Thứ Hai, 13 tháng 11, 2023

BỘ TRƯỞNG BỘ NỘI VỤ CHỈ RÕ DẤU HIỆU CÁN BỘ NÉ TRÁNH, ĐÙN ĐẨY TRÁCH NHIỆM

 Bộ trưởng Bội Nội vụ cho biết, một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức né tránh, đùn đẩy công việc, thiếu trách nhiệm trong thực thi công vụ, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Bộ trưởng Phạm Thị Thanh Trà nhấn mạnh điều này trong báo cáo bổ sung, làm rõ một số vấn đề về thực hiện nghị quyết của Quốc hội về giám sát chuyên đề, chất vấn, thuộc lĩnh vực nội vụ.

Tình trạng đùn đẩy, né tránh xảy ra trong nhiều hoạt động KT-XH

Để xử lý tình trạng trên, Thủ tướng Chính phủ ban hành 4 công điện; thành lập các Tổ công tác về: Cải cách thủ tục hành chính; rà soát văn bản pháp luật; tháo gỡ khó khăn trong đầu tư công.

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 48/2023/NĐ-CP, Nghị định số 69/2023/NĐ-CP, Nghị định số 71/2023/NĐ-CP, Nghị định số 73/2023/NĐ-CP, theo đó bổ sung quy định việc né tránh, đùn đẩy là căn cứ đánh giá, xếp loại, để xem xét, xử lý kỷ luật; đồng thời thể chế hóa chủ trương khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Hiện nay, Bộ Nội vụ đang khẩn trương hoàn thiện dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 115/2020/NĐ-CP, Nghị định số 138/2020/NĐ-CP, trong đó sửa đổi, bổ sung quy định cho thôi giữ chức vụ, miễn nhiệm, từ chức đối với công chức, viên chức lãnh đạo, quản lý để bảo đảm đồng bộ, thống nhất với Quy định số 41-QĐ/TW ngày 03/11/2021 của Bộ Chính trị.

Nữ bộ trưởng cũng thẳng thắn chỉ rõ, né tránh, đùn đẩy công việc, thiếu trách nhiệm trong thực thi công vụ là thực trạng xảy ra ở một số bộ, cơ quan, địa phương và một bộ phận cán bộ, công chức, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Biểu hiện phổ biến là né tránh những việc khó, phức tạp, nhạy cảm trong thực thi công vụ và giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp; chậm trễ giải quyết, để tồn đọng công việc; trả lời, hướng dẫn không rõ quan điểm, chính kiến của tổ chức, đơn vị mình; đẩy việc; hỏi xin ý kiến những vấn đề thuộc thẩm quyền của mình; lạm dụng việc lấy ý kiến phối hợp để né tránh trách nhiệm.

“Tình trạng này xảy ra trong nhiều hoạt động kinh tế - xã hội, thể hiện rõ trong: đầu tư công, đấu thầu, quản lý đất đai, y tế, xây dựng, giải quyết thủ tục đầu tư, sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp, cung cấp dịch vụ công cho người dân…, dẫn đến giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý, giảm niềm tin của người dân, doanh nghiệp, ảnh hưởng đến thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội”, theo bà Phạm Thị Thanh Trà

Nhận thức “không làm thì không sai” là “tự diễn biến”

Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cán bộ, công chức được Bộ trưởng Bộ Nội vụ xác định là giải pháp đầu tiên để khắc phục tình trạng trên. Cấp ủy, chính quyền cơ quan, đơn vị chú trọng giáo dục chính trị, tư tưởng và đạo đức công vụ.

Cạnh đó, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, công chức, người đứng đầu trong việc chủ động, tích cực thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn được giao; thực hiện nghiêm túc Nghị quyết của Đảng gắn với học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu và cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.

Thực hiện nghiêm túc các Chỉ thị 26, 27 và các Công điện của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong cơ quan hành chính nhà nước và trong xử lý công việc của các bộ, cơ quan, địa phương.

“Xóa bỏ nhận thức trong một số cán bộ, công chức “không làm thì không sai”, “đứng trước hội đồng kỷ luật còn hơn đứng trước hội đồng xét xử” đang xuất hiện và là một loại “tự diễn biến” cản trở nghiêm trọng sự phát triển” – bà Phạm Thị Thanh Trà nói.

Cùng với đó là khơi dậy lòng tự trọng, bản lĩnh chính trị, tinh thần trách nhiệm và ý thức phục vụ nhân dân của cán bộ, công chức.

Nhóm giải pháp nữa là thực hiện nghiêm chỉ đạo của Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Các bộ, ngành đẩy mạnh việc rà soát, đề xuất bổ sung, hoàn thiện thể chế, chính sách, nhất là lĩnh vực quản lý kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, vướng mắc trên thực tiễn; trong đó, chú trọng tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực.

Triển khai Nghị định số 73/2023/NĐ-CP về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, đồng thời nghiên cứu để thể chế hóa chủ trương này vào Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức.

Ngoài ra, thực hiện chính sách tiền lương mới theo Nghị quyết số 27-NQ/TW; có biện pháp, chính sách khuyến khích, khen thưởng thực chất dựa trên hiệu suất và kết quả thực hiện công việc.

Về đẩy mạnh cải cách hành chính và đổi mới công vụ, công chức, Bộ trưởng Bộ Nội vụ lưu ý tiếp tục rà soát, hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến việc thực hiện chức trách công vụ của cán bộ, công chức; sửa đổi, bổ sung quy chế làm việc của cơ quan, đơn vị bảo đảm xác định rõ chức năng, nhiệm vụ; phân công cụ thể, rành mạch trách nhiệm từng cơ quan, đơn vị trực thuộc; trách nhiệm người đứng đầu và từng cán bộ, công chức, viên chức theo vị trí việc làm.

Quy định cụ thể về đạo đức công vụ và siết chặt kỷ luật, kỷ cương công vụ, tăng cường thanh tra, kiểm tra hoạt động công vụ.

Kịp thời biểu dương cơ quan, tổ chức, cá nhân làm tốt và xử lý nghiêm cán bộ, công chức không làm tròn chức trách, nhiệm vụ, thiếu trách nhiệm, sợ sai trong thực thi công vụ; kịp thời thay thế, điều chuyển cán bộ hạn chế năng lực lãnh đạo, không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đề ra.

Nghiên cứu công tác tuyển dụng, quản lý, nhất là đánh giá cán bộ, công chức theo tiêu chí, bằng sản phẩm cụ thể. Sử dụng hiệu quả kết quả đánh giá làm căn cứ bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức.

“Kịp thời miễn nhiệm, từ chức đối với những trường hợp không hoàn thành nhiệm vụ; xử lý trách nhiệm người đứng đầu nếu trong cơ quan, đơn vị, địa phương còn xảy ra tình trạng cán bộ, công chức né tránh, đùn đẩy, làm việc cầm chừng, sợ trách nhiệm không dám làm” - báo cáo nêu rõ.

Bên cạnh đó, xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong thực thi công vụ cũng được xem là giải pháp quan trọng. Bởi, sự nêu gương và vai trò lãnh đạo, dẫn dắt của người đứng đầu là quyết định kỷ luật, kỷ cương và thành công trong thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị. Quan tâm xây dựng môi trường chính trị, môi trường văn hóa công sở tạo động lực, niềm tin cho cán bộ, công chức làm việc.

Các cơ quan kiểm tra, điều tra, truy tố, xét xử tiếp tục nghiên cứu, phân loại vụ việc vi phạm sai phạm theo tính chất, mức độ, động cơ nếu không có vụ lợi cá nhân, không tham ô, tham nhũng thì khoan dung, khoan hồng, nhân văn hơn nữa nhằm tạo cơ chế đồng bộ, tinh thần khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vị lợi ích chung.

“Đồng bộ thực hiện các giải pháp với quyết tâm đẩy lùi tâm lý sợ sai, thiếu trách nhiệm, không dám làm khi thực thi công vụ” – bà Phạm Thị Thanh trà đề nghị.

Nguồn: Hiếu Minh/VOV.VN

CH-K11

"BỆNH SỢ TRÁCH NHIỆM" - 50 NĂM TRƯỚC VÀ HIỆN NAY

 Tháng 11/1973, trên chuyên mục "Sinh hoạt tư tưởng" của Tạp chí Cộng sản có đăng bài viết "Bệnh sợ trách nhiệm" của đồng chí Nguyễn Phú Trọng với bút danh "Người xây dựng". Khi đó, đồng chí Nguyễn Phú Trọng là biên tập viên của Tạp chí Cộng sản. Nửa thế kỷ đã đi qua, đọc lại bài viết này và liên hệ với tình hình hiện nay, chúng ta có rất nhiều điều suy ngẫm.

Ngày ấy, sau chiến tranh phá hoại bằng B52 của đế quốc Mỹ nhằm đưa miền bắc trở về thời kỳ "đồ đá", tình hình hai miền của đất nước đứng trước những yêu cầu, đòi hỏi rất khẩn trương. Miền bắc vừa tập trung khắc phục hậu quả chiến tranh và phát triển kinh tế, vừa làm hậu phương lớn chi viện cho chiến trường miền nam. Ở miền nam, quân dân ta đang dốc sức chuẩn bị tổng tiến công để sớm giải phóng hoàn toàn miền nam, thống nhất đất nước.

Tình hình này, theo đồng chí Nguyễn Phú Trọng, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải là một chiến sĩ xung kích với tinh thần cách mạng tiến công, ý thức trách nhiệm cao, sự nỗ lực rất lớn, chủ động và sáng tạo trong cuộc đấu tranh xây dựng nền kinh tế mới, chế độ mới, con người mới, kiên quyết đấu tranh chống những tư tưởng và hành động trái quan điểm, đường lối của Đảng, chống xu hướng tiêu cực, bảo thủ.

Yêu cầu đòi hỏi là vậy, nhưng lúc bấy giờ trong cán bộ, đảng viên còn có những đồng chí sợ trách nhiệm. Người sợ trách nhiệm khi đó được tác giả bài viết nhìn nhận, chỉ rõ: (1) Làm việc cầm chừng cho đủ bổn phận, cốt sao không phạm khuyết điểm; (2) Rụt rè, do dự khi giải quyết công việc, không phát biểu rõ ràng, dứt khoát ý kiến của mình, không dám quyết đoán những việc thuộc phạm vi trách nhiệm và quyền hạn được giao; (3) Lấy lý do làm việc tập thể, tôn trọng tập thể để dựa dẫm vào tập thể, việc lớn việc nhỏ gì cũng đưa ra tập thể bàn, chờ ý kiến tập thể cho đỡ phiền; (4) Ngại va chạm với đồng chí trong đơn vị, với cấp trên và cả cấp dưới, không thẳng thắn phê bình những người phạm khuyết điểm, không đấu tranh chống những hiện tượng tiêu cực, những tư tưởng và việc làm trái với đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước.

Tập hợp các biểu hiện thường thấy của những người sợ trách nhiệm được đồng chí Nguyễn Phú Trọng gọi là "Bệnh sợ trách nhiệm" và cho rằng đây là một khuyết điểm thuộc về ý thức tư tưởng, phẩm chất cách mạng của cán bộ, đảng viên.

Đồng chí nhấn mạnh, tinh thần trách nhiệm là một yêu cầu thuộc về tiêu chuẩn của người cán bộ; mỗi cán bộ đều được Đảng và Nhà nước giao cho một nhiệm vụ, công tác nhất định; lòng trung thành với Đảng, với nhân dân, phẩm chất, năng lực của cán bộ thể hiện trước hết và chủ yếu ở tinh thần phấn đấu không mệt mỏi, quyết vượt mọi khó khăn, trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng đem hết sức lực và tài năng để hoàn thành thật tốt nhiệm vụ được giao.

Từ sự phân tích, đánh giá thực trạng tình hình, yêu cầu nhiệm vụ lúc bấy giờ, đồng chí Nguyễn Phú Trọng khẳng định "Người nào sợ trách nhiệm không phải là người lãnh đạo".

Hiện nay, đất nước ta bên cạnh những thuận lợi là cơ bản cũng đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, nhất là trước tác động kép từ ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 và những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường của tình hình kinh tế, chính trị, an ninh thế giới, khu vực. Trong điều kiện đó, Đảng ta đặt ra yêu cầu "thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước"(1). Điều này đồng nghĩa với cán bộ, đảng viên phải "dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung"(2).

Nhưng trên thực tế lại có một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý làm việc cầm chừng, đùn đẩy, né tránh, sợ sai không dám làm, gây bức xúc trong xã hội, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế-xã hội và giải quyết công việc của người dân, doanh nghiệp. Tình trạng này diễn ra ở nhiều lĩnh vực, có cả ở các cơ quan Trung ương lẫn địa phương, tập trung ở 3 nhóm cán bộ, công chức, viên chức: (1) Nhóm vốn đã trót "nhúng chàm", có khuyết điểm, sai phạm; (2) Nhóm thực thi công vụ nhưng không nhận được bổng lộc, quà biếu; (3) Nhóm nhận thức chưa đúng, chưa đầy đủ về pháp luật, năng lực, trình độ, bản lĩnh còn hạn chế.

Biểu hiện cụ thể của tình trạng sợ trách nhiệm trong cán bộ, đảng viên, công chức hiện nay có nhiều điểm giống với những biểu hiện mà đồng chí Nguyễn Phú Trọng đã chỉ ra cách đây 50 năm, rõ nhất là trên lĩnh vực đầu tư công, quản lý đất đai, mua sắm trang thiết bị khu vực công, thực hiện thủ tục hành chính, cung ứng các dịch vụ công trực tiếp liên quan đến người dân và doanh nghiệp…

Biểu hiện cụ thể của tình trạng sợ trách nhiệm trong cán bộ, đảng viên, công chức hiện nay có nhiều điểm giống với những biểu hiện mà đồng chí Nguyễn Phú Trọng đã chỉ ra cách đây 50 năm, rõ nhất là trên lĩnh vực đầu tư công, quản lý đất đai, mua sắm trang thiết bị khu vực công, thực hiện thủ tục hành chính, cung ứng các dịch vụ công trực tiếp liên quan đến người dân và doanh nghiệp…

Nguyên nhân thì có nhiều, như cơ chế, chính sách, pháp luật còn có những quy định chồng chéo, mâu thuẫn, không phù hợp với thực tế, nên cán bộ, công chức không dám "vượt rào" hoặc nếu áp dụng quy định này thì lại không đúng với quy định ở các văn bản khác; công tác cán bộ ở một số nơi còn bất cập, nhất là chưa lựa chọn đúng người để bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý; việc đánh giá cán bộ còn hình thức, chế tài xử lý đối với cán bộ sợ trách nhiệm chưa đủ mạnh.

Bên cạnh đó, nhiều vấn đề mới nảy sinh, chưa có tiền lệ, chưa được quy định, chưa có kinh nghiệm, dễ gây rủi ro, sai sót, thiệt hại trong quá trình triển khai thực hiện, khiến cho cán bộ e ngại, sợ bị xem xét trách nhiệm...

Tuy nhiên, nguồn gốc sâu xa, nguyên nhân chính của bệnh sợ trách nhiệm ở cả thời điểm 50 năm trước và hiện nay được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ ra chủ yếu là do "chủ nghĩa cá nhân"; tinh thần, trách nhiệm, ý thức phục vụ lợi ích chung, phục vụ nhân dân của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức chưa cao.

Từ bài viết "Bệnh sợ trách nhiệm" cách đây tròn nửa thế kỷ và sự chỉ đạo quyết liệt trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng tiêu cực hiện nay của người đứng đầu Đảng ta khẳng định sự nhất quán giữa nói và làm, giữa tư tưởng và hành động của đồng chí Nguyễn Phú Trọng trong việc kiên quyết, kiên trì đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên.

Nguồn gốc sâu xa, nguyên nhân chính của bệnh sợ trách nhiệm ở cả thời điểm 50 năm trước và hiện nay được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ ra chủ yếu là do "chủ nghĩa cá nhân"; tinh thần, trách nhiệm, ý thức phục vụ lợi ích chung, phục vụ nhân dân của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức chưa cao.

Chính suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống là gốc rễ của những khuyết điểm, sai phạm, là nguyên nhân của mọi nguyên nhân nên phải quyết tâm phòng chống cho bằng được. Đồng chí Tổng Bí thư luôn trăn trở suy nghĩ về điều này và thường nói "chống suy thoái về tư tưởng chính trị chính là chống tham nhũng tiêu cực trước một bước".

Nếu như trước đây, với trách nhiệm là nhà báo - đảng viên, đồng chí Nguyễn Phú Trọng mạnh dạn phê phán "Người nào sợ trách nhiệm không phải là người lãnh đạo" thì nay, trên cương vị là người đứng đầu của Đảng, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã yêu cầu phải chấn chỉnh, khắc phục cho được tình trạng "sợ trách nhiệm": Ai không dám làm, không làm được thì đứng sang một bên để người khác làm.

Để chấn chỉnh, khắc phục tình trạng né tránh, đùn đẩy, sợ sai không dám làm trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, cùng với hoàn thiện thể chế, tăng cường kiểm tra, giám sát trách nhiệm thực thi công vụ, các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương cần quán triệt, triển khai thực hiện có hiệu quả Kết luận số 14-KL/TW, ngày 22/9/2021 của Bộ Chính trị và Nghị định số 73-NĐ/CP, ngày 29/9/2023 của Chính phủ về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Điều quan trọng, căn cơ, bền vững nhất là phải đấu tranh loại bỏ "chủ nghĩa cá nhân", bởi đây là nguyên nhân sâu xa của tham nhũng, tiêu cực nói chung và "bệnh sợ trách nhiệm" nói riêng, bởi "sợ trách nhiệm" là một khuyết điểm thuộc về ý thức tư tưởng, về phẩm chất cách mạng.

Đẩy mạnh giáo dục chính trị tư tưởng để cán bộ, công chức có bản lĩnh chính trị vững vàng, xác định rõ trách nhiệm "là công bộc của dân", phải thực thi công vụ theo đúng quy định của pháp luật, vì lợi ích chung, xóa bỏ nhận thức "không làm không sai". Đặc biệt là thực hiện các quy định về nêu gương, nhất là nêu gương của người lãnh đạo.

Đồng thời mỗi cán bộ, đảng viên nêu cao ý thức tự phê bình, tự giáo dục, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, tự học tập nâng cao năng lực, trình độ để "có trái tim sục sôi bầu nhiệt huyết cách mạng, sẵn sàng hành động vì nước vì dân; có cái đầu đầy bản lĩnh và trí tuệ để khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng; có đôi chân vững chắc và bàn tay sạch để đứng vững, đứng thẳng và khước từ mọi cám dỗ tầm thường, giữ danh dự của người cán bộ" như lời dặn của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong tác phẩm "Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh".

Bài "Bệnh sợ trách nhiệm" của đồng chí Nguyễn Phú Trọng viết cách đây đã 50 năm, nhưng tinh thần nội dung bài viết như đang viết cho hiện nay. Đó là giá trị lịch sử và ý nghĩa thực tiễn của bài viết. Do đó, cần nghiên cứu, vận dụng, quán triệt sâu sắc tinh thần nội dung bài viết của đồng chí Nguyễn Phú Trọng để chấn chỉnh, khắc phục có hiệu quả tình trạng né tránh, đùn đẩy, sợ sai không dám làm trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức hiện nay.

(1) Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQGST, H.2021, Tập 1, tr.110.

(2) Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQGST, H.2021, Tập 1, tr.187.

Nguồn: TS NGUYỄN THÁI HỌC - Phó Trưởng ban Nội chính Trung ương

CH-K

XUYÊN TẠC VỀ VIỆC LẤY PHIẾU TÍN NHIỆM

Hiện nay, các thế lực thù địch và những kẻ cơ hội chính trị đang xuyên tạc, làm sai lệch kết lấy phiếu tín nhiệm đối với 44 người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn tại Kì họp thứ 6, Quốc hội khoá XV. Trên các trang mạng xã hội, chúng đưa ra rất nhiều thông tin sai lệch, xuyên tạc việc lấy phiếu tín nhiệm. Chúng cho rằng là việc “lấy phiếu tín nhiệm hình thức”, “lấy phiếu tín nhiệm mà chỉ có ba loại phiếu là tín nhiệm cao, tín nhiệm và tín nhiệm thấp thì chẳng có ý nghĩa gì”, “tại sao không lấy phiếu tín nhiệm và bất tín nhiệm”…

Đây không phải là lần đầu các thế lực thù địch và những kẻ cơ hội chính trị xuyên tạc về việc lấy phiếu tín nhiệm tại Quốc hội và các cơ quan Đảng, Nhà nước.

Kể từ lần lấy phiếu tín nhiệm đầu tiên vào tháng 6-2013 đến nay, Quốc hội đã 3 lần tiến hành lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn. Trong đó, Quốc hội khóa XIII lấy phiếu tín nhiệm hai lần (tại Kỳ họp thứ 5 vào tháng 6-2013 và tại Kỳ họp thứ 8 vào tháng 11-2014). Quốc hội khóa XIV lấy phiếu tín nhiệm một lần tại Kỳ họp thứ 6 vào tháng 10-2018. Lần này là lần thứ tư Quốc hội tiến hành công việc quan trọng này.

So với 3 lần trước, ở lần lấy phiếu tín nhiệm tại Quốc hội này có nhiều đổi mới theo quy định tại Nghị quyết 96 (Quốc hội khóa XV). Kế hoạch lấy phiếu tín nhiệm được thông báo đến đại biểu từ nhiều tháng trước. Ngoài kê khai tài sản, người được lấy phiếu tín nhiệm phải tự đánh giá, nhận xét quá trình công tác của bản thân trong nửa nhiệm kỳ vừa qua. Những tài liệu này đều được gửi đến đại biểu Quốc hội nghiên cứu, là một trong những căn cứ để họ quyết định mức tín nhiệm.

Để đánh giá mức độ tín nhiệm, đại biểu Quốc hội sẽ dựa vào báo cáo toàn văn kết quả hoạt động cá nhân người được lấy phiếu; báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân liên quan đến người được lấy phiếu tín nhiệm do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổng hợp. Trong quá trình nghiên cứu các tài liệu này, nếu đại biểu Quốc hội thấy có vấn đề cần làm rõ liên quan đến người được lấy phiếu tín nhiệm thì có thể gửi văn bản đến Ủy ban Thường vụ Quốc hội để yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xác minh, trả lời, hoặc yêu cầu người được lấy phiếu tín nhiệm làm rõ những nội dung thuộc căn cứ đánh giá mức độ tín nhiệm. Ngoài ra, đại biểu có thể căn cứ vào tài liệu có được trong quá trình hoạt động như báo cáo, kết luận chất vấn; báo cáo công tác của các cơ quan mà người lấy phiếu tín nhiệm đứng đầu...

Nếu người được lấy phiếu có quá nửa đến dưới hai phần ba tổng số phiếu đánh giá “tín nhiệm thấp” thì có thể xin từ chức; trường hợp không xin từ chức thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội trình Quốc hội tiến hành bỏ phiếu tín nhiệm tại kỳ họp đó hoặc kỳ họp gần nhất. Phiếu tín nhiệm với hai mức là tín nhiệm và không tín nhiệm. Quy định này góp phần đảm bảo hiệu quả và nâng cao vai trò của việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm. Như vậy, việc lấy phiếu tín nhiệm không “hình thức”, chia thành ba loại phiếu là tín nhiệm cao, tín nhiệm và tín nhiệm thấp không phải là “không có ý nghĩa” như sự xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Việc bỏ phiếu kín lần này hoàn toàn không có dấu tích nào để biết ai là người đánh giá và ý kiến đánh giá của đại biểu cũng được bảo mật tuyệt đối. Điều này giúp loại bỏ tình trạng nể nang, không bày tỏ chính kiến, không làm tròn trách nhiệm của đại biểu. Quy trình kiểm phiếu bằng máy do Viện Khoa học Công nghệ quân sự (Bộ Quốc phòng) thực hiện bảo đảm độ chính xác tuyệt đối, bảo mật tốt, tốc độ nhanh.

Thực tế cho thấy, lá phiếu trách nhiệm của các đại biểu Quốc hội đã thể hiện tinh thần đại diện cho ý chí và nguyện vọng của cử tri đã bầu mình vào cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Bởi thế trong việc lấy phiếu tín nhiệm này không có chỗ cho cái tôi cá nhân ganh ghét, đố kỵ nhằm hạ uy tín người khác; cũng không có chỗ cho bè phái, cục bộ, lợi ích nhóm. Suy cho cùng, việc lấy phiếu tín nhiệm cán bộ đều hướng đến mục đích cao nhất: Vì lợi ích đất nước và nhân dân.

Việc lấy phiếu tín nhiệm không phải như các thế lực thù địch rêu rao là “làm hình thức”, “làm xong để đấy” mà theo quy định mới tại Nghị quyết 96, kết quả lấy phiếu tín nhiệm sẽ là cơ sở để đánh giá, quy hoạch, điều động, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử, miễn nhiệm và thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ. Căn cứ đánh giá mức độ tín nhiệm lần này cũng chặt chẽ hơn so với trước khi quy định tiêu chí đánh giá tín nhiệm còn xét đến sự gương mẫu, không chỉ của bản thân người được lấy phiếu tín nhiệm mà cả với vợ, chồng, con của họ trong việc chấp hành chính sách, pháp luật của Nhà nước. Căn cứ để lấy phiếu tín nhiệm không chỉ liên quan đến kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao, mà tính đến cả tính năng động, đổi mới, sáng tạo, quyết đoán, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao./.

PXC

“TĂNG LƯƠNG ĐỂ GIẢM THAM NHŨNG VẶT”

 Theo ĐBQH Nguyễn Tạo (Đoàn Lâm Đồng), những tiêu cực xã hội có nguyên nhân rất lớn là thu nhập không bảo đảm cho đời sống, dẫn đến những hành vi không chuẩn mực như tham nhũng vặt hay gây sách nhiễu.

Tham nhũng vặt do thu nhập không đảm bảo

Khi thực hiện cải cách tiền lương, khu vực công sẽ không tính lương theo hệ số nữa mà có bảng chức vụ, chức danh lãnh đạo trong hệ thống chính trị (bao gồm cả các đơn vị sự nghiệp công lập) từ Trung ương đến cấp xã; bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ đối với công chức, viên chức không giữ chức danh lãnh đạo và bảng lương đối với lực lượng vũ trang.

Đại biểu Nguyễn Tạo, Phó trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng cho rằng, cải cách tiền lương từ ngày 1/7/2024 là điều mong mỏi nhất đối với đội ngũ công chức, viên chức. Đại biểu đặc biệt lưu ý, từ kinh nghiệm trước đây có thể thấy, những tiêu cực xã hội có nguyên nhân rất lớn là thu nhập không bảo đảm cho đời sống, dẫn đến những hành vi không chuẩn mực như tham nhũng vặt hay gây sách nhiễu.

“Khi tiến hành xử lý kỷ luật đã phát hiện một nguyên nhân lớn và hết sức quan trong liên quan đến thu nhập. Một sinh viên ra trường, với 6-7 năm của ngành y hay hơn 4 năm với một cử nhân các ngành bình thường ra, nhưng lương chỉ 3 triệu - 3,5 triệu đồng. Lương như vậy thì làm sao để sống tại các đô thị lớn như Hà Nội, TP.HCM...”, đại biểu Nguyễn Tạo nói.

Theo đại biểu đoàn Lâm Đồng, cải cách tiền lương hướng tới lương, mức độ thưởng, mức độ phân công công việc đảm bảo công bằng. Từ đó, tạo ra sự công bằng trong thu nhập của những lao động cùng nhóm. Điều này sẽ là một luồng chính sách tạo dựng sự an tâm rất lớn cho các cán bộ, công chức hiện nay. Đồng thời, các bộ máy Nhà nước sẽ tính đến việc tinh giản biên chế sao cho gọn nhẹ và phát huy từng cá nhân một. Từ đó, bảo đảm vị trí việc làm, đúng người đúng việc, đúng hưởng thụ.

Chính phủ đã có nguồn lực chuẩn bị cho cải cách tiền lương, khoảng 500.000 tỷ đồng, cho lộ trình từ nay đến năm 2030. Ngoài cải cách, điều này tạo ra một sân chơi rất công bằng để thu hút lực lượng lao động có trí tuệ.

Đề cập phụ cấp đặc thù, đại biểu Nguyễn Tạo nêu cụ thể, công chức, viên chức sẽ có 70% lương cứng, còn lại là 20% của chuyên trách chuyên ngành và 10% là khen thưởng.

“Chúng ta có ngành đặc thù và có phụ cấp. Ví dụ, chính tôi có phụ cấp của người làm nghị sĩ chuyên trách. Với những ngành đặc thù khác như bác sĩ y học hạt nhân, thì hàng ngày tiếp xúc như vậy phải có phụ cấp tương xứng với công việc. Hay những công việc phải thực hiện trong điều kiện khắc nghiệt thì những người đó phải có chế độ tương quan, phụ cấp độc hại... chứ không thể cào bằng phụ cấp. Như vậy mới có thể đảm bảo công bằng”, ông Nguyễn Tạo nói.

Trao đổi thêm bên hàng lang Quốc hội, đại biểu Phạm Trọng Nghĩa (Đoàn ĐBQH tỉnh Lạng Sơn) cho rằng, với mức lương tối thiểu vùng hiện nay vẫn chưa thể đáp ứng được điều kiện khó khăn trong đời sống của người lao động khu vực tư so với phần trượt giá hiện nay.

“Vì vậy, tôi rất mong muốn Hội đồng tiền lương quốc gia sớm thương lượng trình Chính phủ tăng mức lương tối thiểu vùng cho người lao động, tốt nhất là thực hiện đồng thời với cải cách tiền lương ở khu vực công vào ngày 1/7/2024”, ông Nghĩa đề nghị.

Đại biểu Phạm Trọng Nghĩa cũng cho rằng, lương của người lao động ở khu vực tư hiện nay không áp dụng hệ số, tổng thu nhập của họ cũng không phải là cao trong khi chi phí cuộc sống của họ bị tác động từ yếu tố lạm phát thời gian qua. Hơn nữa, khoảng thời gian từ lúc tăng lương tối thiểu vùng (2022) đến 1/7/2024 là khá dài. Trong khi trước đây lương tối thiểu vùng tăng đều hàng năm, chỉ trừ thời gian bị COVID-19.

Về giờ làm, ông Nghĩa cho hay, trong khu vực công từ năm 1999, Việt Nam đã cắt giờ làm nghỉ ngày thứ 7 còn 40 giờ, còn khu vực tư vẫn giữ nguyên 48 giờ. Theo thống kê của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), trong 154 nước chỉ có 2 nước có số giờ làm việc trên 48 giờ một tuần; 1/3 nước áp dụng số giờ làm 48 giờ/tuần như Việt Nam; và 2/3 nước áp dụng dưới 48 giờ.

Nhận diện thủ đoạn xuyên tạc của các thế lực phản động, thù địch

     Mới đây, trên trang “Baotiengdan. com”, bút danh Nguyễn Thông đăng bài “Ngoại giao cây tre”. Trong bài viết, Nguyễn Thông đã nói nhiều đến cây tre Việt Nam, song với suy luận “gãy khúc”, “đứt đoạn”, lồng ghép mưu đồ đen tối, Y cho rằng: “ngoại giao cây tre, thứ sản phẩm ngang ngược của nhà cầm quyền… Ngoại giao cây tre chỉ lừa được kẻ dại khờ hoặc bị kẻ tham lam lợi dụng, chứ không qua mặt được người tử tế”. Thực chất, đây là một luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ và chống phá đường lối ngoại giao của Việt Nam. Bởi:

Thứ nhất, trong lịch sử và văn hóa Việt Nam, cây tre là hình tượng đặc trưng, luôn gắn bó với dân tộc Việt Nam, mang trong mình cốt cách riêng của nền văn hóa, con người Việt Nam, kiên cường mà mềm dẻo, bản lĩnh mà linh hoạt, dung dị mà sáng tạo. Hình tượng, cốt cách cây tre rất gần gũi với nền ngoại giao Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Đó là nền ngoại giao độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa và hội nhập quốc tế, kiên trì về nguyên tắc, nhưng linh hoạt về sách lược, thủy chung, chính nghĩa, vì hòa bình, hợp tác và tiến bộ của nhân loại.

Bản sắc của ngoại giao Việt Nam là một phần của bản sắc dân tộc Việt Nam. Nền tảng cốt lõi của bản sắc ngoại giao Việt Nam hiện đại là tư tưởng, phương pháp, phong cách, nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh. Bản sắc đó được nâng lên tầm cao mới bởi tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, với những bài học “dĩ bất biến ứng vạn biến”, “ngũ tri”, biết nhu, biết cương, giúp bạn là tự giúp mình, vì hòa bình, hợp tác và sự tiến bộ của nhân loại. Đặc trưng quan trọng của bản sắc ngoại giao Việt Nam là không ngừng kế thừa và phát triển, sàng lọc qua thực tiễn và chắt lọc, tiếp thu những giá trị tinh hoa văn hóa nhân loại. Như vậy, hình tượng cây tre đã gắn với bản sắc văn hóa Việt Nam, gắn với ngoại giao Việt Nam một cách nhuần nhị, thấm đượm triết lý dựng nước và giữ nước, đối nhân xử thế và quan hệ bang giao của dân tộc Việt Nam.

Thứ hai, đường lối ngoại giao của Việt Nam ngày càng khẳng định tính đúng đắn, sự phù hợp và những giá trị lý luận, thực tiễn sâu sắc. Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc luôn luôn là nguyên tắc bất biến, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt. Trong các cuộc chiến đấu ngoan cường bảo vệ giang sơn, độc lập, chủ quyền của đất nước, ông cha ta đã luôn chú trọng hoạt động đối ngoại, tạo dựng nên những truyền thống và bản sắc riêng, rất độc đáo của nền ngoại giao. Phát huy truyền thống ngoại giao của ông cha ta, tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, chúng ta đã xây dựng nên nền ngoại giao đặc sắc và độc đáo, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”, thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam. Phát biểu tại Hội nghị đối ngoại toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ ra: Cây tre Việt Nam, cũng như ngoại giao Việt Nam là sự kết hợp hài hòa giữa gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển. Có thể thấy được ở tre Việt Nam những nội hàm ấy. Điều đó được thể hiện từ trong bản sắc đến đường lối, chính sách và phong cách của nền ngoại giao Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”, gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển, thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam.

Trong gần 40 năm thực hiện đường lối đổi mới của đất nước, ngoại giao của Việt Nam đã làm tốt nhiệm vụ bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần quan trọng giữ vững hòa bình, ổn định tạo thuận lợi cho công cuộc đổi mới thành công và ngày càng phát triển; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Hiện nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao chính thức với 193 quốc gia; quan hệ đối tác chiến lược toàn diện và đối tác chiến lược với tất cả các nước Thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc và các nước G20. Đảng Cộng sản Việt Nam đã đã thiết lập quan hệ với 247 chính đảng ở 111 quốc gia. Quốc hội Việt Nam có quan hệ với quốc hội, nghị viện của hơn 140 nước. Việt Nam được tín nhiệm bầu vào các cơ quan quan trọng của Liên hợp quốc như: Hội đồng nhân quyền nhiệm kỳ 2014 – 2016, 2023 – 2025; Hội đồng Kinh tế – Xã hội của Liên hợp quốc (ECOSOC) nhiệm kỳ 2016 – 2018 .v.v. Điều đó, khẳng định tính đúng đắn, cách mạng, khoa học, phù hợp với xu thế thời đại về đường lối ngoại giao của Việt Nam.

Như vậy, những luận điệu xuyên tạc của Nguyễn Thông là một mưu đồ đen tối, nhằm chống phá đường lối đối ngoại và ngoại giao của Đảng, Nhà nước ta, cần được nhận diện và đấu tranh bác bỏ./.

NTV

MẠNG XÃ HỘI CUỘC “CÁCH MẠNG MÀU” TRONG THỜI ĐẠI CÔNG NGHỆ 4.0

Theo nghiên cứu của một tờ báo của Nhật Bản thì Việt Nam nằm trong số 10 quốc gia có tỷ lệ người dùng internet cao nhất châu Á. Từ năm 2010 đến nay, Việt Nam liên tục đứng trong nhóm 20 quốc gia có số người sử dụng Internet lớn nhất thế giới. Đây là thông tin vừa đáng mừng, vừa đáng lo; mừng vì chúng ta đang phát triển và hội nhập, chúng ta có điều kiện để giao lưu, học hỏi và nắm bắt được nhiều thông thin qua internet; lo vì đây là mảnh đất hết sức màu mỡ và béo bở để các thế lực thù địch tập trung khai thác và tạo dựng địa bàn hoạt động nhằm chống phá và tiêm nhiễm những thông tin xấu độc, sai bản chất đến người dân mà trọng tâm là thế hệ trẻ..

          Thời gian qua, trên các trang mạng xã hội do các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị, bất mãn điều hành đưa ra hàng loạt bài viết sai trái, tiêu cực với nội dung liên hệ tình hình bất ổn ở một số nước trên thế giới và khu vực, mà gần đây nhất là vấn đề bất ổn tại Hồng Kông và Myanmar, Thái Lan hay biểu tình ở Mỹ…các vấn đề diễn ra trong nước liên quan đến tham ô, tham nhũng của một bộ phận nhỏ cán bộ, đảng viên;….chúng ra sức kích động, cổ suý, hô hào tiến hành các hoạt động chống phá hòng gây mất ổn định chính trị, an ninh, trật tự an toàn xã hội trong nước, hiện thực hóa mưu đồ tiến hành bạo loạn lật đổ theo hướng “cách mạng online”, “cách mạng màu”. Đây là một âm mưu hết sức thân độc và xảo trá của lũ kền kền và những tên “mõ làng dân chủ” này.

          Qua vấn đề này ta thấy, mỗi người dân cần nhận định và tiếp thu thông tin một cách có chọn lọc và cần có chính kiến đúng đắn về các vấn đề liên qua đến chính trị - xã hội của quốc tế, khu vực và trong nước để có cái nhìn khách quan và toàn diện nhất, tránh tiếp cận thông tin không đầy đủ, phiếm diện một chiều để dẫn đến những nhận định và phát ngôn sai với những gì Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta đang hướng tới.

          Bởi ta thấy được, những thành tựu phát triển về mọi mặt của Việt Nam là minh chứng tiêu biểu, rõ ràng nhất cho thấy sự nghiệp cách mạng của nước ta đang đi đúng hướng. Đặc biệt, môi trường hòa bình, ổn định, tình hình an ninh, chính trị được giữ vững là nền tảng, cơ sở quan trọng, tiên quyết để thúc đẩy phát triển, đảm bảo tự do, dân chủ, nhân quyền. Do đó, việc “mượn gió bẻ măng”, lợi dụng tình hình bất ổn tại một số quốc gia, vùng, lãnh thổ trong khu vực và trên thế giới, những điểm đen trong nước để rêu rao, lan truyền các luận điệu kích động biểu tình, bạo loạn là hoàn toàn sai trái, cần nhận diện để đấu tranh.

          Nhân dân Việt Nam đã và đang được sống trong một đất nước tự do, trong đó, những quyền cơ bản của con người được tôn trọng và bảo vệ theo Hiến pháp và pháp luật. Cho nên mọi sự xuyên tạc từ các tổ chức hay các thế lực từ bên ngoài không làm thay đổi được tình hình ở Việt Nam, bởi chỉ có người dân sống trên Tổ quốc này mới cảm nhận rõ những gì tốt đẹp mà họ đang thụ hưởng.                                                                      

TBT

GIỮ VỮNG, TĂNG CƯỜNG VÀ PHÁT HUY TÍNH ĐẢNG

 

Trong sáng lập, rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở đảng viên của Đảng phải luôn gắn chặt với Đảng, với giai cấp, với nhân dân. Người nêu rõ: Đảng viên là người thay mặt Đảng, đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam; do vậy mà lợi ích của người đảng viên luôn luôn gắn liền, ở bên trong lợi ích của Đảng, của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động. Từ đó, Người khẳng định nếu rời khỏi Đảng, rời khỏi giai cấp, rời khỏi nhân dân lao động thì “cá nhân dù tài giỏi mấy, cũng nhất định không làm nên việc gì”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ: “Bất kỳ bao giờ, bất kỳ việc gì, đều phải tính đến lợi ích chung của Đảng, phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, trước hết, việc của cá nhân và lợi ích của cá nhân phải để lại sau. Đó là nguyên tắc tối cao của Đảng. Mỗi một đảng viên phải ghi chắc điều đó. Chúng ta gọi nó là tính Đảng”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tính Đảng thể hiện rõ ở ba nội dung sau: “Một là: Phải đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc lên trên hết. Hai là: Việc gì cũng phải điều tra rõ ràng, cẩn thận và làm đến nơi đến chốn. Phải hiểu rằng: Đảng có hiểu rõ tình hình thì đặt chính sách mới đúng. Mà muốn hiểu rõ thì đảng viên và cán bộ phải điều tra và báo cáo rõ ràng tình hình từng xã, từng huyện, từng tỉnh, từng khu. Nếu không biết rõ tình hình mà đặt chính sách thì kết quả là “nồi vuông úp vung tròn” không ăn khớp gì hết. Ba là: Lý luận và thực hành phải luôn đi đôi với nhau”.

Để giữ vững, tăng cường, phát huy tốt tính Đảng, Hồ Chí Minh chỉ rõ vai trò quyết định, tiên phong, tự giác rèn luyện phấn đấu, làm gương cho quần chúng noi theo. Người xác định nhiệm vụ: “Tất cả cán bộ, đảng viên của Đảng phải vì Đảng, vì dân mà hăng hái phấn đấu. Phải chịu khó học tập chính trị, kinh tế, khoa học, kỹ thuật để nâng cao năng lực, làm cho kinh tế phát triển, chiến đấu thắng lợi, đời sống nhân dân ngày càng no ấm, tươi vui”. Người chỉ rõ: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “Cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”. Trong đó, Hồ Chí Minh nhấn mạnh việc đảng viên phải chấp hành nghiêm kỷ luật của Đảng, chính quyền, đoàn thể. Ngày 11-2-1951, Người phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng: “Mỗi đảng viên cần phải làm kiểu mẫu phục tùng kỷ luật, chẳng những kỷ luật của Đảng, mà cả kỷ luật của các đoàn thể nhân dân và của cơ quan chính quyền cách mạng”.

Cùng với tự giác, nỗ lực của đảng viên, Hồ Chí Minh chỉ rõ vai trò hết sức quan trọng của tổ chức Đảng trong việc lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn đảng viên rèn luyện phấn đấu. Tháng 2-1969, trong tác phẩm nổi tiếng “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, Người viết: “Đảng ta phải ra sức tăng cường giáo dục toàn Đảng về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối, chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên”. Người rất chú trọng nhắc nhở các tổ chức đảng phải duy trì thực hiện nghiêm túc một nguyên tắc cơ bản của Đảng: “Phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng”. Người đặc biệt yêu cầu tổ chức Đảng: “Chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc. Kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh. Công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ”.

Hồ Chí Minh còn xác định rõ Đảng và đảng viên của Đảng phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên. Với quan điểm: Xây Đảng là công việc của Đảng và của đảng viên, mà cũng là của toàn dân, Người yêu cầu Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên cần: “Tin vào dân chúng. Đưa mọi vấn đề để cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết. Chúng ta có khuyết điểm, thì thật thà thừa nhận trước mặt dân chúng. Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa. Dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta”. Người chỉ ra phương pháp cụ thể: “Chúng ta tuyệt đối không nên theo đuôi quần chúng. Nhưng phải khéo tập trung ý kiến của quần chúng, hóa nó thành cái đường lối để lãnh đạo quần chúng. Phải đem cách nhân dân so sánh, xem xét, giải quyết các vấn đề, mà hóa nó thành cách chỉ đạo nhân dân”.

Hơn 93 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng đã thấm nhuần, thực hiện nghiêm túc tư tưởng, lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, luôn giữ vững, tăng cường, phát huy tính Đảng, thiết thực góp phần lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong thời kỳ đổi mới cũng như trước yêu cầu cấp thiết của Đảng, Nhà nước, nhân dân, tính Đảng đã và đang tiếp tục được thực hiện với ý chí quyết tâm cao, những chủ trương, giải pháp tích cực, phù hợp đem lại kết quả thiết thực. Có thể nêu ra rất nhiều ví dụ cụ thể đã và đang được triển khai thực hiện trên thực tế, như: Nghị quyết số 04-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII đã thẳng thắn chỉ ra những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, trong đó có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, quy định tại Điều 4, như sau: “Không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác; né tránh trách nhiệm, thiếu trách nhiệm, trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân; không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao”. Và một trong nhiều giải pháp khắc phục biểu hiện trên đã được Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII đề ra: “Có chính sách khuyến khích và cơ chế phù hợp bảo vệ những cán bộ, đảng viên có ý chí chiến đấu cao, gương mẫu thực hiện nguyên tắc của Đảng và pháp luật của Nhà nước, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung”.

Hiện nay, một mục tiêu, giải pháp xây dựng, tăng cường, phát huy tính Đảng mà Nghị quyết Trung ương Năm khóa XIII đã đề ra, đang được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ra sức phấn đấu thực hiện: “Xây dựng mối quan hệ mật thiết giữa tổ chức cơ sở đảng, đảng viên với nhân dân; lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng, cán bộ, đảng viên”./.

NXT