                                                               (ST)


LOẠI TRỪ THAM VỌNG QUYỀN LỰC CÁ NHÂN


ADMIN.PSY11
“Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài”, sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh điều này. Đảng ta là đảng cầm quyền, mỗi đảng viên khi đứng trong hàng ngũ của Đảng luôn có cơ hội được Đảng cử, dân bầu giữ một chức vụ nào đó trong hệ thống chính trị.
Người có chức quyền đứng trước cơ hội lớn để tiến bộ, trưởng thành nhưng cũng đứng trước những cạm bẫy tinh vi khiến họ suy thoái, biến chất. Chính vì vậy mà mỗi tổ chức đảng phải quan tâm phòng, chống tham vọng quyền lực trong cán bộ, đảng viên (CB, ĐV). Đây được xem là công việc quan trọng hàng đầu trong phòng, chống nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay.
Hiểu đúng về bản chất quyền lực
Thế nào là tham vọng quyền lực? Tham vọng ở đây có thể hiểu là lòng ham muốn quá lớn, rất khó đạt được so với khả năng thực chất của mỗi người. Vì vậy, tham vọng quyền lực được hiểu là lòng ham muốn giữ những chức quyền cao hơn rất nhiều so với thực chất năng lực, đạo đức của người đó.
Ở nước ta, quan niệm “một người làm quan, cả họ được nhờ” đã tồn tại nhiều năm dưới chế độ phong kiến. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, một trong những điều vĩ đại nhất mà Đảng, Bác Hồ mang lại qua cuộc cách mạng này là quan niệm về quyền lực Nhà nước. Đảng ta là một đảng chính trị nhưng không có mục đích tự thân, Đảng chỉ có một mục tiêu hoạt động duy nhất là “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Nhà nước ta là đại diện quyền lực của nhân dân, Nhà nước chỉ có quyền sử dụng quyền lực ấy nhằm xây dựng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân chứ không có quyền sở hữu quyền lực đó. Đó là những điều khác biệt hẳn về chất của Đảng ta so với mọi loại hình đảng chính trị khác, cũng là sự khác biệt hoàn toàn của Nhà nước ta so với các loại hình nhà nước khác. Những đảng viên được Đảng cử, dân bầu nắm giữ các chức vụ trong hệ thống chính trị, từ những đồng chí lãnh đạo cao cấp ở Trung ương đến những đồng chí cán bộ ở cơ sở đều không phải là “quan cách mạng” mà là “công bộc” của nhân dân.
Tuy nhiên, trong thực tế, không phải người cán bộ nào cũng thấm nhuần quan điểm là “công bộc” của nhân dân. Khi một người được giao giữ một chức vụ, quyền hạn nhất định thì chẳng những sẽ nhận được sự đãi ngộ về vật chất và tinh thần thích đáng của Nhà nước mà còn có thể sử dụng quyền hạn đó “ban phát” cho những người xung quanh trong nhóm lợi ích “quan hệ, đồ đệ, hậu duệ, tiền tệ”. Tiến sĩ Vũ Ngọc Hoàng, nguyên Phó trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương cho rằng: “Quyền lực luôn có mặt trái là nó làm tha hóa những người nắm giữ và sử dụng quyền lực nếu như họ không đủ độ chín về nhân cách. Quyền lực càng lớn thì nguy cơ tha hóa càng nhiều. Người giữ chức vụ càng cao trong bộ máy quyền lực thì đối mặt với nguy cơ càng lớn về sự tha hóa”.
Sự tha hóa của những người có chức, có quyền là nguy cơ của mọi đảng cầm quyền. Chỉ hai năm sau khi Đảng ta trở thành đảng cầm quyền, tháng 10-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” đã chỉ rõ những căn bệnh của đảng viên “có chức, có quyền” như: Bệnh tham lam, bệnh kiêu ngạo, bệnh hiếu danh, thiếu kỷ luật, óc hẹp hòi, óc địa phương, óc lãnh tụ... Trong đó, về bệnh tham lam và hiếu danh, Người phân tích: "Những người mắc phải bệnh này thì đặt lợi ích của mình lên trên lợi ích của Đảng, của dân tộc, do đó mà chỉ "tự tư tự lợi". Dùng của công làm việc tư. Dựa vào thế lực của Đảng để theo đuổi mục đích riêng của mình... Không sợ mất thanh danh của Đảng, không sợ mất danh giá của mình".
Có người cho rằng: Tâm lý con người nói chung ai chẳng thích quyền lực, không có gì hấp dẫn, cám dỗ con người bằng quyền lực. Quyền lực là thứ “gây nghiện” bằng tất cả những thứ “gây nghiện” khác cộng lại. Có quyền lực rồi lại muốn quyền lực lớn hơn. Vì vậy, việc Đảng ta quy định CB, ĐV không được “tham vọng quyền lực” là một quy định thiếu tính thực tế và phòng, chống tham vọng quyền lực là chống lại “quy luật khách quan” của xã hội? Hơn nữa, phòng, chống tham vọng quyền lực sẽ làm thui chột ý chí phấn đấu, cống hiến của CB, ĐV. Nói như vậy là chưa hiểu đúng bản chất quyền lực Nhà nước ta, càng không hiểu bản chất của Đảng ta. Trong mọi chủ trương, chính sách cũng như trong hoạt động thực tiễn, Đảng ta luôn khuyến khích mọi đảng viên học tập, rèn luyện trở thành những người có đức, có tài để có đủ uy tín được nhân dân bầu vào giữ các chức vụ trong hệ thống chính trị. “Cán bộ là nhân tố quyết định thành bại của cách mạng”, “trọng dụng nhân tài, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, người ở trong nước hay người Việt Nam định cư ở nước ngoài” là những quan điểm lớn, xuyên suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới của Đảng ta.
“3 mũi tên” loại trừ tham vọng quyền lực
Trong Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về "Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ", Đảng ta đã chỉ ra rất nhiều biểu hiện về tham vọng quyền lực. Cụ thể là: “Tham vọng chức quyền, không chấp hành sự phân công của tổ chức; kén chọn chức danh, vị trí công tác; chọn nơi có nhiều lợi ích, chọn việc dễ, bỏ việc khó; không sẵn sàng nhận nhiệm vụ ở nơi xa, nơi có khó khăn. Thậm chí còn tìm mọi cách để vận động, tác động, tranh thủ phiếu bầu, phiếu tín nhiệm cho cá nhân một cách không lành mạnh”; “tranh thủ bổ nhiệm người thân, người quen, người nhà dù không đủ tiêu chuẩn, điều kiện giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc bố trí, sắp xếp vào vị trí có nhiều lợi ích”; “kèn cựa địa vị, tranh chức, tranh quyền; độc đoán, gia trưởng”, “háo danh”; “thao túng trong công tác cán bộ; chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp, chạy tội... Sử dụng quyền lực được giao để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi”.
Những vụ “đại án” hay những trường hợp phải kỷ luật đối với một số đảng viên giữ chức vụ cao gần đây cho thấy, những người bị xử lý hầu hết đều rơi vào “mê cung tội lỗi” bởi vòng xoáy tham vọng quyền lực. Có người sau khi tỉnh ngộ đã xin lỗi Đảng, xin lỗi nhân dân và thốt lên: “Giá như tôi được kiểm soát, giá như tôi được phê bình sớm”... Quả thực, quyền lực luôn là “con ngựa bất kham”, luôn sẵn sàng lồng lên quật ngã những người cưỡi nó, nếu họ không đủ nhân cách, bản lĩnh, năng lực cầm cương.
Tiễu trừ tham vọng quyền lực trong CB, ĐV là công việc quan trọng hàng đầu đối với một đảng cách mạng-cầm quyền như Đảng ta. Nhiệm vụ này vô cùng khó khăn, phức tạp, chỉ có thể thực hiện được khi chúng ta sử dụng “ba mũi tên” sau đây:
Mũi tên thứ nhất là tiến hành giáo dục chính trị tư tưởng, tự phê bình và phê bình. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao nhận thức cho CB, ĐV về bản chất của Đảng và bản chất quyền lực Nhà nước ta. Phải quán triệt sâu sắc quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi CB, ĐV vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung thành của nhân dân. Hằng năm, từng CB, ĐV phải có cam kết giữ gìn phẩm chất đạo đức, cam kết “không tham vọng quyền lực”. Trong tự phê bình và phê bình, cần khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm và bảo vệ người thẳng thắn, dám đấu tranh với biểu hiện tham vọng quyền lực. Đặc biệt, khi chuẩn bị đề bạt, luân chuyển, điều động công tác đối với CB, ĐV phải coi trọng đánh giá đúng kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao; kết quả tu dưỡng, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống.
Mũi tên thứ hai là quyết liệt đổi mới công tác cán bộ. Trước hết là thực hiện “nhốt quyền lực vào chiếc lồng cơ chế”. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp thực hiện nghiêm cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức, có quyền, quyền hạn đến đâu trách nhiệm đến đó; phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm tập thể, cá nhân trong từng công đoạn giải quyết công việc và có chế tài xử lý nghiêm những hành vi vi phạm. Kiên quyết sàng lọc, miễn nhiệm, thay thế, cho từ chức đối với cán bộ làm việc kém hiệu quả, không hoàn thành nhiệm vụ, yếu về năng lực, kém về phẩm chất đạo đức. Cùng với đó, phải tiến hành ngay việc rà soát, hoàn thiện các quy định, văn bản quy phạm pháp luật, xóa bỏ cơ chế "xin-cho", "lợi ích nhóm"... Chấn chỉnh, khắc phục tình trạng kén chọn vị trí, chức danh trong đội ngũ CB, ĐV.
Mũi tên thứ ba là phát huy vai trò của nhân dân trong phát hiện, xử lý những CB, ĐV tham vọng quyền lực. Các cấp ủy, chính quyền phải nhận thức sâu sắc, quán triệt và thực hiện nghiêm việc phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội trong giám sát và phản biện xã hội; huy động nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Nhân dân có “trăm tai, nghìn mắt”, rất tinh tường trong việc phát hiện những cán bộ tham vọng quyền lực. Vì vậy, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần coi trọng việc tiếp nhận thông tin, lắng nghe, đối thoại trực tiếp và xử lý những phản ánh, kiến nghị của nhân dân về đội ngũ cán bộ.
                                                                                                                                           
                                                                                                         ADMIN.PSY11
                                                                                                          (Nguồn: QĐND)

VỀ PHẠM ĐOAN TRANG, TÁC GIẢ “CHÍNH TRỊ BÌNH DÂN”


K’Sor H 
Một số trang mạng cho hay, ngày 24/2 vừa qua, Phạm Đoan Trang, người mới đây được Tổ chức nhân quyền People in Need (có trụ sở tại Praha, Cộng hòa Czech) thông báo sẽ trao giải thưởng Homo Homini, đã bị Cơ quan An ninh triệu tập lên trụ sở để làm việc về cuốn sách “Chính trị bình dân” do Trang viết và xuất bản hồi năm ngoái.
Tuy nhiên, có vẻ mọi chuyện không chỉ có thế. Nhận định sau đây của blog Mõ làng không phải là không có cơ sở: “Trang là mắt xích, thành viên quan trọng trong tổ chức chống phá mới bị bắt hàng loạt thành viên của Hội anh em dân chủ. Thậm chí, sau khi Nguyễn Văn Đài và nhiều thành viên cốt cán, chủ chốt khác bị sa lưới như Nguyễn Trung Tôn (Thanh Hóa), Phạm Văn Trội (Hà Nội), Nguyễn Trung Trực (Quảng Bình), Trần Thị Xuân (Hà Tĩnh), Nguyễn Bắc Truyển (Đồng Tháp)… thì với sức vóc và “sự ảnh hưởng” sau một quá trình đánh bóng tên tuổi của mình thì Đoan Trang đã trở thành thủ lĩnh dù không chính danh. Và với riêng điều này, nhiều kẻ đã không lấy gì làm ưa đối với Trang, dù không thể thay đổi.
Và với một vai trò như thế nên việc Trang bị bắt đương nhiên có liên quan đến vụ án Nguyễn Văn Đài và đồng bọn. Hay nói cách khác, đây không loại trừ là mẻ lưới cuối mà cơ quan Công an thực hiện trước khi phá rã hoàn toàn và xử lý những đối tượng trong tổ chức phản động Hội anh em dân chủ.
Trên thực tế, vụ án Nguyễn Văn Đài và đồng bọn rất nhiều lần được dự báo sẽ được đưa ra xét xử, nhất là sau khi Trần Thị Xuân (Hà Tĩnh) bị bắt và nhận tội. Nhưng có vẻ như tất cả chỉ là dự báo, vai trò của Trần Thị Xuân không lớn nên vụ án thực sự vẫn chưa kết thúc. Nhưng đối với Phạm Thị Đoan Trang thì có vẻ như lại hoàn toàn khác. Với tài viết lách từ thời còn công tác tại báo Tuổi trẻ, sự chống đối của Trang đã có quá trình và ít nhiều tác động tới quyền của các chủ thể được pháp luật bảo vệ, trong đó có nhà nước. Cho nên, việc Trang bị bắt có ý nghĩa quan trọng.
Với sự quan trọng của Trang thì sau khi ả bị bắt dù còn rất nhiều đối tượng khác chưa sa lưới nhưng có thể cơ quan An ninh điều tra sẽ hoàn thiện hồ sơ để truy tố và đề nghị xét xử công khai trước pháp luật.”
Nói như để thấy, chuyện Đoan Trang bị bắt là tất yếu, chỉ tiếc là nó không xảy ra sớm hơn mà thôi.
Phạm Đoan Trang sinh năm 1978, từng là phóng viên của báo Pháp Luật, nhưng giờ đây lại được biết đến với tư cách là một kẻ chuyên vi phạm Pháp Luật với những hoạt động chống phá nhà nước Việt Nam. Trên mạng, Đoan Trang cũng được biết tới là một nhà báo kiêm “nhà dân chủ” được nhắc nhiều trên các trang mạng “Bất đồng chính kiến” với những tung hô không tiếc lời.
Sau những scandal tình ái và sau chuyện lộ clip sex trác táng, Đoan Trang như kẻ bất mãn, trả thù đời bằng cách lấy việc chống phá đất nước, chống đối chính quyền là một nghề để kiếm sống. Được những kẻ giả danh dân chủ tung hô, Đoan Trang ngày càng sa lầy vào vũng bùn tội lỗi với những bài viết chống phá điên cuồng.
Phạm Đoan Trang đã soạn thảo, đăng tải nhiều bài viết có nội dung sai sự thật, không có căn cứ, xuyên tạc, đả kích, nói xấu đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam, pháp luật của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam; tuyên truyền, kích động nhân dân chống lại Nhà nước, xâm hại an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.
Không dừng lại ở đó, Phạm Đoan Trang còn tham gia lập và là thành viên của nhiều hội/nhóm chống phá đất nước, tiêu biểu như: Việt Tân, Vì một Hà Nội xanh, Hội Anh em dân chủ…; thường xuyên tiếp xúc, gặp gỡ các cơ quan và viên chức ngoại giao nước ngoài thiếu thiện chí để xuyên tạc, bóp méo về tình hình nhân quyền ở Việt Nam.
K’Sor H (Tổng hợp từ Internet)


CẦN CẢNH GIÁC TRƯỚC ÂM MƯU LỢI DỤNG HẢI CHIẾN GẠC MA ĐỂ KÍCH ĐỘNG BIỂU TÌNH


K’Sor H 
Cách đây gần 30 năm, vào ngày 14/3/1988, trên biển Đông, 64 cán bộ, chiến sỹ đã anh dũng hy sinh cùng tàu HQ 604 ở khu vực đảo Gạc Ma. Mỗi khi nhắc tới vùng biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc, mỗi người dân Việt Nam đều khao khát được góp sức mình bảo vệ chủ quyền quốc gia, kiên quyết phản đối mưu đồ độc chiếm biển Đông, thêm tin yêu những người lính hải quân nơi đầu sóng ngọn gió. Tuy nhiên, hiện nay, các thế lực thù địch, bọn phản động trong và ngoài nước lại triệt để lợi dụng vấn đề này để tổ chức cái gọi là “Lễ tưởng niệm hải chiến Gạc Ma” với âm mưu dụ dỗ, kích động quần chúng nhân dân xuống đường biểu tình tuần hành, gây rối an ninh trật tự trên địa bàn thành phố Hà Nội, nhằm tập dượt “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố” ở nước ta.
Chúng ta có thể thấy rằng, hầu hết hiện nay các cuộc biểu tình, tuần hành chống Trung Quốc ở thành phố Hà Nội đều được các hội nhóm “dân chủ” trong nước tổ chức, dưới sự chỉ đạo, điều hành và tài trợ tài chính của các tổ chức phản động lưu vong, đặc biệt là tổ chức khủng bố Việt Tân. Trong đó, chúng ra sức tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước hòng làm sai lệch thông tin, tình hình về hải chiến Gạc Ma. Từ đó, chúng kêu gọi, kích động biểu tình dưới danh nghĩa “yêu nước” nhưng bản chất là thực hiện phép thử đối với dư luận và tập dượt cho âm mưu tiến hành cách mạng đường phố, cách mạng màu trong chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm chuyển hóa, thay đổi chế độ chính trị ở Việt Nam. Đây là những hành vi hết sức nguy hiểm, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Có thể thấy rằng tổ chức khủng bố Việt Tân đã rất lưu manh khi lợi dụng mạng xã hội Facebook để kích động số đối tượng chống đối trong nước tập trung đông người gây rối an ninh trật tự công cộng. Trong đó, một số đối tượng cực đoan, quá khích lợi dụng danh nghĩa biểu tình chống Trung Quốc, tham gia tập trung đông người gây rối an ninh trật tự công cộng trên địa bàn thành phố Hà Nội đã bị cơ quan chức năng xử lý như: Trương Văn Dũng; Lã Việt Dũng; Nguyễn Thúy Hạnh, Nguyễn Tường Thụy, Nguyễn Quang A,… Điển hình, vào ngày 14/3/2017, tổ chức khủng bố Việt Tân đã lợi dụng hải chiến Gạc Ma để kêu gọi người dân, tập trung đông người, biểu tình, tuần hành trái phép tại tường đài Lý Thái Tổ, vi phạm nghiêm trọng Nghị định 38/2005/NĐ-CP ngày 18/3/2005 của Chính phủ quy định một số biện pháp đảm bảo trật tự công cộng; vi phạm Điều 245 Bộ Luật Hình sự..., ảnh hưởng đến việc kinh doanh, đi lại, du lịch của du khách và người dân thủ đô Hà Nội, ảnh hưởng tới hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế.
K’Sor H (Tổng hợp từ Internet và SD.blog.spot.com)