Thứ Năm, 2 tháng 11, 2017

Quan hệ máu thịt giữa Đảng và Dân - một nguyên tắc cốt tử



Nobita091275(ST)
Thực tiễn lịch sử cách mạng nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong 82 năm qua là lịch sử của những chiến công và kỳ tích chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc cùng những thắng lợi quan trọng nối tiếp nhau trong công cuộc đổi mới, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, đưa đất nước vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, vững bước tiến lên trên con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Một kinh nghiệm lớn của Đảng
Sở dĩ một nước nhỏ và còn nghèo như Việt Nam lại làm nên một lịch sử hào hùng khiến "cả thế giới ngạc nhiên và khâm phục”... là do nhiều nguyên nhân, trong đó, cơ bản nhất là Đảng ta luôn giữ vững mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và Dân.
Nhờ gắn bó máu thịt với dân, được nhân dân tin tưởng, nên mới 15 tuổi, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, lập nên Nhà nước công - nông đầu tiên ở Đông Nam Á và trở thành một Đảng cầm quyền.
Nhờ gắn bó máu thịt với dân, được nhân dân tin tưởng, Đảng đã lãnh đạo nhân dân trên khắp hai miền Nam - Bắc đồng tâm, nhất trí "thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, cùng bền gan, quyết chí, tiến hành hai cuộc kháng chiến thần thánh, đánh bại thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giành lại độc lập tự do và thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, góp phần quan trọng làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân cũ và chủ nghĩa thực dân mới trên toàn thế giới, đưa dân tộc Việt Nam trở thành người chiến sĩ tiên phong chống chủ nghĩa đế quốc.
Sau khi hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, Đảng đã lãnh đạo cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa và tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, giành nhiều thành tựu quan trọng, nhất là vượt qua "cửa ải lương thực” và chặn đứng tình trạng lạm phát "phi mã” theo mục tiêu xã hội chủ nghĩa.
Vào đầu thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, đất nước ta phải đối mặt với "cơn chấn động chính trị” dữ dội - chủ nghĩa xã hội ở các nước Đông Âu sụp đổ và Liên bang Xô viết tan rã, làm cho chủ nghĩa xã hội thế giới lâm vào thoái trào. Đại hội VII của Đảng vào tháng 6-1991 đã sáng suốt phân tích, đánh giá tình hình bối cảnh lịch sử, xu thế vận động tất yếu của thời đại và đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Kể từ đó, các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc và Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng các khóa tiếp sau, đã cụ thể hóa Cương lĩnh thành đường lối, chủ trương, chính sách phù hợp với từng giai đoạn, nhằm phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và tạo nên những điều kiện, tiền đề cơ bản, thiết yếu chuyển đất nước sang thời kỳ phát triển mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tiếp đến là đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Vì thế, mở đầu Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI: "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, đã chỉ rõ: "Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện. Trải qua hơn 80 năm phấn đấu, xây dựng và trưởng thành, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, với bản lĩnh của một đảng cách mạng chân chính, dạn dày kinh nghiệm, luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, Đảng đã lãnh đạo, tổ chức và phát huy sức mạnh to lớn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, giành được nhiều thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp cách mạng”...
Phát huy mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và Dân ở nước ta hiện nay
Mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với Dân ở nước ta hiện nay cần được hiểu thấu đáo trên hai bình diện:
Thứ nhất: Mối quan hệ Đảng đối với Dân.
Trong mối quan hệ này, Đảng phải thật sự là lãnh tụ chính trị của dân, Đảng phải đại biểu cho trí tuệ và lương tâm của thời đại. "Đảng không có lợi ích nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, Đảng phải nắm vững, vận dụng sáng tạo, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng làm giàu trí tuệ, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực tổ chức để đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra”...
Mục tiêu lý tưởng của Đảng vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, phản ánh đầy đủ khát vọng của nhân dân là được vĩnh viễn giải phóng khỏi mọi ách áp bức, nô dịch của đế quốc, thực dân và bọn cường hào, ác bá, để mọi người Việt Nam trên khắp các vùng, miền đều được sống trong độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc.
Đảng ta là Đảng cầm quyền, mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với Dân hiện nay được thể hiện trước hết, Đảng là người lãnh đạo Nhà nước và tổ chức lực lượng tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng bảo vệ những thành quả đã đạt được và sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam; tiến hành công cuộc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, củng cố vững chắc an ninh, quốc phòng, đảm bảo cho mọi người dân của nước ta trên đất liền hay ngoài biển, đảo đều được sống trong độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc và có điều kiện phát triển toàn diện.
Đảng ta là Đảng cầm quyền muốn thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ nêu trên càng phải luôn gắn bó máu thịt với nhân dân vì "Sức mạnh của Đảng là sự gắn bó mật thiết với nhân dân. Quan liêu, tham nhũng, xa rời nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa và của Đảng”...
Tuy vậy, hiện nay "công tác xây dựng Đảng vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, thậm chí có những yếu kém, khuyết điểm kéo dài qua nhiều kỳ chậm được khắc phục, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ”...
Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế, yếu kém khuyết điểm trong Đảng hiện nay là do "Cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu, quên đi trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước nhân dân. Việc tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các nghị quyết, chỉ thị, quy định về xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở một số nơi chưa đến nơi đến chốn, kỷ cương, kỷ luật không nghiêm, nói không đi đôi với làm, hoặc làm chiếu lệ”...
Thứ hai: Mối quan hệ Dân đối với Đảng
Như đã nói ở trên, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Điều đó nói lên mối quan hệ máu thịt giữa Dân đối với Đảng là một trong những nhân tố cơ bản dẫn tới sự ra đời của Đảng. Không có phong trào cách mạng của nhân dân thì không có sự ra đời của Đảng. Không có sự ôm ấp, đùm bọc, che chở, bảo vệ của nhân dân thì không có sự tồn tại, phát triển của Đảng. Do đó, công ơn của nhân dân đối với Đảng sâu nặng như công ơn sinh thành, nuôi dưỡng của cha mẹ. "Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Chính nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử... Do đó, "Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân”...
Vì thế, trong tác phẩm Dân vận, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát một cách súc tích rằng:"Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân.... Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên.
Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”...
Thấm nhuần những lời di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI: "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã chủ trương cần phải tập trung cao độ để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt ba vấn đề cấp bách, nhất là phải "kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của Đảng viên và của nhân dân”...
Để thực hiện tốt mục tiêu và những vấn đề cấp bách, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI cũng đã chỉ rõ một hệ thống các nhóm giải pháp đồng bộ, xác thực, khả thi. Trong đó có các giải pháp nhằm khắc phục tình trạng "Vai trò giám sát của nhân dân thông qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội chưa được phát huy, hiệu quả chưa cao”... Cụ thể là:
- "Thực hiện nghiêm việc kê khai tài sản theo quy định của Đảng và Nhà nước. Kê khai tài sản phải trung thực và được công khai ở nơi công tác và nơi cư trú”...
- "Định kỳ tổ chức để nhân dân góp ý kiến xây dựng Đảng thông qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội”...
- "Xây dựng, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật để bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch trong công tác cán bộ, loại trừ khả năng để cán bộ và người thân của cán bộ lợi dụng chức vụ, vị trí công tác để trục lợi”...
- "Trong năm 2012 ban hành quy chế giám sát (trực tiếp và gián tiếp) của nhân dân, đối với cán bộ, đảng viên, tổ chức Đảng và chính quyền các cấp; trong đó có cơ chế giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, việc tổ chức lấy ý kiến đóng góp của các chuyên gia, nhà khoa học; cơ chế để Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền”
- "Cán bộ chủ chốt và cán bộ dân cử các cấp phải thường xuyên tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với nhân dân, chủ động nắm bắt tâm tư, đánh giá, dự báo diễn biến tư tưởng của cán bộ, đảng viên và có biện pháp giải quyết kịp thời. Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động "diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê phán những biểu hiện "tự diễn biến”, "tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng. Giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội”...
- "Ban Dân vận Trung ương chủ trì phối hợp với Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan liên quan nghiên cứu, xây dựng quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, cơ chế để Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, trình Bộ Chính trị ban hành”...
Với niềm tin son sắt và lòng mong muốn thiết tha, toàn dân ta nguyện thực hiện tốt những biện pháp trên, góp phần xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, đủ sức lãnh đạo cách mạng nước ta đạt tới mục tiêu đã hoạch định.

XÂY DỰNG "VÀNH ĐAI CHÍNH TRỊ AN TOÀN" VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC, LÀM THẤT BẠI ÂM MƯU "DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH" CỦA ĐỊCH



Nobita091275 (ST)
Nước ta là một quốc gia gồm nhiều dân tộc hợp thành đại gia đình dân tộc Việt Nam. Trong 54 dân tộc chỉ có dân tộc Việt (Kinh) là đông nhất (hơn 80% dân số), các dân tộc còn lại đều là thiểu số (ngôn ngữ thường ngày gọi chung là "đồng bào dân tộc"). Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, các dân tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam đã đoàn kết gắn bó, đồng tâm hiệp lực xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước. Cũng trong trường kỳ lịch sử, các thế lực thù địch luôn dùng mọi thủ đoạn hòng phá vỡ khối đoàn kết toàn dân để thực hiện những ý đồ đen tối của chúng. Chiến lược "Diễn biến hoà bình" (DBHB) do chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế tiến hành chống Việt Nam được triển khai một cách toàn diện, cả kinh tế, chính trị, ngoại giao, văn hoá... ở mọi miền dân cư, mọi đối tượng xã hội. Song chúng thường tập trung mũi nhọn vào những điểm, những khu vực mà chúng cho là dễ "diễn biến", để từ đó xây dựng bàn đạp, tạo thời cơ, dựng "ngọn cờ", dựng "nguyên cớ" để can thiệp sâu hơn, thực hiện mục tiêu xoá bỏ CNXH ở Việt Nam,  đưa Việt Nam vào qũy đạo của chúng. Vùng đồng bào dân tộc là một trong những trọng điểm của chiến lược "DBHB". Sở dĩ các thế lực thù địch triệt để "khai thác" vùng đồng bào dân tộc vì phần lớn đồng bào sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo và còn rất nhiều khó khăn so với cả nước. Xin nêu một số thực trạng:
Theo Uỷ ban Dân tộc và miền núi, tình trạng lạc hậu,  đói nghèo ở vùng đồng bào dân tộc còn phổ biến. Đến cuối năm 1999, Chính phủ đã xét duyệt, đưa 10 tỉnh vùng cao, 9 tỉnh miền núi,  23 tỉnh có miền núi với tổng số 4.360 xã, phường, thị trấn vào phân định ba khu vực vùng núi và vùng dân tộc, làm cơ sở cho các bộ, ngành đầu tư theo địa bàn, quy mô và thời gian cụ thể nhằm xoá đói giảm nghèo cho đồng bào. Có những tỉnh, tổng thu nhập chỉ đạt 1/4 hoặc 1/3 ngân sách, còn lại do Nhà nước bao cấp. Số xã được xếp vào "khu vực III" (khu vực đặc biệt khó khăn) là 1.715 xã. Vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn, cơ sở hạ tầng lạc hậu... Tỷ lệ nghèo đói ở phạm vi cả nước là 13%, riêng vùng núi, vùng sâu, vùng xa cao hơn nhiều. Tỉnh Lai Châu, tỷ lệ nghèo đói là 38,7%; 38/154 xã, phường, thị trấn chưa có đường ôtô, 48 xã chưa có trạm xá; 9 vạn người trong độ tuổi 15-35 chưa biết chữ; 42.000 trẻ em đang độ tuổi chưa đến trường (số liệu báo cáo của Bộ Chỉ huy quân sự Lai Châu tháng 8.1999).
Hiện tượng di cư tự do còn diễn ra với số lượng lớn, kéo dài, đặc biệt vùng núi phía Bắc và Tây Nguyên. Trên địa bàn Quân khu II, trong 2 năm 1997-1998 có 2.151 hộ với 14.226 nhân khẩu, 5 tháng đầu năm 1999 có 814 hộ với 4.671 nhân khẩu di cư (số liệu của Cục Chính trị Quân khu). Di cư tự do đã ảnh hưởng lớn đến an ninh chính trị, kinh tế, văn hoá ở các địa phương có dân đến và dân đi, tạo nên sự xáo trộn về phân bố dân cư. Chính quyền rất khó quản lý, điều hành. Nạn đốt rừng tràn lan, săn bắt thú quý hiếm, ảnh hưởng trực tiếp đến môi sinh và cuộc sống lâu dài của đồng bào. Tình trạng tranh chấp đất đai gia tăng.
Đáng lưu ý đời sống văn hoá của đồng bào dân tộc còn lạc hậu, dân trí thấp, tình trạng lạc hậu về thông tin là rất phổ biến (nhất là những nơi chưa có điện); một số luật tục lỗi thời, phản khoa học chưa được loại bỏ triệt để. Nhiều giá trị văn hoá  truyền thống bị mai một biến tướng do sự thâm nhập của những luồng văn hoá không lành mạnh. Các tệ nạn xã hội như nghiện hút và buôn bán ma túy, mại dâm, trộm cướp, buôn bán hàng lậu, hàng giả... là một mũi nhọn đánh vào kinh tế, phá rối trật tự an ninh vùng đồng bào dân tộc.
Hệ thống chính trị ở vùng đồng vào dân tộc còn nhiều mặt chưa đáp ứng yêu cầu mới đặt ra. Không ít cán bộ xã, thôn, bản, trình độ học vấn còn rất thấp, hiểu biết về quản lý, chủ trương, chính sách và pháp luật còn rất hạn chế. Do đó công tác quản lý an ninh chính trị địa bàn và giải quyết những vướng mắc ở cơ sở của đội ngũ cán bộ chính quyền địa phương còn rất bất cập. Vì thế, chính quyền quản lý dân không chặt chẽ, không đủ khả năng vận động, tổ chức, hướng dẫn nhân dân làm ăn và giải thích cho dân hiểu âm mưu, thủ đoạn phá hoại của địch... Khi có sự việc xảy ra, chính quyền không xử lý kịp thời. Có xã, nhân dân đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai hàng chục lần vẫn không thấy cán bộ đến, để mâu thuẫn căng thẳng dẫn tới xô xát, thương vong. Mặc dù dân nghèo nhưng một số cán bộ vẫn sách nhiễu, gây phiền hà, đòi quà cáp, hối lộ. Trong khi đó bọn người xấu, những người truyền đạo trái phép len lỏi vào từng bản làng, từng gia đình tuyên truyền, mua chuộc, lôi kéo dân theo chúng, càng làm cho tình hình an ninh chính trị phức tạp.
Tóm lại, tình trạng đói nghèo, lạc hậu, dân trí thấp, ít thông tin, quản lý giáo dục thiếu chặt chẽ... là "cơ hội ngàn vàng" để các thế lực thù địch lợi dụng phá hoại nhiều mặt, tuyên truyền xuyên tạc, "tranh thủ trái tim, khối óc" đồng bào dân tộc. Thủ đoạn của chúng vẫn là dùng người dân tộc chống người dân tộc, dùng dân tộc này chống dân tộc khác, chia cắt, xé lẻ khối đại đoàn kết toàn dân để dễ bề thao túng. Hiện nay chúng đang tập trung thực hiện một số thủ đoạn chính sau đây:
- Tuyên truyền, kích động tâm lý dân tộc, khai thác các yếu tố lịch sử, văn hoá, gây mầm mống chia rẽ, ly khai. Đồng thời xuyên tạc, nói xấu chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào dân tộc và miền núi. Từ đó dụ dỗ, lôi kéo đồng bào di cư tự do đi tìm vua, tìm chúa, tìm Tổ quốc riêng.
- Nuôi dưỡng bọn phản động lưu vong người dân tộc, tạo điều kiện vật chất, tinh thần cho chúng hoạt động, đào tạo bồi dưỡng người của các tổ chức phản động, xây dựng căn cứ làm bàn đạp xâm nhập vào trong nước.
- Lợi dụng việc tham quan, du lịch, thăm thân nhân, núp dưới các hình thức viện trợ nhân đạo, giúp đỡ xoá đói, giảm nghèo để thâm nhập địa bàn, tuyên truyền móc nối với các phần tử phản động, bất mãn, chống đối, tranh thủ những người có uy tín trong dòng họ, trong làng bản (tốt nhất là cán bộ, đảng viên) để xây dựng các tổ chức phản động. Đồng thời, tăng cường xây dựng củng cố mạng lưới gián điệp, thu thập tình báo và hoạt động phá hoại, khơi dậy những nhân tố mất ổn định trong từng vùng dân tộc.
- Tuyên truyền, kích động đồng bào dân tộc chống lại chủ trương, chính sách kinh tế-xã hội của Đảng và Nhà nước như chống chủ trương ba bỏ: bỏ trồng cây thuốc phiện, bỏ du canh, dư cư, bỏ mê tín dị đoan; đưa yêu sách được công nhận là tín đồ đạo Tin lành, làm nhà nguyện...
Những thủ đoạn thâm độc của địch đã và đang gây ra nhiều tác hại ở vùng dân tộc và miền núi:
- Làm cho một bộ phận đồng bào các dân tộc hoang mang, lo sợ, thiếu tin tưởng ở đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, mơ hồ ảo tưởng trông chờ vào thế lực siêu nhiên (vua, chúa, Vàng Chứ...), khiến đời sống ngày càng sa sút, đói nghèo thêm.
- Gây chia rẽ trong nội bộ các dân tộc, bản làng, dòng họ, gia đình... dẫn đến mâu thuẫn khó giải quyết và hậu quả lâu dài.
- Tạo nên việc di dân tự do, bỏ nhà cửa, ruộng nương đi tìm miền đất mới dẫn đến đói rét, bệnh tật, thất học. Kèm theo đó là nạn phá rừng, tranh chấp đất đai, nghiện hút, trộm cắp, vi phạm quy chế biên giới, quy chế quản lý hộ tịch, hộ  khẩu...
Hiện nay, bọn phản động đang vận động, lôi kéo bà con dân tộc H'Mông di cư về vùng biên giới Tây Bắc. Đồng thời chúng tăng cường hoạt động ở vùng Tây Nguyên và vùng đồng bào Khơme Nam Bộ với những ý đồ thâm hiểm, tạo "điểm nóng" rồi lấy cớ can thiệp... Để góp phần làm thất bại âm mưu "DBHB", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, xây dựng "vành đai chính trị an toàn" vùng đồng bào dân tộc, cần thực hiện một số giải pháp sau:
- Trước hết và quan trọng nhất là phát triển kinh tế, ổn định đời sống, xoá đói, giảm nghèo. Trong mấy năm gần đây, Nhà nước đã đầu tư nhiều dự án, nhưng do nhiều nguyên nhân nên kết quả chưa đủ sức làm biến đổi căn bản bộ mặt vùng sâu, vùng xa. Nhân dân ở "khu vực III" so với vài ba chục năm trước đây, chưa có tiến bộ đáng kể. Vì vậy, cùng với mục tiêu tổng thể phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo, cần phải chi tiết hoá các dự án, chia thành từng bước, có mục tiêu cụ thể, có kiểm tra đánh giá, cái gì được thì phát huy, chưa được thì bổ sung, sửa chữa; cơ quan, cá nhân nào làm sai, làm ẩu, ăn chặn của dân phải xử phạt nghiêm minh. Vấn đề hàng đầu là xây dựng cơ sở hạ tầng (điện, đường, trường, trạm). Các dự án không nên rải đều mà tập trung giải quyết khâu cấp bách nhất, điểm khó khăn nhất (ví dụ: làm đường ôtô vào xã, xây trường học), có thời hạn hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật cụ thể.
- Đẩy mạnh cuộc vận động định canh, định cư, hạn chế tiến tới chấm dứt di cư tự do là khâu rất quan trọng để ổn định tình hình kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh. Ban chỉ huy thống nhất tỉnh, huyện, các đoàn (đội) công tác cùng với chi bộ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể quần chúng địa phương kiên trì giáo dục, thuyết phục, vận động đồng bào định canh, định cư; chỉ ra tác hại của di cư tự do, trong đó có âm mưu phá hoại của địch. Giao chỉ tiêu cho từng đoàn thể, từng thôn bản thi đua vận động 100% thành viên của mình không di cư tự do. Mặt khác, hướng dẫn đồng bào cách làm ăn (theo lối "cầm tay chỉ việc"), áp dụng kỹ thuật canh tác mới trong trồng trọt và chăn nuôi, xác định được cây, con thích hợp để có hiệu quả kinh tế rõ rệt, tạo niềm tin, phấn khởi, yên tâm sản xuất, xây dựng bản làng. Vận động bà con bỏ nếp canh tác cũ, lạc hậu. Đồng thời phát động phong trào vệ sinh, phòng bệnh, không chữa bệnh theo thói quen, thiếu khoa học. Tiếp tục giải quyết hậu quả của tình trạng di cư tự do một cách hợp lý, đúng chính sách, không gây khó khăn thêm cho đồng bào.
- Kiểm soát chặt chẽ khách tham quan, du lịch, người qua lại vùng biên giới, xây dựng địa bàn an toàn. Phát hiện kịp thời và ngăn chặn những kẻ lợi dụng qua lại, gieo rắc luận điệu phản động, truyền đạo trái phép, cùng những việc làm mờ ám khác.
- Khôi phục, phát triển văn hoá truyền thống của đồng bào các dân tộc, đặc biệt những  giá trị văn hoá giàu tính nhân văn, giàu bản sắc dân tộc, thành nội dung, hình thức chủ đạo trong  sinh  hoạt  văn hoá của thôn bản.   
Kết hợp phổ biến đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước. Đẩy mạnh đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực trong đời sống văn hoá, kiên quyết ngăn chặn các tệ nạn xã hội nguy hiểm như ma túy, mại dâm, trộm cướp...
- Do trình độ cán bộ cơ sở còn yếu nên cần tăng cường sự chỉ đạo, giúp đỡ của Trung ương, tỉnh, huyện. Ban Chỉ huy thống nhất tỉnh, huyện do Thường vụ Tỉnh uỷ, Huyện uỷ và Thường trực Uỷ ban trực tiếp chỉ đạo. Đồng thời thành lập các đoàn (đội) công tác gồm cán bộ các ban, ngành, đoàn thể có tổ chức chỉ huy chặt chẽ, có kế hoạch  hoạt động cụ thể. Để làm tốt nhiệm vụ, các đoàn, đội công tác phải chuẩn bị chu đáo về nội dung, tài liệu, phương tiện, phải biết tiếng dân tộc, nắm vững phong tục, tập quán của họ và thực hiện “ba cùng” với họ. Thời gian mỗi đợt công tác ít nhất là 6 tháng, có sơ kết, rút kinh nghiệm bổ sung cho những đợt sau. Khẩn trương bồi dưỡng, nâng cao trình độ mọi mặt cho cán bộ cơ sở. Trước mắt là thanh toán nạn mù chữ, sau đó nâng dần lên. Bằng mọi giá, các xã phải có trường phổ thông cơ sở, trong những năm tới, phấn đấu hoàn thành phổ cập cấp I, xoá mù chữ cho những người trong độ tuổi...
Cần phải tiến hành những giải pháp trên đồng bộ, liên tục. Thực hiện tốt các giải pháp cơ bản đó góp phần đưa chính sách dân tộc và miền núi của Đảng và Nhà nước trở thành hiện thực, góp phần xây dựng "vành đai chính trị an toàn", làm thất bại âm mưu "Diễn biến hào bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực phản động trong và ngoài nước.

PHẢI CHĂNG Ở VIỆT NAM MỘT ĐẢNG DUY NHẤT CẦM QUYỀN LÀ KHÔNG DÂN CHỦ?



          Nobita091275 (ST)
Thời gian gần đây, thực hiện “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch đẩy mạnh tuyên truyền những luận điệu cho rằng ở Việt Nam thực hiện chế độ một đảng cầm quyền thì không thể có dân chủ, chỉ dẫn đến độc tài, độc trị. Sự thực có phải như vậy?
Để trả lời vấn đề này, trước hết cần làm rõ quan niệm về dân chủ. Dân chủ hiểu theo nghĩa đích thực và nói một cách ngắn gọn đó là quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân có quyền làm chủ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và được bảo đảm bằng pháp luật. Dân chủ đích thực như thế chỉ có trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, một nền dân chủ do Đảng Cộng sản lãnh đạo.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng Cộng sản Việt Nam nêu rõ: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước”[1]. Chế độ dân chủ ở Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, là dân chủ của đa số, vì đa số và người lao động; là chế độ mà ở đó, nhân dân lao động làm chủ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, “tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”[2], được pháp luật bảo đảm; là thể hiện quyền lực của nhân dân, tập trung và “thông qua hoạt động của Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện”[3].
Thực tiễn ở Việt Nam hiện nay cho thấy, mọi đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, có sự tham gia ý kiến của nhân dân. Nhân dân lao động là chủ thể mọi quyền lực; quyền lợi và nghĩa vụ, quyền hạn và trách nhiệm, cống hiến và hưởng thụ gắn bó chặt chẽ với nhau. Mọi người dân đều trực tiếp hay gián tiếp đề đạt nguyện vọng và đóng góp ý kiến của mình cho các cơ quan công quyền. Các kênh bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân ngày càng được mở rộng và hoạt động hiệu quả. “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trở thành quy chế, thiết chế dân chủ trong xã hội; là phương châm hành động của người dân trong xây dựng hệ thống chính trị; là yêu cầu ứng xử của cán bộ trong tiếp xúc, quan hệ với nhân dân và chăm lo đến nhân dân.
Trong các cuộc bầu cử Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp ở Việt Nam, tỷ lệ cử tri đi bầu rất cao. Tỷ lệ đại biểu là nữ, người dân tộc thiểu số, chức sắc tôn giáo trong Quốc hội ngày càng cao (tỷ lệ đại biểu là nữ trong Quốc hội đứng thứ hai trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, đứng thứ 9/135 nước trên thế giới). Việc truyền hình trực tiếp các phiên chất vấn của Quốc hội; việc thực hiện đối thoại trực tuyến của Thủ tướng Chính phủ, các bộ trưởng... với nhân dân; những cuộc tiếp xúc của các đại biểu Quốc hội với cử tri; việc lấy ý kiến rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân về Dự thảo Hiến pháp năm 2013,... đã tạo điều kiện tốt hơn cho người dân thực hiện quyền làm chủ, thực thi quyền kiểm tra, giám sát các hoạt động của Nhà nước và đề đạt nguyện vọng, ý kiến của mình.
Ở Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được bảo đảm ngày càng tốt trong thực tế. Hiện nay, có khoảng 70.000 chức sắc trong các tổ chức tôn giáo đang hoạt động tại hơn 24.000 cơ sở thờ tự trên cả nước; có hơn 20 triệu người theo tôn giáo. Quyền tự do báo chí, tự do hội họp được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Những ví dụ thực tế trên chưa phải là đầy đủ, nhưng cũng đã thể hiện một cách rõ ràng và sinh động quyền làm chủ, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do ngôn luận, báo chí... của nhân dân; thể hiện sâu sắc bản chất tốt đẹp, ưu việt của chế độ dân chủ ở nước ta. Đó không phải là sự “hạn chế”, “vi phạm dân chủ” như các thế lực thù địch cố tình gán ghép, xuyên tạc.
Thực tế trên khẳng định rõ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt nam đối với xã hội và Nhà nước, đối với chế độ dân chủ là không thể phủ nhận. Nhà báo Đinh Viết Tứ, một người Mỹ gốc Việt, để đập lại những luận điệu đòi xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam của một số kẻ chống đối ở hải ngoại đã viết: “Tôi thấy nhất định phải có một đảng chịu trách nhiệm trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước, hiện không có lực lượng nào có thể đứng ra làm việc đó, ngoài Đảng Cộng sản”[4]. Từ bỏ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện đa đảng chắc chắn sẽ không phải là dân chủ hơn. Điều tệ hại sẽ đến là đất nước mất ổn định, kinh tế đổ vỡ, xã hội hỗn loạn, rơi vào thảm họa như đã từng xảy ra ở một số nước, tất cả đều giáng cả lên đầu nhân dân, dân chủ chỉ là cái cớ cho sự tranh giành quyền lực giữa các phe phái.
Hiện nay, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí còn nghiêm trọng; “Quyền làm chủ của nhân dân ở một số nơi, trên một vài lĩnh vực còn bị vi phạm. Việc thực hành dân chủ còn mang tính hình thức; có tình trạng lợi dụng dân chủ gây chia rẽ, làm mất đoàn kết nội bộ, gây rối, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội”[5]. Đó là thực tế, nhưng thực tế đó không phải là bản chất của chế độ dân chủ ở Việt Nam hiện nay, không phải là do sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam tạo ra. Song, chúng ta cũng thẳng thắn nhìn nhận rằng, điều đó đã làm suy giảm những giá trị tốt đẹp của nền dân chủ ở nước ta, suy giảm vai trò, vị thế cầm quyền, lãnh đạo của Đảng, bị các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, công kích, chống phá, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng.
Vì thế, tình trạng suy thoái, tham nhũng, vi phạm dân chủ nhất thiết phải được khắc phục thật sự hiệu quả theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI của Đảng. Phải quán triệt sâu sắc quan điểm: Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân trong thực tiễn. Đồng thời, có cơ chế cụ thể để nhân dân thực hiện trên thực tế quyền làm chủ trực tiếp và quyền làm chủ thông qua các cơ quan đại diện của mình. Phát huy dân chủ phải đi liền với tăng cường pháp chế, đề cao trách nhiệm công dân, giữ vững kỷ luật, kỷ cương xã hội. Đây là yêu cầu rất cơ bản để bảo đảm và phát huy dân chủ trong xã hội; khẳng định trên thực tế Đảng Cộng sản Việt Nam là “lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” như Hiến pháp đã hiến định. Do vậy, vấn đề đặt ra đối với chế độ dân chủ ở Việt Nam hiện nay là phải thực hiện tốt hơn nữa sự cầm quyền, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội. Phải chăm lo bảo vệ, nâng cao vai trò và năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam ngang tầm với đòi hỏi của nhiệm vụ mà dân tộc, nhân dân ta đã và đang đặt lên vai Đảng.
Như vậy, có thể thấy rằng, những luận điệu xuyên tạc thực tế dân chủ ở Việt Nam, cho rằng chế độ một đảng lãnh đạo, cầm quyền không bảo đảm dân chủ, đòi đa nguyên, đa đảng,... là một thủ đoạn thâm độc trong chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội của các lực thù địch. Chúng ta cần hết sức cảnh giác với những luận điệu sai trái này. Mọi mưu đồ và hành động chống phá, đòi thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã và đang bị chính nhân dân và nền dân chủ ở Việt Nam bác bỏ, làm phá sản./.