Chủ Nhật, 5 tháng 11, 2017

Kiên định đường lối đối ngoại quốc phòng độc lập, tự chủ

ADMIN.PSY11
Thời gian gần đây, mỗi khi có những sự kiện trọng đại của đất nước hoặc các hoạt động đối ngoại của lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta, trên một số trang mạng, blog lại rộ lên thông tin liên quan đến chính sách đối ngoại quốc phòng của Việt Nam. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội tung lên mạng những bài viết mập mờ theo lối “rộng đường dư luận”, cùng thông tin bịa đặt, xuyên tạc để đánh lừa dư luận và gây hoang mang trong xã hội.
Bằng thủ đoạn đưa thông tin lập lờ “đen-trắng” lẫn lộn, các thế lực thù địch kích thích trí tò mò của công chúng, làm cho người đọc không phân biệt được đúng sai, nảy sinh nghi ngờ, mất lòng tin vào Đảng và Nhà nước. Những kiểu bình luận, suy diễn, bịa đặt như: "Việt Nam đang sử dụng cảng quốc tế Cam Ranh làm “mồi nhử” để "lôi kéo" các nước lớn ủng hộ Việt Nam". Hay nhân dịp Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thăm Hoa Kỳ (29-31/5/2017), hai bên đã ra Tuyên bố chung về tăng cường đối tác toàn diện giữa hai nước, trong đó có nội dung "Việt Nam và Hoa Kỳ trao đổi về khả năng tàu sân bay Hoa Kỳ thăm cảng Việt Nam", những "cây bút" trên mạng xã hội đã bịa ra chuyện Việt Nam sẽ cho nước ngoài thuê Cam Ranh làm căn cứ quân sự hoặc Việt Nam sắp liên minh quân sự... Vậy sự thật đằng sau những thông tin bịa đặt này là gì?
Kể từ khi Cảng quốc tế Cam Ranh được khánh thành và đi vào hoạt động, không chỉ báo chí trong nước mà báo chí nước ngoài đã có nhiều bài viết, nhận xét tích cực về chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta. Việc đưa Cảng quốc tế Cam Ranh vào hoạt động góp phần phát triển kinh tế, giữ vững an ninh, quốc phòng của đất nước cũng như mở rộng quan hệ quốc phòng của Việt Nam với các nước trên thế giới. Tuy nhiên, một số hãng thông tấn nước ngoài cùng một số trang mạng, blog cá nhân đã lợi dụng chủ trương của Nhà nước ta về việc đưa Cảng quốc tế Cam Ranh vào khai thác, để tuyên truyền xuyên tạc, nói xấu Việt Nam nhằm chia rẽ quan hệ của Việt Nam với các nước. Với dụng ý đó, họ cố tình xuyên tạc, bóp méo thông tin, phục vụ cho mưu đồ chính trị của một số tổ chức, một số nhóm người không có thiện cảm với Việt Nam.
Thực tế cho thấy, chúng ta đã chủ động cung cấp thông tin một cách công khai, minh bạch về chủ trương đưa Cảng quốc tế Cam Ranh vào sử dụng. Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định ban hành Quy chế quản lý hoạt động của Cảng quốc tế Cam Ranh thuộc địa bàn tỉnh Khánh Hòa, có hiệu lực từ ngày 15-8-2016.
Với vị trí địa chính trị, Cảng quốc tế Cam Ranh thu hút sự quan tâm lớn của các nhà nghiên cứu, nhất là trong lĩnh vực quân sự và hàng hải. Vì vậy, các nhà quân sự thế giới hiểu rất rõ vị trí, vai trò của Cảng quốc tế Cam Ranh. Như vậy, Cảng quốc tế Cam Ranh bản thân nó đã có sức hút là một trong những cảng nước sâu tốt nhất thế giới, thì không có lý do gì chúng ta phải "lôi kéo" ai. Nhờ vị trí tiếp cận gần nhất các tuyến hàng hải quốc tế nên cảng quốc tế Cam Ranh là vị trí lý tưởng để tàu bè các nước dừng chân, sử dụng các dịch vụ hậu cần kỹ thuật trên đường hành trình của mình và đây là điều hết sức bình thường.
Chính sách quốc phòng của Việt Nam đã nêu rõ: Việt Nam chủ trương không cho bất cứ quốc gia nào đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ của mình. Chính phủ Việt Nam đã khẳng định không cho nước ngoài thuê cảng Cam Ranh làm căn cứ quân sự hay căn cứ hậu cần-kỹ thuật. Tuy nhiên, Việt Nam hoan nghênh tàu, thuyền quốc tế ghé đậu và sử dụng dịch vụ hậu cần-kỹ thuật tại đây. Đây là một chủ trương hoàn toàn đúng đắn. Trong thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng, Việt Nam sẵn sàng mở cửa đón tiếp tàu quân sự, dân sự của các nước có thiện chí và muốn sử dụng dịch vụ hậu cần-kỹ thuật ở Cảng quốc tế Cam Ranh. Tàu, thuyền các nước càng vào Cam Ranh nhiều càng chứng minh họ tín nhiệm Việt Nam và Việt Nam cũng tin tưởng họ. Do vậy, chuyện suy diễn Việt Nam cho nước ngoài thuê Cảng quốc tế Cam Ranh làm căn cứ quân sự là một suy diễn mang tính chủ quan, vô căn cứ.
Còn những ý kiến cho rằng, Việt Nam muốn liên minh quân sự, lôi kéo nhân tố quốc tế để đối phó với nước thứ ba. Câu chuyện thực chất là gì?
Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã chứng minh tính chất hòa bình, tự vệ và chính nghĩa của liên minh quân sự, liên minh chiến đấu, đồng thời khẳng định liên minh quân sự, liên minh chiến đấu là một trong những phương thức bảo vệ Tổ quốc vào thời điểm nhất định. Từ khi đất nước hòa bình, thống nhất đến nay, Việt Nam nhất quán thực hiện chính sách quốc phòng hòa bình, tự vệ nhằm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
Quốc phòng Việt Nam luôn gắn bó mật thiết với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Theo đó, tất cả những ai chủ trương tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập, mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng và bảo vệ hòa bình, ổn định trong khu vực đều là đối tác hợp tác quốc phòng của Việt Nam. Thông qua các mối quan hệ đối ngoại, Việt Nam tăng cường sự hiểu biết và tin tưởng lẫn nhau với nhân dân và chính phủ các nước, tạo cơ sở mở rộng hợp tác, giải quyết các mâu thuẫn nhằm ngăn chặn và đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, góp phần duy trì môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới. Thực hiện chính sách quốc phòng độc lập, tự chủ, Việt Nam xây dựng sức mạnh quốc phòng bằng mọi nguồn lực của đất nước; kiên trì chủ trương không tham gia các tổ chức liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước kia, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ của mình để chống lại nước khác. Tuy nhiên, Việt Nam chủ trương tăng cường hợp tác quốc phòng với mọi quốc gia để tăng cường khả năng bảo vệ đất nước. Tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế.
Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã minh chứng: Càng trong những tình thế khó khăn, càng đòi hỏi phải có chính sách quốc phòng đúng đắn theo đường lối độc lập, tự chủ, tự lực cánh sinh là chính. Đồng thời, cần hiểu đúng sức mạnh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là sức mạnh tổng hợp quốc gia về chính trị, tư tưởng, kinh tế, xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; trong đó, sức mạnh lực lượng vũ trang là nòng cốt, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, kết hợp quân sự, kinh tế, chính trị với ngoại giao. Sức mạnh bên trong của đất nước, sức mạnh của chế độ chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc là nhân tố quyết định. Chỉ có kiên trì thực hiện đường lối và “chính sách quốc phòng độc lập, tự chủ” chúng ta mới có thể phát huy hết được sức mạnh dân tộc, tận dụng và khai thác triệt để sức mạnh của thời đại trong đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, nếu ai đó cho rằng, Việt Nam cần liên minh quân sự là trái ngược với tinh thần nói trên.
Những diễn biến trong thời gian cho chúng ta thấy rõ ai là người thực tâm ủng hộ Việt Nam và ai đang toan tính thực hiện Chiến lược “Diễn biến hòa bình”, chống phá Việt Nam. Có thể thấy, những luận điệu trên là nhằm chia rẽ sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, phá hoại sức mạnh bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta; chia rẽ Đảng với nhân dân, Đảng với lực lượng vũ trang; chia rẽ quan hệ Việt Nam với các nước. Âm mưu của họ là lái Việt Nam chệch khỏi đường lối độc lập, tự chủ trong thực hiện chính sách quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc cũng như trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo, phục vụ cho những mưu đồ nham hiểm.
                                                                                    ADMIN.PSY11
                                                                                          (ST: Nguồn Báo QĐND

THAM GIA LAO ĐỘNG SẢN XUẤT LÀ MỘT CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ KHÔNG THỂ THIẾU CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM TRONG MỌI TÌNH HUỐNG

HatT. Psy.k11
Quân đội nhân dân Việt Nam là một tổ chức có kỷ luật chặt chẽ trong mọi tình huống, trong chiến đấu cũng như trong lao động sản xuất. Đảng, Nhà nước ta đã giao chức năng , nhiệm vụ cho quân đội theo lời Bác Hồ dạy gồm: đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất.
Ngay từ khi  bắt đầu mới thành lập, quân đội nhân dân Việt Nam đã kết hợp chiến đấu với lao  động sản xuất, phát huy tính độc lập, tự lực tự cường tích cực tăng gia sản xuất cùng với nhân dân bảo đảm cho đời sống của bộ đội. Nhờ vậy mà dù cho điều kiện  chiến đấu gian khổ, ác liệt đến đâu, quân đội nhân dân Việt Nam vẫn hoàn thành tốt nhiệm vụ được Đảng,  Nhà nước và nhân dân giao phó. Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội của dân, do dân và vì dân. Trải qua các cuộc chiến tranh, quân đội nhân dân Việt Nam là nòng cốt thực hiện nhiệm vụ chiến đấu giành độc lập, tự do cho Tổ quốc, bảo vệ bình yên cho nhân dân trong mọi hoàn cảnh. Trong thời bình, quân đội còn thể hiện vai trò vô cùng to lớn trong tham gia lao  động sản xuất ra của cải vật chất cho  xã hội, góp phần vào giải quyết việc làm cho nhân dân. Điều đó có thể nhận thấy trên  một số biểu hiện sau đây:
Thứ nhất, các đơn vị doanh nghiệp quân đội đã và đang đóng góp có hiệu quả đối với nền kinh tế xã hội  đất nước như: nộp thuế (doanh nghiệp quân  đội hiện nay đang  đứng  đầu trong đóng góp cho ngân sách nhà nước), xây dựng cơ sở hạ tầng, bảo đảm các nhu cầu xã hội (thông tin, công nghệ, bến  cảng, khám chữa bệnh, ngân hàng…), giải quyết việc làm cho xã hội…
Thứ hai, các doanh nghiệp quân đội luôn có ý thức tổ chức kỷ luật chặt chẽ, năng suất lao động hiệu quả đem lại hiệu quả kinh tế tốt. Điều đó không chỉ thể hiện về năng suất, hiệu quả kinh tế mà còn khẳng định sức mạnh kỷ luật của tổ chức quân đội luôn sẵn sàng thực hiện tốt cả ba chức năng, nhiệm vụ được giao.
Thứ ba, các doanh nghiệp quân đội là một trong những đơn vị trọng yếu có khả năng tiếp cận, áp dụng các công nghệ hiện đại vào hoạt  động quốc phòng, trong đó có phát triển kinh tế. Biểu hiện cụ thể là trong các kỳ thi công nghệ, các đơn vị quân đội đã đóng góp không nhỏ về những sáng kiến có giá trị (các kỳ thi robot, tập đoàn Viettell…)
Thứ tư, các doanh nghiệp quân đội là lực lượng trực tiếp nâng cao sức mạnh chiến đấu cho quân đội. Cùng với sự phát triển của quân sự thế giới, quân đội nhân dân Việt Nam luôn phải có sự phát triển mới trong nhiệm vụ, trong đó việc nâng cao đời sống của quân nhân cũng như phát triển về kỹ chiến thuật, các loại vũ khí công nghệ cao là đòi hỏi khách quan. Các doanh nghiệp quân đội sẽ  trực tiếp đóng góp hiệu quả trong trang bị, nâng cao chất lượng các loại vũ khí công nghệ cao, đồng thời tiết kiệm cho ngân sách quốc phòng của Nhà nước bảo đảm cho quân đội  ngày càng lớn mạnh đủ sức hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Thứ năm, các doanh nghiệp quân đội là những đơn vị kinh tế hàng đầu đến với các vùng kinh tế khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới. Vì thế, không chỉ thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ vững chức biên cương của Tổ quốc mà các doanh nghiệp quân đội còn giúp Đảng, Nhà nước thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo cho nhân dân trên khắp miền Tổ quốc.
Tóm lại, trong chiến tranh cũng như trong hòa bình thì ba chức năng: đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất mà Đảng, Nhà nước ta đã giao phó vẫn luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau giúp quân đội nhân dân Việt Nam hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ trong mọi tình huống, xứng đáng là quân đội của dân, do dân và vì dân.

NỖI ĐAU CỦA KẺ VONG NÔ

K’Sor H
Tháo quân hàm Đại tá, chạy theo lời hứa danh quyền, địa vị, danh lợi của Việt Tân, của cái gọi là phục hưng Việt Nam Cộng hoà, chế độ XHCN ở Việt Nam sẽ sụp đổ như Đông Âu - Và lời hối hận sau khi bỏ chạy theo Việt Tân được 17 năm. Thế mới hiểu hơn, lý luận cao, kiến thức rộng mà Bùi Tín không có bản lĩnh vững vàng, không có niềm tin thì cũng chỉ là "con sâu bám lá cây".
          Bùi Tín - Nguyên Đại tá quân đội, Phó tổng biên tập Báo Nhân dân; sinh năm 1927 tại Huế, trước khi lầm đường lạc lối, Bùi Tín từng được mệnh danh là người chiến sĩ, sĩ quan, nhà báo lão thành cách mạng, kiên trung với những bài viết khiến hàng triệu người nể phục.  Nếu không có một ngày bi kịch của đời Bùi Tín, thì danh phận Bùi Tín đã rất rực rỡ. Ngày ấy vào tháng 9 năm 1990 sang Pháp dự hội hàng năm của báo "L'Humanité" và quyết định không trở lại với cơ quan, đồng nghiệp. Bùi Tín day dứt "Tưởng Việt Nam cũng sẽ sụp đổ như các nước ở Đông Âu thời ấy" và Bùi Tín sẽ được bố trí vị trí xứng đáng trong bộ máy Nhà nước Việt Nam cộng hòa (theo như lời dụ dỗ) và rồi Bùi Tín quyết định ở lại Pháp để đến nay vẫn mang tiếng với đồng nghiệp là "kẻ đào nhiệm" phản bội Nhân dân, Tổ quốc.
Giờ đây ngồi bên xứ người, bị đối xử thậm tệ của kẻ "hết giá trị lợi dụng", Bùi Tín nói "tôi không ân hận về những gì đang xảy đến với tôi đó là cái giá tôi phải trả nhưng cái đau nhất...". Nỗi đau của Bùi Tín lúc này là nỗi nhớ quê hương, nhớ từng bước chân trên con phố nhỏ hay giữa dòng người đông đúc hoặc nhớ buổi chiều ngồi ngắm cảnh bên dòng sông Hương nơi chôn rau cắt rốn của Bùi Tín hoặc Hồ Tây nơi gắn bó nhiều kỷ niệm. Chắn hẳn, Bùi Tín vẫn mong lúc sống không dễ gì nhân dân Việt Nam tha thứ nhưng khi Bùi Tín chết đi chỉ mong được mang nắm tro tàn về chôn ở quê cha, đất mẹ.
Nỗi đau lớn nhất lúc này với Bùi Tín đó là sự "ghẻ lạnh", "hắt hủi" của những người mà Bùi Tín từng coi là "cùng chiến tuyến", "cùng phản bội Tổ quốc"... Ở cái tuổi 90, Bùi Tín ốm đau liên tục và không còn sức viết nổi nửa trang tin thì cũng là lúc không có ai "ngó đến xem Bùi Tín sống thế nào? đau ốm thế nào?...". Giọt nước mắt luôn chảy ra và Bùi Tín lại hận những kẻ tưởng chừng thề cùng sống chết thì lại dễ dàng bỏ mặc Bùi Tín trong lúc Bùi Tín cần chỗ dựa tinh thần.  Giờ đây ở tuổi gần đất xa trời, cái giai đoạn người ta nhận rõ đúng sai nhất của cuộc đời, ngay tại Paris, thân già lủi thủi, cô đơn không một người Việt nào ở Pháp hỏi thăm khi ốm, khi đau, khi trái gió trở trời... và đã làm Bùi Tín hận vì sự "ảo tưởng" của chính mình. Bùi Tín đau đớn khi bị bỏ rơi như một đứa trẻ bơ vơ nơi đất khách. Bùi Tín càng đau đớn hơn khi tất cả quay lưng với chính Bùi Tín vì Bùi Tín không còn tác dụng... Khi tiếp xúc với ông Hà Minh Huệ, nguyên Phó tổng biên tập TTXVN, Bùi Tín hối hận rằng: “Nỗi đau thứ nhất, Bùi Tín bị nhân dân Việt Nam coi như một Trần ích Tắc phản nước hại dân. Ở Việt Nam ai cũng căm ghét Bùi Tín. Ai cũng cho rằng Bùi Tín là kẻ vô ơn bạc nghĩa”.
Nỗi đau thứ hai, giới trí thức ở hải ngoại cho rằng Bùi Tín được ăn rất nhiều lộc của Việt Nam mà trở cờ như vậy là “thất đức, khó tin”. Trong một lần cùng tiến sĩ Trần Ngọc Vương đến thăm họa sĩ Lê Bá Đảng, Đặng Tiến, nhà phê bình nổi tiếng ở hải ngoại, đã nhận xét: “Bùi Tín thuộc loại ăn cháo đái bát không đáng chơi”. Ngay đến Võ Văn Ái, tờ Quê mẹ và Nguyễn Gia Kiểng tờ Thông luận rất phản động cũng viết bài miệt thị coi Bùi Tín là “phần tử bất hảo không đáng tin”.
Nỗi đau thứ ba, nhiều Việt kiều yêu nước không thể tin được hành động chạy trốn của Bùi Tín nên đoán già đoán non rằng Bùi Tín giả danh đào nhiệm để hoạt động gián điệp. Chính vì lẽ đó có người đã cho Bùi Tín vay khá nhiều tiền mà mãi đến nay vẫn không dám đòi. Lúc này đây, bệnh tuổi già làm Bùi Tín đau ốm liên miên nhưng cái đau nhất không phải về thể xác mà đó là lương tâm và sự hận thù những kẻ đã từng "cưng phụng Bùi Tín", "tô vẽ Bùi Tín" lại bỏ lại Bùi Tín với sự cô đơn.  Nỗi đau của Bùi Tín lúc này, chỉ có những người quan tâm đến Bùi Tín mới hiểu được và chúng tôi cũng không dám mạo muội đặt ra lời khuyên đối với những ai từng ảo tưởng, đang ảo tưởng... như Bùi Tín sẽ sớm tỉnh ngộ quay lại với thực tế. Có lẽ, Bùi Tín cũng muốn nói lên điều này mặc dù có thể không thức tỉnh được ai nhưng cũng sẽ là một bài học thực tế cho muôn đời.
Hỡi những tên tay cầm Đô la, miệng hô hào, chửi Đảng, nói xấu chế độ, đả kích, bôi nhọ lãnh tụ, đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền, tự do, tôn giáo theo ý phản động... ơi, hãy đọc, ngẫm nghĩ, đừng bỏ cả đời mình đi theo tội lỗi, để rồi cuối đời cô độc, ân hận, oán thân mình. Dừng lại đi, nếu máu các ngươi còn của dân Việt.
K’Sor H (Tổng hợp từ Internet và Trelang.blogspot.com)

CHỦ ĐỘNG PHÒNG, CHỐNG NHỮNG BIỂU HIỆN “ TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” VỀ TƯ TƯỞNG, CHÍNH TRỊ TRONG CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT XII CỦA ĐẢNG

 Long Sáng.Psy.K11
 “Tự diễn biến”,  “tự chuyển hóa” về tư tưởng chính trị của cán bộ, đảng viên thực chất là một quá trình suy thoái từ bên trong của cán bộ, đảng viên một mặt, do tác động khách quan mặt trái của nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, và âm mưu thủ đoạn “ diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch” vẫn tiếp tục đi sâu vào từng tổ chức, từng con người. Mặt khác từ nguyên nhân chủ quan do một số bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa, về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, chưa coi trọng đúng mức việc học tập nâng cao trình độ lý luận của mình, đặc biệt là trình độ hiểu biết về chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh dẫn đến nhận thức còn lệch lạc, dao động, mất phương hướng chính trị tư tưởng. Trong hai nguyên nhân đó thì nguyên nhân thuộc về chủ quan là chủ yếu. Nhấn mạnh vấn đề này Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng ta đã cảnh báo: Không ít cán bộ, đảng viên có những biểu hiện dao động, mất phương hướng, hoài nghi về vai trò lãnh đạo của Đảng, về mục tiêu lý tưởng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đã xuất hiện những việc làm và phát ngôn vô nguyên tắc, trái với Cương lĩnh, đường lối, Điều lệ Đảng ở một số cán bộ đảng viên.
Thực tiễn lịch sử cho thấy, tự diễn biến, tự chuyển hóa về tư tưởng không phải từ bây giờ, cũng không phải chỉ có ở Việt Nam mà đã xảy ra ở Liên Xô và các nước Xã hội chủ nghĩa Đông, khi bối cảnh quốc tế có những diễn biến phức tạp, cùng với đó trong nước đang gặp nhiều khó khăn, thách thức. Nói cách khác, khi cách mạng thế giới và cách mạng trong nước có những lúc thăng trầm thì trong nội bộ Đảng xuất hiện những đối tượng cơ hội chính trị làm nảy sinh những vấn đề “ tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Chẳng hạn ở sự sụp đổ của Liên Xô do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân chủ yếu, trực tiếp là: Trong cải tổ, Đảng cộng sản Liên Xô đã mắc sai lầm rất nghiêm trọng về đường lối chính trị, tư tưởng, tổ chức và cán bộ. Đó là đường lối xét lại, phản bội chủ nghĩa Mác- Lênin ở một số người lãnh đạo cao nhất của Đảng như Goócbachóp và phe cánh tả của ông ta… là những phần tử xét lại, phản bội dân tộc, phản bội Tổ quốc.
 Đặc biệt, từ khi các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu tan rã, các đối tượng cơ hội chính trị ở nước ta lại càng có điều kiện nảy sinh và phát triển, làm tăng nguy cơ “ tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng chính trị, đe dọa vị thế cầm quyền của Đảng và sự tồn tại của chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa.
          “ Tự diễn biến”, “ tự chuyển hóa” về tư tưởng chính trị diễn ra rất phức tạp, đa dạng, thường được biểu hiện qua những dấu hiệu đó là:  Nói và làm không theo thậm chí ngược lại với chủ trương đường lối của Đảng, chính sách và luật pháp của Nhà nước; thể hiện thái độ hoang mang dao động, đồng tình với quan điểm đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam; phản bác phủ nhận chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn. Xuyên tạc, bịa đặt vu cáo, đả kích bôi nhọ, phủ nhận công lao to lớn nhằm hạ thấp uy tín lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, thậm chí cả thanh danh Chủ tịch Hồ Chí Minh; truyền bá hệ tư tưởng tư sản…Nói tóm lại, tự diễn biến, tự chuyển hóa về tư tưởng chính trị là sự suy thoái về bên trong, là quá trình tự biến đổi về tư tưởng, chính trị, đạo đức lối sống theo hướng tiêu cực làm mất dần chuẩn mực con người cộng sản, dẫn đến xa rời nguyên tắc, quan điểm mác- xít; suy giảm niềm tin vào chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước… Từ đó làm cho các yếu tố cách mạng, tích cực bị triệt tiêu; tư tưởng phi xã hội chủ nghĩa thắng thế, lúc đó sẽ dẫn đến“ tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên từ người tốt trở thành phần tử chống đối Đảng, Nhà nước.
Để tích cực chủ động đấu tranh phòng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực chính trị tư tưởng ở nước ta hiện nay theo tinh thần Đại hội XII cần chú trọng thực hiện một số giải pháp cơ bản sau:
Thứ nhất, phải đẩy mạnh cuộc đấu tranh trên lĩnh vực chính trị tư tưởng lý luận, bảo vệ chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, củng cố giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng. Đòi hỏi cần phát huy tốt vai trò của đội ngũ làm công tác lý luận, của khoa học xã hội và nhân văn, của cán bộ, đảng viên của cả hệ thống chính trị trong việc nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế tri thức.
          Thứ hai, nâng cao nhận thưc, trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên về tầm quan trọng của vấn đề phòng, chống “ tự diễn biến”, “ tự chuyển hóa” về tư tưởng chính trị. Thực tế hiện nay không ít cán bộ đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo chủ chốt còn nhận thức mơ hồ về “ tự diễn biến”, “ tự chuyển hóa” coi đó là những lo lắng xa vời mà không thấy đây là nguy cơ thách thức đang tiềm ẩn, hiện hữu, diễn ra cách âm thầm đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, đòi hỏi các cấp ủy đảng phải luôn coi trọng giáo dục quán triệt để mọi cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc về sự nguy hại của “tự diễn biến”, “ tự chuyển hóa” về tư tưởng chính trị.
          Thứ ba, phát huy vai trò của các tổ chức, các lực lượng chủ động tích cực đấu tranh phòng, chống “ tự diễn biến”, “ tự chuyển hóa” về tư tưởng chính trị của cán bộ, đảng viên. Các cấp ủy cần nhận thức đúng, đánh giá chính xác sự suy thoái về tư tưởng chính trị, mức độ, tính chất “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên thuộc tổ chức đảng mình để kịp thời có chủ trương biện pháp lãnh đạo cụ thể bảo đảm phòng chống có hiệu quả.
Thứ tư, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tự tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng. Đây là giải pháp quan trọng nâng cao bản lĩnh chính trị của mỗi cán bộ, đảng viên. Bởi bản lĩnh chính trị chỉ được hình thành trên nền tảng đạo đức cách mạng. Vì vậy mỗi cán bộ, đảng viên cần phải thường xuyên tự tu dưỡng rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, nhất là đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo tinh thần chỉ thị 05- CT/TW  của Bộ chính trị khóa XII.

Các biện pháp trên cần được tiến hành một cách đồng bộ và phối hợp kịp thời chặt chẽ với cuộc đấu tranh phòng chống “ tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên các lĩnh vực khác của đời sống xã hội như: lĩnh vực kinh tế; lĩnh vực văn hóa, xã hội, đạo đức, lối sống…thì mới đem lại hiệu quả cao góp phần thực hiện thành công phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên trên lĩnh vực tư tưởng lý luận theo tinh thần Nghị quyết đại hội XII của Đảng đã chỉ ra.

Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ lý luận khoa học, cách mạng, nhất định sự nghiệp đổi mới thành công

Nobita091275 (ST)
Trong những năm tới đây, mục tiêu chống phá của các thế lực thù địch đối với nước ta trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận không hề thay đổi, các thế lực thù địch sẽ tiếp tục thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” với những âm mưu, thủ đoạn mới nhằm xoá bỏ ảnh hưởng to lớn của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong đời sống tinh thần của xã hội ta. Xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Truyền bá hệ tư tưởng tư sản phản động, xuyên tạc, hạ thấp, phủ nhận để đi tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam, làm sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Bên cạnh những thuận lợi là cơ bản, trong những năm tới, tình hình quốc tế, khu vực và trong nước sẽ còn có những diễn biến phức tạp, khó lường với những khó khăn, thách thức mới, nhất là khi chúng ta đang triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng và các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Nghị quyết của Quốc hội khóa XIV… thì các thế lực thù địch sẽ triệt để lợi dụng để đẩy mạnh quá trình thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá ta trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận để thực hiện mục tiêu cơ bản, xuyên suốt trong chống phá cách mạng Việt Nam.
Để thực hiện mục tiêu cơ bản, xuyên suốt trong chống phá cách mạng Việt Nam trên lĩnh vực lý luận, các thế lực thù địch sẽ  tập trung chống phá trên các các vấn đề chủ yếu sau đây: Xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin trên các nguyên lý cơ bản như: lý luận về hình thái kinh tế – xã hội, học thuyết giá trị thặng dư, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân; phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta; phủ nhận mục tiêu, lý tưởng, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; hạ thấp và đi đến phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với xã hội.
Xuyên tạc, phá hoại cuơng lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta, nhất là các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách được thể hiện trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” (bổ sung, phát triển năm 2011) và Văn kiện Đại hội lần thứ XII, các nghị quyết, kết luận của Hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, các nghị quyết của Quốc hội, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV, của Nhà nước; các quyết sách của Chỉnh phủ khi xây dựng Chính phủ liêm chính, kiến tạo, phát triển…
Các thế lực thù địch sẽ tập trung chống phá trên những vấn đề lý luận cơ bản như: về thời đại ngày nay; về chủ nghĩa xã hội; về chủ nghiã tư bản hiện đại; về giai cấp, dân tộc và đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc; về kinh tế thị trường trong điều kiện toàn cầu hóa, mở cửa, hội nhập quốc tế; về xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; về vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo; về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về bảo vệ Tổ quốc; về hội nhập quốc tế về quốc phòng; về “phi chính trị hóa” quân đội.
Để đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, đấu tranh chống các quan điểm thù địch, sai trái trên lĩnh vực lý luận phải kết hợp chặt chẽ giữa “xây” với “chống”. Vừa kiên định, bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, vừa tích cực, chủ động đấu tranh với các quan điểm thù địch, sai trái trên lĩnh vực lý luận.
Kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lói đổi mới của Đảng là một đòi hỏi khách quan, cấp thiết, một yêu cầu có tính nguyên tắc và có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp đổi mới đất nước vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Đảng và nhân dân ta. Kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là một nguyên tắc cơ bản chỉ đạo công cuộc đổi mới đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và nhân dân ta, đòi hỏi Đảng phải trung thành, nắm vững bản chất cách mạng và khoa học, vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện, tình hình cụ thể của cách mạng Việt Nam, không máy móc, giáo điều.
Lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở lý luận và phương pháp luận để tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan và thực tiễn đất nước, trên cơ sở đó đề ra cương lĩnh, đường lối đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân và quy luật phát triển của lịch sử. Tăng cường công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn góp phần phát triển một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là phải nắm vững mối quan hệ giữa kiên định và phát triển, tức là phát triển trên cơ sở kiên định nguyên tắc cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam, với xu thế thời đại. Thực tiễn luôn biến đổi, phát triển nên lý luận Mác – Lênin cũng cần được bổ sung, đổi mới, phát triển nếu chúng ta không muốn lạc hậu so với cuộc sống. Chủ nghĩa Mác – Lênin là một hệ thống mở, không thể coi những nhận thức đạt được cho đến ngày nay là những chân lý tuyệt đích cuối cùng. Không ngừng phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin vừa là yêu cầu của thực tiễn xã hội vừa là yêu cầu nội tại của học thuyết Mác – Lênin. Có phát triển và thông qua phát triển, chủ nghĩa Mác – Lênin mới tự bảo vệ được mình, mới phát huy được sức mạnh, sức sống của mình đối với thời đại. Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta. Vì vậy bảo vệ, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh cũng chính là phát huy sức mạnh, sức sống của chủ nghĩa Mác – Lênin ở nước ta.
Đi đôi với việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phải kiên quyết đấu tranh với những quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Cần tổ chức nghiên cứu, nhận diện các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh từ những luận điểm chung đến những luận điểm cụ thể trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại.
Cần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của các cấp ủy đảng trong đấu tranh chống các quan điểm thù địch, sai trái, bảo đảm các hoạt động đấu tranh trên lĩnh vực lý luận theo đúng định hướng của Đảng, chặt chẽ về nguyên tắc, vững vàng về quan điểm chính trị, sâu sắc về lý luận khoa học, sắc bén trong phương pháp và đạt hiệu quả cao.
Huy động lực lượng rộng rãi trong các cơ quan nghiên cứu lý luận, các cơ quan nghiên cứu khoa học, các cơ quan truyền thông, báo chí…tiến công chống các quan điểm thù địch, sai trái nhất là phát huy vai trò của các cơ quan nghiên cứu, các nhà khoa học trong đấu tranh chống các quan điểm thù địch, sai trái trên lĩnh vực lý luận.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả đấu tranh chống các quan điểm thù địch, sai trái theo hướng tăng hàm lượng khoa học, tăng độ sâu lý luận, cập nhật thông tin, luận cứ, luận chứng sắc bén, có lý, có tình, có sức thuyết phục cao. Cung cấp đầy đủ các thông tin liên quan đến vấn đề đấu tranh dưới nhiều hình thức để kịp thời định hướng đấu tranh. Quan tâm đầu tư kinh phí, phương tiện, điều kiện cho các hoạt động đấu tranh chống các quan điểm thù địch, sai trái trên lĩnh vực lý luận.
Trước sự vận động, biến đổi không ngừng của tình hình thế giới, khu vực và trong nước, cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận để bảo vệ chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ngày càng khó khăn, phức tạp hơn. Việc bảo vệ chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phải có cơ sở lý luận, thực tiễn và bằng hành động cách mạng thiết thực cụ thể. Phải từng bước hiện thực hoá mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa trên đất nước ta. Phải chứng minh trên thực tế tính cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước bằng kết quả hiện thực, bằng những thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Qua 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, nhân dân ta đã thu được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Kinh tế phát triển năng động, mức tăng trưởng kinh tế nhiều năm qua liên tục được giữ vững. Môi trường chính trị, văn hoá, xã hội ổn định và phát triển. An ninh, quốc phòng được giữ vững và tăng cường. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng, khẳng định vị thế của nước ta trên trường quốc tế.

Điều đó là một minh chứng sinh động, khẳng định Đảng ta đã tuyệt đối trung thành và vận dụng, bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn của cách mạng nước ta; khẳng định sự sai lầm, thiếu căn cứ khoa học của các quan điểm thù địch, sai trái đối với cách mạng Việt Nam. Song, chúng ta cũng cần nhận thức sâu sắc rằng, con đường mà chúng ta đang đi tới là không dễ dàng, bằng phẳng mà phải trải qua nhiều khó khăn, gian khổ. Nhưng chúng ta tin tưởng chắc chắn rằng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, nhất định sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước sẽ thu được nhiều thành tựu to lớn trên mọi lĩnh vực, các quan điểm thù địch, sai trái trong chống phá cách mạng Việt Nam trên lĩnh vực lý luận sẽ càng sớm bị vạch trần bởi tính chất phản khoa học của chúng. Điều đó khẳng định rằng, chẳng có thế lực nào có thể ngăn đường, cản lối quân và dân ta thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng.

KHÔNG PHẢI CỨ CÓ ĐA ĐẢNG LÀ CÓ DÂN CHỦ

       Nobita091275 (ST)
Trong bài “Nếu Việt Nam chuyển đổi qua chế độ dân chủ đa đảng, chính trường Việt Nam sẽ ra sao” đăng trên voatiengviet.com của tác giả Thiện Ý đã vẽ ra “một giả định, một tương lai sớm muộn” của nền dân chủ Việt Nam khi thực hiện chế độ đa đảng. Thực tế đây là một “viễn cảnh” mà chỉ những người có ý đồ xuyên tạc, nhằm phủ định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân Việt Nam mới có thể tưởng tượng được như vậy.
Trước hết cần nhận thức rằng Việt Nam không bao giờ thực hiện chế độ “dân chủ đa đảng” như ông tưởng tượng. Việt Nam không thực hiện chế độ đa nguyên, đa đảng không có nghĩa là bảo thủ, mất đân chủ như ông cố tình quy chụp mà đó là yêu cầu khách quan. Ông Thiện Ý nên xem lại kiến thức về dân chủ của mình khi nêu khái niệm “dân chủ đa đảng”, ông cố tình cho rằng cứ đa đảng là có dân chủ và ngược lại chế độ một đảng là không có dân chủ mà không cần hiểu rõ bản chất dân chủ là gì. Những người có kiến thức về dân chủ đích thực đều nhận thức được rõ ràng rằng, dân chủ là quyền tự quyết của nhân dân trước những vấn đề trọng đại của đất nước của dân tộc; do vậy một nền dân chủ thực sự không phụ thuộc và chế độ đa đảng hay một đảng.
Khi tưởng tượng mô hình “chế độ dân chủ đa đảng” ông Thiện Ý đã quên rằng trên thế giới có nhiều nước theo chế độ đa đảng nhưng bản chất vẫn chỉ là đảng đại diện cho một lực lượng xã hội duy nhất là giai cấp tư sản và lực lượng ấy thay nhau lãnh đạo đất nước, cùng bảo vệ quyền và lợi ích của giai cấp mình. Tuy thế, giữa các đảng phái ấy luôn có sự tranh chấp quyền lợi với nhau, mà thực chất là các nhóm lợi ích, các nhóm tư bản trong từng ngành, từng lĩnh vực, dẫn đến tình trạng bất ổn về chính trị trong nội bộ đất nước làm cản trở sự phát triển chung chung của xã hội. Thực tế cho thấy ở những nước mà đa đảng đi kèm với đa nguyên chính trị là những nước có nền chính trị kém ổn định, thường diễn ra các cuộc tranh giành quyền lực, làm cho xã hội kém ổn định về chính trị, thậm chí hỗn loạn, chia rẽ dân tộc như đã và đang xảy ra trên thế giới hiện nay.
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân Việt Nam thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa thừa nhận quyền tự do, bình đẳng của công dân, đảm bảo cho nhân dân là chủ thể của quyền lực. Quyền làm chủ của nhân dân được thể chế hóa thành các chuẩn mực mang tính pháp quyền, thành nguyên tắc tổ chức và vận hành của Nhà nước cũng như các thiết chế chính trị khác tạo nên chế độ dân chủ. Thực tế hơn 70 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quyền làm chủ của nhân dân luôn được đảm bảo và phát huy cao độ, bởi nếu Việt Nam không có dân chủ sẽ không có sự thống nhất ý chí và hành động tạo nên sức mạnh của cả dân tộc để chiến thắng hai đế quốc có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh hơn gấp nhiều lần. Nếu không có dân chủ thực sự thì không thể có đủ sức mạnh để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và công cuộc xây dựng đất nước trong điều kiện phức tạp như tranh chấp biên giới lãnh thổ, biển đảo và trước những âm mưu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch như hiện nay. Phát huy thành quả xây dựng nền dân chủ, khẳng định sự đúng đắn trong đường lối thực hiện dân chủ của mình, Hiến pháp năm 2013 hiến định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”, “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân…”. Như vậy càng không thể có “một chính quyền của đảng, do đảng và vì đảng” như ông Thiện Ý cố tình gán gép một cách ác ý và đầy tính xuyên tạc.
Ở Việt Nam khi hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, Pháp luật của nhà nước đều xuất phát từ nguyện vọng, quyền lợi chính đáng của nhân dân, nhân dân được dân chủ rộng rãi tham gia ý kiến mình vào các văn kiện quan trọng của đất nước (Như hiến pháp năm 2013, Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XII…). Những thành tựu về thực hành dân chủ ở Việt Nam luôn được bạn bè quốc tế công nhận Việt Nam là một đất nước ổn định về chính trị, dân chủ dân quyền luôn được đảm bảo; gần đây được Đại hội đồng Liên hợp quốc (khóa 68) bầu vào Hội đồng nhân quyền nhiệm kỳ (2014 -2016) với số phiếu cao nhất. Do vậy, khẳng định dân chủ không phụ thuộc vào chế độ một đảng hay đa đảng, mà nó phụ thuộc vào bản chất của chế độ cầm quyền phục vụ cho lợi ích của giai cấp nào cũng như cách thức vận hành cụ thê của bộ máy nhà nước trong từng xã hội.

Viễn cảnh “một giả định, một tương lai sớm muộn” của nền dân chủ Việt Nam khi thực hiện chế độ đa đảng của tác giả Thiện Ý sẽ không bao giờ có thể trở thành hiện thực bởi nó xuất phát từ một nhận thức sai lầm về dân chủ, từ một ý đồ phủ nhận thành tựu của nền dân chủ ở Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam hơn 70 năm qua. Ông Thiện Ý nên nhận thức lại cho đúng đừng vì mục đích xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam mà làm giảm đi giá trị về mặt nhận thức của mình./.

XUYÊN TẠC NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM TRÒ CŨ DIỄN LẠI CỦA LE NGUYEN

Nobita091275 (ST) 
Từ trước đến nay, các tổ chức, cá nhân có thâm thù với Việt Nam luôn tìm mọi cách xuyên tạc tình hình đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong đó có việc  thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân. Bài viết “Nhân quyền theo quy định của CSVN” đăng trên Danlambao  của  Le Nguyen mới đây là một ví dụ.
Trong bài viết, Le Nguyen cho rằng, pháp luật Việt Nam không tuân thủ Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (1948, 1966).
Thực tiễn ở Việt Nam cho thấy, những gì Le Nguyen viết là sự xuyên tạc trắng trợn chính sách pháp luật Việt Nam về nhân quyền. Là một thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, Việt Nam luôn tôn trọng và thực thi các công ước quốc tế về quyền con người, đồng thời ban hành các chính sách phù hợp với pháp luật Việt Nam và các tiêu chuẩn quốc tế về nhân quyền. Ngay trong Bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam mới (2/9/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm. Trong những quyền đó có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc… Phát huy tinh thần đó, trong các Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua, đã tiếp tục khẳng định sự nhất quán về nội dung quyền con người, quyền công dân; đồng thời bổ sung nhận thức mới đầy đủ, sâu sắc hơn trong việc thể chế hóa quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Trong hợp tác quốc tế về bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền, Việt Nam đã tham gia hầu hết các công ước của Liên hợp quốc về quyền con người như: Công ước về Quyền Dân sự, Chính trị; Công ước về quyền Kinh tế, Văn hóa, Xã hội; Công ước về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ; Công ước về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc; Công ước về Quyền Trẻ em; Công ước về ngăn ngừa và trừng phạt các tội ác A-pác-thai; Công ước về không áp dụng những hạn chế luật pháp đối với tội phạm chiến tranh và tội chống nhân loại… Việt Nam cũng đã gia nhập Công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và Nghị định thư về ngăn chặn, trấn áp và trừng phạt tội buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em; Công ước số 122 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) về Chính sách việc làm… Đến nay, Việt Nam là một trong 6 quốc gia thành viên Liên hợp quốc đã hoàn thành phần lớn các Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ (MDGs) trước thời hạn năm 2015. Đặc biệt, Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (khóa 26), ngày 20-6-2014, đã một lần nữa đánh giá cao thực thi nhân quyền của Việt Nam với việc chính thức thông qua Báo cáo quốc gia theo cơ chế Rà soát Định kỳ Phổ quát (UPR) chu kỳ 2 của Việt Nam. Những đóng góp tích cực và hiệu quả của Việt Nam vào mục tiêu chung là thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, giữ vững các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế về nhân quyền, là sự chứng thực Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng, bảo đảm các quyền cơ bản của người dân thể hiện ở việc kiện toàn hệ thống pháp luật, chính sách liên quan đến quyền con người.
Nội dung bài viết còn vu cáo Đảng, Nhà nước Việt Nam vi phạm nhân quyền, thể hiện ở việc bắt giam, xét xử người vi phạm pháp luật Việt Nam.
Trên thực tế, hoạt động thực thi pháp luật ở Việt Nam đối với những người có hành vi vi phạm pháp luật Việt nam là đúng với Tuyên ngôn thế giới về Quyền con người. Để thực thi pháp luật, bảo đảm quyền con người đối với phạm nhân, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định 98/2002/NĐ-CP, về “Sửa đổi, bổ sung một số điều của quy chế về tạm giam, tạm giữ năm 1988 của Chính phủ”; trong đó, quy định: “Trại giam phải tổ chức giam phạm nhân theo từng loại riêng, v.v. Phạm nhân là nữ hoặc là người chưa thành niên phải được giam ở khu vực riêng trong từng trại (Điều 7), “Trừ những phạm nhân bị phạt giam ở buồng kỷ luật, còn các phạm nhân khác được ở theo buồng tập thể” (Điều 15); “Trại giam phải được bảo vệ nghiêm ngặt,… có đủ ánh sáng, bảo đảm vệ sinh, môi trường” (Điều 10); “Phạm nhân được hoạt động thể dục, thể thao, văn hóa, văn nghệ,… được đọc sách, nghe Đài Tiếng nói Việt Nam, xem truyền hình” (Điều 18); “Trong thời gian ở trại, phạm nhân được khám sức khỏe định kỳ ít nhất một năm một lần” (Điều 19). Đặc biệt, Điều 21 quy định: “Phạm nhân lao động ngày 8 giờ”, “Nữ phạm nhân có thai được nghỉ trước và sau khi đẻ theo quy định chung của Nhà nước. Cùng với đó, Nhà nước đã thực hiện nhiều chính sách cho người đang thi hành án, trong đó có chính sách dạy nghề. Phần lớn những người được đặc xá năm 2015 đã có trong tay những nghề đơn giản để hội nhập cộng đồng. … Như vậy, phạm nhân trong nhà tù ở Việt Nam đã được hưởng những quyền cơ bản của con người theo quy định của pháp luật. Họ được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, được dạy nghề, lao động và hưởng thụ thành quả của mình theo quy định. Có thể khẳng định rằng, trong các nhà tù ở Việt Nam, phạm nhân không chỉ được thực hiện quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm, mà còn được giáo dục, cải tạo, dạy nghề để trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội. Với tinh thần nhân đạo, khoan hồng, Nhà nước Việt Nam đã ban hành Luật Đặc xá. Hàng năm, Chính phủ thực hiện đặc xá cho phạm nhân theo nguyên tắc: công khai, minh bạch, dân chủ, đúng người, đúng quy định luật pháp. Trước mỗi đợt đặc xá, phạm nhân được bình bầu dân chủ, chọn những người thành tâm sửa chữa, nỗ lực lao động cải tạo, chấp hành nội quy trại giam,… tốt sẽ được đặc xá trước. Còn những phạm nhân nào chấp hành không nghiêm nội quy trại giam, lười lao động, cải tạo,… thì nhất thiết phải chờ đến hết thời hạn trong tù theo quy định. Từ năm 2009 - 2015, triển khai Luật Đặc xá, Chủ tịch nước đã quyết định thực hiện 05 đợt đặc xá, tha trước thời hạn cho gần 64 nghìn phạm nhân. Như vậy, những nội dung mà Le Nguyen nêu ra trong bài viết đều không có cơ sở, đã xuyên tạc trắng trợn  đường lối, chính sách, pháp luật và thực tiễn nhân quyền ở Việt Nam,  đã ngang nhiên bao che, bảo vệ, cổ vũ cho các hành vi phạm tội gây rối trật tự công cộng và xâm phạm an ninh quốc gia. Đó là những cá nhân vi phạm pháp luật, bị truy tố, bắt giữ, đưa vào cải tạo trong nhà tù (mà họ gọi là “tù nhân lương tâm”) thuộc những tội, như: “Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” (Điều 79, Bộ luật Hình sự, năm 1999; “Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
Trò xuyên tạc sự thật, vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền chẳng có gì mới, vẫn là việc làm thường xuyên của các thế lực thù địch. Chúng luôn tìm mọi cách để làm giảm sút lòng tin của các tầng lớp nhân dân với chế độ xã hội, gây rối, làm mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, hòng lật đổ chế độ xã hội Việt Nam hiện hành. Dẫu có núp dưới hình thức nào, những kẻ như thế luôn bị nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, nhân dân Việt Nam nhận rõ và kiên quyết đấu tranh, bác bỏ. Hành động của Le nguyen thật sự là hành động lố bịch, trò cũ diễn lại, chẳng lừa gạt được ai.