Chủ Nhật, 5 tháng 11, 2017

“KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM” KHÔNG LÀ KHÁI NIỆM MƠ HỒ

Nobita(ST)
Trên cơ sở phát triển lý luận và tổng kết thực tiễn 15 năm đổi mới đất nước, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam (Đảng CSVN) đã khẳng định: “Chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trưòng định hướng xã hội chủ nghĩa thể hiện tư duy, quan niệm của Đảng ta về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Đó là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội”.[1] Nhận định này có giá trị chiến lược hết sức quan trọng. Nó không chỉ mang ý nghĩa về mặt khoa học mà còn là một định hướng rất cơ bản cho sự phát triển của nước ta trong quá trình đổi mới. Hơn nữa, nó còn là cơ sở để đi đến sự thống nhất về nhận thức, quan điểm, đường lối, mục tiêu con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng CSVN.
Không phải ngẫu nhiên mà Đảng CSVN rút ra được nhận định chiến lược có ý nghĩa hết sức quan trọng này. Đó chính là kết quả của quá trình phát triển lý luận và tổng kết thực tiễn của Đảng trong nhiều năm lãnh đạo nhân dân ta xây dựng chủ nghĩa xã hội, có cả những thành công và thất bại, có cả những bài học kinh nghiệm quý báu của các nước trên thế giới mà Đảng CSVN đã lựa chọn tiếp thu. Qua mỗi kỳ Đại hội, nhận thức của Đảng CSVN về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày càng được sáng tỏ hơn, được bổ sung, phát triển và không ngừng hoàn thiện, ngày càng phản ánh đúng thực tế khách quan và quy luật vận động của đất nước trong tiến trình đổi mới và phát triển.
Nhờ những đổi mới có tính chất bước ngoặt về tư duy, đặc biệt về tư duy kinh tế, dưới sự lãnh đạo của Đảng CSVN, công cuộc đổi mới đất nước đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa như Văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng CSVN đã đánh giá: “Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh CNH,HĐH và hội nhập quốc tế. Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành, phát triển. Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường. Văn hóa - xã hội có bước phát triển; bộ mặt đất nước và đời sống nhân dân có nhiều thay đổi,…”.
Từ những thành tựu của 30 năm đổi mới, cùng với những nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn trong quá trình đổi mới, Đại hội lần thứ XII của Đảng CSVN tiếp tục nhất quán chủ trủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Những tưởng rằng, sự đúng đắn của chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã được kiểm nghiệm qua thực tế với những thành tựu to lớn trong 30 năm qua, là không thể bàn cãi. Ấy vậy mà, hiện nay trên một số trang mạng xã hội vẫn còn một số người tuyên truyền các luận điệu hồ nghi rằng: có hay không có mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chỉ là khái niệm mơ hồ, thị trường và chủ nghĩa xã hội là hai khái niệm không thể trộn lẫn, chủ nghĩa xã hội không dung nạp kinh tế thị trường v.v.. Đó là những ý kiến không những sai lầm về mặt khoa học mà còn chứa đầy sự ác ý, không mang tính xây dựng.
Nhìn lại lịch sử phát triển của kinh tế thị trư­ờng trên thế giới cho thấy, kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hóa phát triển đến giai đoạn cao; ở đó các quy luật kinh tế của kinh tế hàng hóa hoạt động mạnh mẽ thông qua hệ thống thị trường tương đối đồng bộ và ở trình độ cao; thị trường trở thành đặc trưng nổi bật, chi phối mãnh liệt các chủ thể hoạt động trong nền kinh tế. Kinh tế thị trường xuất hiện tr­ước khi chủ nghĩa tư bản ra đời, nó còn tồn tại và phát triển cả sau chủ nghĩa tư bản, khi những cơ sở kinh tế - xã hội cho nó tồn tại và phát triển vẫn còn. Tuy nhiên, dưới chủ nghĩa tư bản, kinh tế thị trường đạt đến đỉnh cao khi sức lao động trở thành hàng hóa. Ngày nay, kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa phát triển rất mạnh mẽ; nó xuyên qua các quốc gia, hình thành nên thị trường không chỉ có tính khu vực mà còn có tính toàn cầu. Có lẽ, vì thế mà không ít người ngộ nhận rằng, kinh tế thị trường là sản phẩm riêng, là đặc trưng của chủ nghĩa tư bản.
 Chúng ta đã thừa nhận kinh tế thị trường còn tồn tại và phát triển khi những điều kiện khách quan của nó là sự phân công lao động xã hội và sự độc lập về mặt kinh tế giữa những chủ thể sản xuất, kinh doanh vẫn còn. Vậy thì, dưới chủ nghĩa xã hội, kinh tế thị trường có còn tồn tại và phát triển không? Trong những năm trước đây, ở các nước xã hội chủ nghĩa, do nhận thức không đầy đủ về vấn đề này, cùng với sự nôn nóng, duy ý chí, cho rằng, khi đã thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, phân phối sản phẩm trực tiếp, thực hiện quản lý theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung thì sẽ không còn sản xuất hàng hoá nữa, nếu còn thì đó cũng chỉ là những tàn dư và sớm bị xoá bỏ. Sự nhận thức sai lầm này đã được khắc phục trong cuộc cải cách, đổi mới của Đảng Cộng sản ở một nước xã hội chủ nghĩa. Sự thực là, dưới chủ nghĩa xã hội, phân công lao động xã hội với tư cách là cơ sở của trao đổi hàng hóa không mất đi, trái lại ngày một phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu; sự chuyên môn hóa và hợp tác lao động không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn được mở rộng ra phạm vi quốc tế. Và, trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất (sở hữu toàn dân - sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân và các hình thức sở hữu hỗn hợp khác); trong hình thức sở hữu nhà nước có sự tách biệt tương đối giữa quyền sở hữu (thuộc Nhà nước) và quyền sử dụng tư liệu sản xuất (thuộc tổ chức và cá nhân được Nhà nước giao quyền sử dụng). Đó là cơ sở kinh tế để cho các chủ thể sản xuất kinh doanh độc lập về mặt kinh tế, toàn quyền chi phối sản phẩm. Do đó, những điều kiện kinh tế - xã hội để kinh tế thị trường tồn tại và phát triển vẫn còn. Vậy thì, không chỉ có kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa mà còn có cả kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa.
Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nên nền kinh tế thị trường chư­a hoàn toàn là kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, mà đó là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Vậy kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là gì? Nhằm giải đáp vấn đề này, Văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng CSVN đã đưa ra định nghĩa rất rõ ràng: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”.
Đồng thời, tại Đại hội lần thứ XII của Đảng CSVN, những đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã được nhận thức rõ:  “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật; thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quản các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường. Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử dụng các công cụ, chính sách và các nguồn lực của Nhà nước để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi trường; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển. Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội[2].
Như vậy, sau 30 năm đổi mới đất nước, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ngày càng được nhận thức rõ hơn. Tuy nhiên, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là vấn đề mới chưa có trong tiền lệ trên thế giới cũng như ở Việt Nam, nên quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thì việc nhận thức về nó là vấn đề tiếp tục được đặt ra, song điều chắc chắn rằng đó không phải là kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam sẽ ngăn chặn, không để thị trường tự phát theo con đường tư­ bản chủ nghĩa, bảo đảm cho nền kinh tế phát triển đúng hướng đi lên chủ nghĩa xã hội. Điều đó tạo ra sự khác biệt căn bản về chất giữa kinh tế thị trư­ờng định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam với kinh tế thị trư­ờng t­ư bản chủ nghĩa.
Một sự thật hiển nhiên là, kinh tế thị trư­ờng tư­ bản chủ nghĩa dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư­ bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, thành phần kinh tế chủ yếu là kinh tế tư­ bản t­ư nhân; mục đích chủ yếu của nền kinh tế là mang lại lợi ích cho giai cấp bóc lột. Ngày nay, trong chủ nghĩa tư bản xuất hiện một số mô hình kinh tế thị trường khác nhau, như: kinh tế thị trường định hướng xã hội ở một số nước châu Âu (do các Đảng xã hội dân chủ cầm quyền) với mục tiêu điều hòa lợi ích, xoa dịu mâu thuẫn giai cấp; kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước theo học thuyết Kenyes để khắc phục khủng hoảnh kinh tế; kinh tế thị trường kết hợp với kế hoạch của nhà nước v.v.. Tuy nhiên, các nền kinh tế thị trường đó vẫn dựa trên quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, về thực chất vẫn là kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa.
Kinh tế thị trư­ờng định h­ướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là nền kinh tế nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị tr­ường có sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa nhằm mục tiêu“ dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”. Mặc dù còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, nh­ưng thành phần kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nư­ớc cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam có sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa bằng các công cụ quản lý vĩ mô, như kế hoạch, chính sách, pháp luật,… và bằng cả sức mạnh vật chất của thành phần kinh tế nhà nước, đồng thời sử dụng cơ chế thị trường để giải phóng sức sản xuất, phát huy mặt tích cực, hạn chế và khắc phục có hiệu quả mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của đông đảo quần chúng nhân dân lao động. Dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, kinh tế thị trư­ờng định hư­ớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thực hiện phân phối theo lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội.
Vì vậy, không thể nói rằng kinh tế thị tr­ường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là khái niệm mơ hồ; kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với kinh tế thị trường tư­ bản chủ nghĩa cũng không có gì khác nhau; chủ nghĩa xã hội không dung nạp kinh tế thị trường,... Nói như thế là không hiểu sự khác nhau về bản chất kinh tế cũng như chính trị - xã hội của kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế thị trường định h­ướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là nền kinh tế thị trường có tổ chức, có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Những quan điểm, những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đ­ường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; mọi sự nghi ngờ, phân vân ch­ưa tin kinh tế thị trường có thể phát triển trên cơ sở chế độ công hữu là nền tảng, kinh tế nhà nước là chủ đạo,… là không có căn cứ  khoa học./.

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐÃ NHẬN THỨC SÂU SẮC VÀ VẬN DỤNG SÁNG TẠO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC

HatT.Psy.11)
Chủ tịch Hồ Chí Minh - người lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam đã đi xa nhưng tư tưởng của người luôn trường tồn mãi mãi và có giá trị định hướng cho sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Qua các giai đoạn cách mạng, tư tưởng Hồ Chí Minh được Đảng ta nhận thức ngày càng toàn diện và sâu sắc. Đảng ta khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mac-Lenin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi.”. Sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và đó chính là quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam trong thời đại mới.
Giá trị nhân văn của tư tưởng Hồ Chí Minh được biểu hiện vô cùng đa dạng và phong phú, thấm đượm trong toàn bộ cuộc đời, sự nghiệp, trong tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người, tỏa sáng trong những trước tác, trong từng việc làm, cử chỉ và mối quan tâm sâu sắc, ân cần đối với con người, với nhân dân, đất nước và nhân loại, nhất là nhân dân các dân tộc bị áp bức. Giá trị nhân văn trong hệ thống các giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh được khái quát ở hai nội dung cơ bản:
Một là, giá trị nhân văn của tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện nổi bật trong tư tưởng của Người, lãnh đạo, chỉ đạo cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Tiếp thu thế giới quan, phương pháp luận cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mac-Lenin, bằng thiên tài trí tuệ, nhận thức đúng xu thế phát triển tất yếu của loài người và tính chất của thời đại, Người đã khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản.”
Hai là, giá trị nhân văn của tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện trong những tư tưởng của Người trong xây dựng xã hội chủ nghĩa, trong đấu tranh giải quyết mâu thuẫn giữa cái tốt với cái xấu, giữa cái cũ lạc hậu với cái mới tiến bộ, văn minh qua mỗi giai đoạn phát triển của đất nước.
Trên cơ sở đúc kết quá trình phát triển trong lịch sử dân tộc và nhân loại, từ thực tiễn Việt Nam và thế giới đương đại, Hồ Chí Minh đã khái quát thành chân lý: “Vô luận việc gì, đều do người làm ra, và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa, đều thế cả” và: “Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng.”. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng. Đối với những người có thói hư tật xấu, trừ hạng người phản lại Tổ quốc và nhân dân, ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho cái phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi phần ác, chứ không phải đập cho tơi bời. Lấy gương người tốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới.”
Về Đảng lãnh đạo, Đảng cầm quyền, Người khẳng định Đảng ta “là đạo đức, là văn minh.” Người chỉ rõ, “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người thấm nhuần đạo đức xã hội chủ nghĩa.” Những yêu cầu đạo đức mà Người nêu ra trở thành hệ chuẩn mực đạo đức của con người Việt Nam trong thời đại mới, như: “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”, “Phải thật thà thương yêu và hết lòng giúp đỡ đồng chí, đồng bào”, “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”, phải “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ” và có tinh thần đoàn kết-đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế trong sáng.... Ngày nay, tư tưởng đạo đức và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã trở thành tài sản vô giá và là vũ khí sắc bén trong cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng và những biểu hiện tha hóa về đạo đức trong xã hội, thấm đượm tinh thần nhân văn cao cả. Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội, cùng với chủ nghĩa Mac -Lenin, là nền tảng tư tưởng để Đảng ta phát triển nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Chủ nghĩa xã hội, theo Hồ Chí Minh chính là “Làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, làm cho dân có học hành”. “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động thì được nghỉ, những phong tục tập quán không tốt dần dần được xóa bỏ”.
Trải qua các kỳ Đại hội, đến Đại hội XI, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta đã hoàn thiện hơn nhận thức về xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới."
Đồng thời, qua các kỳ Đại hội, Đảng ta đã bổ sung, phát triển phương hướng cơ bản xây dựng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Đại hội XI của Đảng xác định 8 phương hướng cơ bản, đó là đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường; phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.
Những nội dung trên có thể thấy, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ theo tư tưởng sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh, xứng đáng đại diện và bảo vệ cho lợi ích chính đáng của Quốc gia, dân tộc. Thành quả của những năm đổi mới đã chứng minh điều đó, kinh tế ngày càng được tăng cao, đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện, đội ngũ cán bộ đảng viên trong đảng luôn giữ gìn tốt phẩm chất đạo đức cách mạng.
Những điều đó còn có sức mạnh vô cùng to lớn trong lòng mỗi người dân Việt Nam và trở thành những bức tường thành vững chắc về chính trị tinh thần bảo vệ những giá trị truyền thống, tinh thần đại đoàn kết dân tộc. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, mỗi người dân Việt Nam là một người chiến sĩ quyết không để những phần tử phản động có cơ hội đưa ra những luận điêu xuyên tạc về vai trò của Đảng và những người đảng viên trong thời kỳ mới.

Tại sao chiến lược “DBHB” chủ nghĩa đế quốc hướng mũi nhọn tấn công chủ yếu vào bình diện tâm lý xã hội?

Chiến thắng.Psy.11. 
      Bản chất của “Diễn biến hoà bình” là một âm mưu, chiến lược của chủ nghĩa đế quốc mà thực chất là phương thức thay đổi chế độ ở nước đối phương, loại chiến tranh không khói súng, “là cuộc chiến tranh hình thái những tác dụng không kém gì chiến tranh hiện đại” như nhận định của các chuyên gia quân sự tư sản.
     Cốt lõi của “Diễn biến hoà bình” là tạo ra lực lượng tại chỗ bên trong các nước xã hội chủ nghĩa để lực lượng này “tiến hành thay đổi chế độ ở nước họ”. Muốn vậy theo các chuyên gia chiến tranh tâm lí trước hết phải làm thay đổi ý thức xã hội của quần chúng nhân dân các nước này.
     Nhìn lại lịch sử thì từ 1947-1988 có thể nói “Diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc nặng về tính chất phòng ngự là chủ yếu, chúng tấn công theo cả chiều dọc và chiều ngang, cả hệ tư tưởng và tâm lí xã hội, như­ng chúng coi trọng và thiên về tấn công hệ tư tưởng của đối phương.
    Từ sau 1988 trong sự điều chỉnh phương thức tấn công, chúng đã đặc biệt coi trọng vào bình diện tâm lí xã hội để thao túng, khống chế, điều khiển, điều chỉnh tâm lí xã hội phục vụ cho các mục tiêu chính trị của chủ nghĩa đế quốc.
    Về mặt lí luận, xuất phát từ mối quan hệ giữa tâm lí xã hội và hệ tư tưởng trong cơ cấu ý thức xã hội, về tâm lí xã hội là thuộc tầng thấp của ý thức xã hội như­ng nó “chiếm một tỉ trọng lớn” bao gồm trong đó cả những yếu tố kinh nghiệm, tản mạn chủ quan, nhận thức cảm tính, vô thức tập thể… được hình thành tự phát, cả những yếu tố không có tính giai cấp được hình thành do tác động của môi trư­ờng sống, hoàn cảnh sống trực tiếp nên dễ thay đổi. Hiện thực khách quan, tồn tại xã hội đa dạng và phức tạp phản ánh lên tâm lí xã hội cũng đa dạng và phức tạp gắn với những cái đời thường ư­ớc muốn, kì vọng xã hội, tâm trạng bi quan hay lạc quan của xã hội, định kiến xã hội, đồng cảm, ác cảm... trước một vấn đề, sự kiện xảy ra.
    Sự tác động trở lại của tâm lí xã hội đến hệ tư tưởng mộ tư cách tự nhiên. Các hoạt động tuyên truyền đánh phá vào tâm lí xã hội, làm mục ruỗng tâm lí xã hội để thao túng hệ tư tưởng, kéo sập hệ tư tưởng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Với cách thức này chúng đã lảng tránh vấn đề đối đầu chính trị, “đấu tranh giai cấp” “đấu tranh hệ tư tưởng” mà lâu nay đã trở thành một định kiến, làm lạc hướng chính trị ý thức xã hội của nhân dân.
    Vận dụng triệt để các cơ chế tâm lí xã hội của nhóm như đánh giá, thuyết phục, ám thị, khêu gợi, lây lan, bắt chước.. . thực hiện hàng loạt các thủ đoạn chiến tranh tâm lí như bịa đặt, tung tin đồn, vu khống, gieo rắc hoang mang, gây tâm trạng bi quan, làm giảm sút uy tín của Đảng, Nhà nước với nhân dân, bôi nhọ truyền thống cách mạng truyền thống dân tộc, kích thích khôi phục thói quen, tập quán lạc hậu, thói xấu mê tín dị đoan, lối sống chạy theo mốt.
     Tác động vào bình diện tâm lí xã hội kẻ địch đặc biệt chú ý đến tâm lí giai cấp (tâm lí công nhân, nông dân, trí thức, doanh nghiệp...) và tâm lí dân tộc. Chúng tập trung khai thác đặc tính tâm lí tiểu nông, tâm lí sản xuất nhỏ, chịu ảnh hưởng của Nho giáo và lễ giáo phong kiến cho nên: chỉ nhìn thấy lợi trước mắt quên mất cái lợi lâu dài, tính tò mò, “chuộng lạ”, “thích mới nới cũ”, “chuộng hư­ danh”, “sĩ diện hão”, chạy theo cái hình thức phù phiếm... đã và đang bị kẻ địch khai thác triệt để (Nhất là đối với lớp trẻ)
      Về mặt thực tiễn, chiến tranh tâm lí được thực hiện trên mặt trận chính trị, kinh tế, văn hoá, quân sự đặc biệt thông qua tác động mặt trái của kinh tế thị trường để định hướng, điều chỉnh, hướng vào tâm lí xã hội phục vụ cho ý đồ, mục đích của chủ nghĩa đế quốc.
     Thông qua mặt trái của kinh tế thị trường mà hình thành những thói quen, thị hiếu thấp hèn, làm xói mòn chuẩn mực giá trị truyền thống dân tộc, xuất hiện những phản giá trị, lai căng trong cộng đồng xã hội, uốn nắn lối sống của thanh niên chạy theo lí tưởng “người hùng kinh tế”, thực dụng bằng hệ thống tiếp thị, quảng cáo, phim ảnh, âm nhạc hiện đại.
     Trên thực tế đã bắt đầu xuất hiện quan niệm và cách đánh giá mới như đã có d­ư luận xã hội về đánh giá con người không căn cứ vào nhân cách mà chỉ căn cứ vài tài năng, hoặc chỉ căn cứ vào của cải, tài sản anh ta có được như nhà lầu, xe hơi, máy vi tính, điện thoại đời mới, đĩa nhạc CD... Trong quan hệ người- người xu hướng chỉ quan tâm tới khía cạnh “người ấy có lợi gì cho mình” mà quên đi tình nghĩa tình đồng chí đã xuất hiện.
Thấy rõ hướng tác động của chiến tranh tâm lý trong “diễn biến hoà bình” của CNĐQ và các thế lực thù địch, chống phá cách mạng Việt Nam. Các cấp, các ngành, các tổ chức cần làm cho mọi người nhận thức đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của chiến tranh tâm lý, các hướng tác động của chúng từ đó chủ động, tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh này./.

Cảnh giác với hoạt động tuyên truyền của tà đạo Pháp Luân Công

Quang Tâm.Psy.11
Ngoài việc tuyên truyền trên mạng xã hội, tổ chức Pháp Luân Công còn tổ chức ca nhạc miễn phí nhằm xóa bỏ văn hóa dân tộc, phát tờ rơi quảng cáo (núp bóng dưới dạng bài tập chữa bệnh), tặng quà miễn phí như dây đeo, bút (chứa thông điệp quảng cáo)…
Đây là một tổ chức phản động đội lốt khí công, dưỡng sinh, chuyên đi săn các đối tượng tại các công viên, trường học… nhằm lôi kéo sinh viên, học sinh, người cao tuổi, người bệnh đến với tổ chức này.
Do nhận được nguồn kinh phí từ nước ngoài, nên hoạt động của tổ chức này không khác gì Việt Tân, cố tình gây ảnh hưởng để lôi kéo sự quan tâm của dư luận quốc tế hòng can thiệp vào nội bộ Việt Nam
Ban đầu quảng cáo với vẻ ngoài hướng thiện, cải thiện sức khỏe nhưng nội dung hoàn toàn chống lại xã hội như tiêu diệt tà linh Đảng Cộng sản, bài xích các tôn giáo khác, lợi dụng danh nghĩa nhân quyền để gây rối an ninh quốc gia…
Khi thấy tà đạo này mọi người cần cảnh giác và báo ngay cho cơ quan công an gần nhất.

Chiêu bài kích động người dân vi phạm pháp luật và “đổi màu”

ADMIN.PSY11
Kêu gọi, kích động người dân đẩy mạnh trào lưu “tự xử”, làm thay cơ quan công quyền khi bức xúc trước những hành vi vi phạm pháp luật; xui dại và tung hô giới trẻ lên mạng xã hội chửi bới chính quyền, chế độ để thể hiện mình mà “không bị đi tù đâu, vì đi tù không dễ”; triệt để lợi dụng những người dân bức xúc, khiếu kiện lấn sâu thêm vào việc chống phá chính quyền, chế độ để "đổi màu" thái độ chính trị của họ… Thời gian qua đã có rất nhiều chiêu bài hiểm độc của các thế lực thù địch thông qua việc kích động người dân vi phạm pháp luật…
Chiêu trò nguy hiểm
Cách đây ba tháng, Công an tỉnh Đắc Lắc vừa xử lý vụ xô xát giữa một số người dân và lực lượng Cảnh sát giao thông, Cảnh sát cơ động. Vụ việc ban đầu rất đơn giản, trong quá trình tuần tra, lực lượng chức năng phát hiện một trường hợp vi phạm giao thông nhưng đối tượng này không chấp hành hiệu lệnh mà chạy vào nhà dân kích động nhiều thanh niên trên địa bàn ra gây xô xát, dẫn đến thanh niên kia bị thương. Tuy vậy, trên mạng xã hội, kẻ xấu đã kịp kích động lên thành sự việc công an đánh người bị thương, từ đó kêu gọi người dân tiếp tục phản kháng, thậm chí phải bắt người để đòi điều kiện. Họ cố tình lu loa biến sự việc nhỏ thành mâu thuẫn giữa lực lượng công an với nhân dân, biến những sự việc dân sự-hành chính thành hình sự, gắn với những vấn đề chính trị nhạy cảm.
Ở các lĩnh vực khác, gần đây xảy ra liên tiếp các trường hợp nạn nhân bị người dân địa phương bao vây đánh hay đập nát ô tô rồi châm lửa đốt, chỉ vì nghi ngờ những nạn nhân này đến địa phương để bắt cóc trẻ em. Thậm chí những đối tượng trộm chó cũng bị người dân một vài địa phương bức xúc đánh đập, có trường hợp bị chết. Đó là những sự việc tưởng như không liên quan gì đến chính trị nhưng đã được nhiều trang mạng xã hội chia sẻ kèm theo những kích động người dân thực hiện trào lưu “tự xử”. Họ lu loa rằng, lực lượng chức năng, cơ quan công quyền giờ đây không quan tâm, không bảo vệ dân, người dân cần “tự xử” để đòi lấy sự công bằng. Họ cố tình hạ thấp uy tín, vai trò các cơ quan pháp luật và cổ xúy, thổi phồng vai trò của “xã hội dân sự” như liều thuốc vạn năng để giải quyết mọi bức xúc trong đời sống xã hội.
Thậm chí, họ còn kêu gọi phải có nhiều hơn nữa những “mô hình” người dân tạm giữ cán bộ, công chức để đòi giải quyết các vấn đề bức xúc như việc cắt điện ở Thái Bình, khiếu kiện ở Hà Tĩnh, đòi đất rừng ở Bắc Giang… Những hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng, chống người thi hành công vụ này được tung hô bằng những mỹ từ đao to búa lớn như: “Vượt qua nỗi sợ hãi”, “giai cấp nông dân đã trưởng thành”, “cuộc tập dượt cho cách mạng màu”, “sức mạnh của xã hội dân sự”.
Không để sự bức xúc và thiếu hiểu biết bị lợi dụng 
Tòa soạn Báo Quân đội nhân dân từng nhận được đơn, thư của một số công dân phản ảnh, kiến nghị những vụ việc bức xúc, kéo dài mà không được giải quyết liên quan đến chế độ người có công, sở hữu đất đai, tố cáo cán bộ địa phương vi phạm… Song ở một vài vụ việc, người đứng đơn còn liên tiếp tung lên mạng xã hội những bài viết bức xúc, thậm chí có phần quy kết chính quyền một cách thiếu căn cứ. Thế nhưng sau đó, các trang mạng xã hội và trang web ở nước ngoài liên tiếp đăng tải, chia sẻ các đơn, thư, bài viết của người dân. Có người đứng đơn còn cho biết, họ được cả những đài báo nước ngoài và cả những người xưng là luật sư, nhà dân chủ gọi tới cho biết sẽ sẵn sàng giúp đỡ, tư vấn, đăng tải… Họ ca ngợi những người đứng đơn là dũng cảm, thậm chí còn gửi thư, ngoài bì thư phong cho một nữ công dân là “anh hùng” dù cô mới chỉ có một bài viết bày tỏ nỗi bức xúc của mình trên trang cá nhân. Họ còn “vẽ đường cho hươu chạy”, kích động người dân làm băng rôn, khẩu hiệu, tụ tập đông người kéo đến các cơ quan pháp luật gây sức ép thì mới thành công. Lợi dụng sự bức xúc của người dân về những vấn đề dân sinh thiết thân của họ, kẻ xấu đã kích động họ dần ngả sang các mưu đồ chính trị đen tối, hỗ trợ cho các hoạt động chống phá chính quyền.
Dư luận xã hội từng biết đến “nhà dân chủ” Phạm Đoan Trang, một đối tượng chống đối chính quyền, vi phạm pháp luật nhưng luôn kích động, lôi kéo người khác tham gia vào con đường sai trái, vào “phong trào dân chủ”. Đối tượng này từng viết: “Các bạn biết không, một trong các lý do thúc đẩy một số blogger, trong đó có tôi, viết nhiều điều chỉ trích Đảng và Nhà nước cộng sản ở Việt Nam, là bởi vì chúng tôi mong muốn thấy độc giả bước ra khỏi nỗi sợ hãi. Chắc chắn là rất, rất nhiều, đại đa số dân Việt Nam, hiện vẫn nghĩ rằng “viết lách trên mạng, comment, like, share linh tinh trên mạng rồi có ngày đi tù”. Phạm Đoan Trang lớn tiếng kích động rằng: “Nhưng các bạn thấy đấy, đã có nhiều blogger lên tiếng phản biện, chỉ trích Nhà nước về các chính sách công, thậm chí chửi thẳng vào chế độ, mà có… đi tù đâu? Nói một cách ngắn gọn là: Cái thời chỉ viết không thôi cũng đủ đi tù đã qua rồi. Đi tù không dễ đâu!”.
Đó là những luận điệu và chiêu trò hết sức nguy hiểm. Nó dễ khiến cho những người thiếu hiểu biết pháp luật và dễ ngộ nhận, thích làm “anh hùng bàn phím” sẽ đơn giản hóa, không phân biệt được tự do ngôn luận với hành vi lợi dụng quyền tự do, dân chủ xâm hại lợi ích của tổ chức và cá nhân theo Điều 258 Bộ luật Hình sự, thậm chí vi phạm các tội xâm phạm an ninh quốc gia theo các Điều 78, 79, 87, 88 Bộ luật Hình sự… mà người vi phạm đơn giản, không hay biết. Luận điệu “đi tù không dễ” là hoàn toàn ngụy biện vì trên thực tế ở Việt Nam, mỗi công dân đều có quyền tự do ngôn luận, tự do phản biện xã hội trên mạng xã hội hay báo chí, truyền thông. Nhưng cũng có rất nhiều trường hợp lợi dụng quyền tự do, dân chủ vi phạm pháp luật nghiêm trọng và đã bị xử lý hình sự. Đã có không ít đối tượng phải ngồi tù vì những hành vi này gắn với việc thực hiện âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân.
Đẩy lùi âm mưu nguy hiểm
Trong nhiều vụ gần đây, nhiều người dân bị kích động quá khích bao vây trụ sở, công sở hay bắt giữ người trái phép là vi phạm pháp luật nghiêm trọng, có thể bị điều tra, truy tố, xét xử đã được Bộ luật Hình sự quy định rõ. Pháp luật cho phép người dân được quyền kiến nghị, khiếu nại, tố cáo; việc kiến nghị, khiếu nại, tố cáo phải được thực hiện bằng đơn, bằng văn bản và phải tập hợp các chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình. Đây là một cách tốt nhất để người dân bị xâm hại thực hiện quyền con người, quyền công dân đã được Hiến pháp công nhận, tôn trọng và bảo đảm. Người dân không nên nghe theo sự xúi giục của kẻ xấu, làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của các cơ quan chức năng, ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Nếu không cảnh giác, người dân còn có thể vô hình trung vi phạm pháp luật nghiêm trọng hơn khi tiếp tay cho các thế lực phản động. Người dân cũng cần phân biệt việc kiến nghị giải quyết các vướng mắc, bức xúc về quyền lợi không liên quan đến các phong trào kêu gọi “dân chủ, nhân quyền”, chống phá Đảng, Nhà nước mà các đối tượng xấu kêu gọi, kích động để không mắc mưu tham gia.
Cùng với việc nêu cao tinh thần cảnh giác thì mỗi người cũng cần phải nâng cao hiểu biết pháp luật, xây dựng nếp sống thượng tôn pháp luật, tôn trọng các cơ quan công quyền, cơ quan bảo vệ pháp luật; đấu tranh với những hành vi sai trái, bảo vệ quyền lợi của mình nhưng phải đúng pháp luật. Không thể vì sự bức xúc mà thiếu bản lĩnh, chủ quan, để kẻ xấu lôi kéo, mua chuộc, tiếp tay cho những hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước.
Về phía các cơ quan chức năng, cơ quan pháp luật, cần làm tốt hơn nữa việc tuyên truyền vận động nhân dân cảnh giác trước những âm mưu, thủ đoạn dụ dỗ, lôi kéo người dân vi phạm pháp luật. Nhưng trước hết, các cơ quan đó cần phải nêu cao trách nhiệm, làm tròn chức trách nhiệm vụ của mình, giải quyết có trách nhiệm và thỏa đáng những vướng mắc, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của người dân; không để tồn tại nhiều kẽ hở để kẻ xấu lợi dụng, kích động.

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh

ADMIN.PSY11
Hiện tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” không chỉ diễn ra trên các lĩnh vực như chính trị, kinh tế, văn hóa... mà nó còn diễn ra trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh, với các biểu hiện chính như sau:
Trước hết là sự thiếu tin tưởng vào khả năng, sức mạnh quốc phòng, an ninh bảo vệ Tổ quốc. Hiện nay trong xã hội có một số người cho rằng: sức mạnh quốc phòng, an ninh của đất nước có nhiều hạn chế, yếu kém, khó có khả năng bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, nhất là việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Trước sự chống phá của các thế lực thù địch, hành động vi phạm chủ quyền quốc gia trên biển thì trong tư tưởng và hành vi của những người này thể hiện sự bi quan, thiếu tin tưởng càng rõ rệt, thậm chí còn hoang mang, lo sợ. Những biểu hiện ấy dẫn đến sự lệch lạc trong nhìn nhận, xem xét, xử lý các vấn đề về quốc phòng, an ninh, làm ảnh hưởng tới sức chiến đấu của lực lượng vũ trang và đối sách của Đảng, Nhà nước.
Biểu hiện thứ hai là đòi đổi mới quốc phòng, an ninh theo hướng dựa vào bên ngoài, xa rời nguyên tắc độc lập, tự chủ. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mức độ này thể hiện bằng việc hướng mạnh ra nước ngoài, muốn học tập và đi theo các nước lớn, để mong chờ sự giúp đỡ từ nước ngoài về quốc phòng, an ninh. Họ mong muốn nước ngoài giúp đỡ về vũ khí trang bị, đổi mới quân đội theo hướng quân đội nhà nghề. Trong họ luôn tồn tại luồng tư tưởng “phải dựa vào một nước lớn nào đó thì mới giữ được độc lập chủ quyền, bảo vệ Tổ quốc”. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mức độ này nghĩa là đã ngả sang thế lực thù địch, đến giai đoạn tiếp tay cho các thế lực thù địch phá hoại chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng, an ninh.
Thứ ba là xuyên tạc, công kích, chống đối đường lối chính sách quốc phòng, an ninh của Đảng và Nhà nước. Đây là biểu hiện phản ánh rõ ràng tính trầm trọng và nguy hiểm của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Những người và tổ chức “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở mức độ này thường ra mặt công kích, chống đối dưới chiêu bài “phản biện” mọi chủ trương, đường lối của Đảng nói chung và về quốc phòng, an ninh nói riêng. Các chỉ thị, nghị quyết, văn bản pháp luật, mọi hoạt động của LLVT... họ đều tìm cách để xuyên tạc, công kích. Mục đích cuối cùng của chiêu trò xuyên tạc là nhằm hạ thấp vai trò, uy tín của Đảng, Nhà nước và LLVT, đi đến phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với quốc phòng, an ninh và LLVT. Biểu hiện ở mức độ này có nghĩa họ đã đứng hẳn về phía thế lực thù địch, đi ngược lại quyền lợi của dân tộc và nhân dân Việt Nam.
Hiện nay ở nước ta đã xuất hiện một bộ phận người này, họ thường lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân để ra sức công kích vào quan điểm, đường lối lãnh đạo, đối sách của Đảng về quốc phòng, an ninh. Thi thoảng họ lại tổ chức tụ tập, diễu hành, hòng kích động nhân dân, nhất là vào những dịp lễ Tết, các dịp đất nước có sự kiện lớn, hoặc mỗi khi trên Biển Đông có những biến động phức tạp. Vì vậy chúng ta cần phải nhận rõ các biểu hiện, âm mưu, thủ đoạn của họ, để kiên quyết đấu tranh, phê phán.

Khi linh mục lạm quyền

V.N.T. Psy.11.35
Cứ đến những ngày kỷ niệm, những sự kiện chính trị xã hội quan trọng của Đảng, của đất nước, dân tộc…, thì các thế lực thù địch, những kẻ tự xưng là “nhà hoạt động xã hội”, “đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền”, lại “đẩy” lên các trang mạng, các web, blog,… những quan điểm sai trái, độc hại:
Mấy ngày gần đây, trong dư luận rộ lên việc một vị linh mục ở giáo xứ Quỳnh Yên (Quỳnh Lưu, Nghệ An) đang xúi giục giáo dân tự ý chiếm đất xây chợ tại xứ Đồng Quát. Đã có nhiều ý kiến phản bác hành động của vị linh mục này được đăng tải trên các trang mạng xã hội.
Nhiều người cũng đã chỉ ra rằng, việc xây chợ chỉ là một bước đi ngắn, bước đi trước mắt, còn về lâu dài chính là vị linh mục này muốn sáp nhập khu đất xây chợ vào với phần đất của nhà thờ. Và sâu xa hơn nữa là vị linh mục này muốn từng bước cụ thể hóa vai trò của mình đối với xã hội thông qua những việc làm cụ thể, tiến tới khẳng định vị thế chính trị trong một xã hội mà họ tự gọi là “xã hội công giáo”.
Khi tìm hiểu sự việc thì thấy: Năm 2016, Văn phòng điều phối Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới tỉnh Nghệ An tổ chức thẩm định đánh giá kết quả và công nhận đạt chuẩn nông thôn mới đối với xã Quỳnh Yên, huyện Quỳnh Lưu. Tính đến cuối năm 2016, xã đã hoàn thành đủ 19/19 tiêu chí về xây dựng nông thôn mới. Như vậy là xã đã có chợ trung tâm được xây dựng kiên cố (một trong 19 tiêu chí), và thực tế khu chợ này đang hoạt động hiệu quả. Thế nên việc giáo dân xứ Đồng Quát tự ý san nền, xây dựng một khu chợ kiên cố nằm ngoài quy hoạch của chính quyền các cấp là trái với pháp luật. Đồng ý rằng trước đây, khu đất này vốn là một cái chợ tạm, tự phát, người dân xứ Đồng Quát vẫn qua lại, mua bán những đồ dùng thiết yếu hằng ngày. Nhưng nếu vì lý do ấy mà vị linh mục nọ tự ý biến khu chợ tạm này thành khu chợ chính thức, kiên cố thì không thể chấp nhận được. Về mặt pháp luật, đất đai được quy định là sở hữu của toàn dân mà đại diện cho chủ sở hữu là Nhà nước. Vì vậy việc sử dụng đất đai thế nào đều do Nhà nước (cụ thể là chính quyền nhân dân các cấp) quyết định. Việc xây dựng chợ nói riêng, xây dựng các công trình công cộng nói chung ở tất cả các địa phương, đều phải được chính quyền nhân dân và các cơ quan chức năng liên quan cấp phép. Vì vậy việc linh mục nọ tổ chức cho giáo dân tự ý xây chợ tại xứ Đồng Quát đã là một việc làm sai; vị linh mục này còn kích động, xúi giục giáo dân chống lại lực lượng chức năng khi lực lượng này tới cưỡng chế khu chợ xây dựng trái phép thì lại thêm một cái sai nữa, cần phải xử lý nghiêm túc, triệt để, tránh tạo ra những tiền lệ xấu.

Chúng ta cũng cần phải hiểu thêm, kể từ khi dân tộc ta giành được độc lập từ tay giặc ngoại xâm, toàn Đảng, toàn dân đã không ngừng ra sức củng cố, xây dựng Nhà nước (chính quyền) của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Và chỉ có chính quyền nhân dân đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng mới đủ tư cách để đại diện cho nhân dân giải quyết các vấn đề của xã hội, đưa đất nước phát triển. Còn tất cả các tổ chức khác như kiểu “xã hội dân sự”, “xã hội công giáo”... đều là những tổ chức được hình thành bởi một nhóm người cơ hội về chính trị. Vì vậy nó vi hiến, hoàn toàn không có đủ tư cách để đại diện cho quyền lợi của nhân dân Việt Nam./.