Chủ Nhật, 5 tháng 11, 2017

Cảnh giác với luận điệu xuyên tạc về vụ việc Trịnh Xuân Thanh ra đầu thú

HrosH. Psyk11 
Như chúng ta đã biết, ngày 31/7/2017, Bộ Công an đã thông tin Trịnh Xuân Thanh, nguyên phó chủ tịch tỉnh Hậu Giang đã ra đầu thú sau gần 10 tháng lẩn trốn. Ngay lập tức có nhiều luồng thông tin trái chiều thu hút sự quan tâm của dư luận, nhất là sau khi Bộ Ngoại giao Đức đưa ra tuyên bố cáo buộc Việt Nam “bắt cóc” người trên lãnh thổ Đức.
Mặc dù các cơ quan chức năng đã cung cấp các thông tin công khai liên quan nhưng các trang mạng lề trái và các công ty truyền thông lá cải nước ngoài vẫn tìm cách tung ra những luồng thông tin nhằm gây ra những hướng dư luận đa chiều. Khi xem xét các thông tin một cách toàn diện, chúng ta phải khẳng định rằng việc Trịnh Xuân Thanh đã có mặt tại Việt Nam và ra tự thú là một sự thật, thông tin này được thông báo công khai trên trang thông tin điện tử của Bộ Công an; còn thông tin Trịnh Xuân Thanh được cho là bị An ninh Việt Nam “bắt cóc”là không có cơ sở.
Liên quan đến cáo buộc “bắt cóc” Trịnh Xuân Thanh tại Đức xuất hiện nhiều thông tin không có cơ sở và hết sức mâu thuẫn nhau của cả phía Bộ Ngoại giao Đức lẫn các trang mạng và truyền thông lá cải: Phía thì cho rằng Trịnh Xuân Thanh bị bắt cóc khi đang ngồi chơi với một số người bạn tại một công viên ở Berlin, phía thì cho rằng Trịnh Xuân Thanh bị “mật vụ bắt cóc” trước một khách sạn rồi áp tải lên xe. Thậm chí có thông tin còn dựng lên chuyện Việt Nam đã thuê phía nước ngoài “bắt cóc” rồi đang sang nước khác và áp tải về Việt Nam.
Thực tế rằng, cho đến nay Bộ Ngoại giao Đức cũng chỉ đưa ra “cáo buộc” dựa trên những thông tin trên các trang truyền thông, mà chưa đưa ra được bất kỳ bằng chằng chứng cụ thể nào. Phía Đức luôn tự cho rằng đã tăng cường kiểm soát chặt chẽ an ninh sau các vụ khủng bố tại Berlin trước đó, nhưng hoàn toàn không đưa ra được một minh chứng cụ thể cho “cáo buộc” với phía nhà nước Việt Nam. Chính Đức đã lúng túng sau những quyết định vội vàng và thiếu cơ sở, thiếu chứng cứ, thậm chí là bị “dắt mũi” bởi báo chí không chính thống.
Hơn thế nữa, ngày 03/8/2017 người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng nói: “Liên quan đến phát biểu của Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Đức xung quanh vụ việc Trịnh Xuân Thanh, tôi lấy làm tiếc về phát biểu của Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Đức ngày 2/8″. Hơn thế nữa, Đài Truyền hình Việt Nam cũng đã dẫn đơn xin tự thú của ông Thanh, trong đó có đoạn: “Tôi thấy lo sợ trước kết luận về vi phạm của tôi và phải chịu trách nhiệm là người đứng đầu trong thua lỗ của PVC. Do lo sợ, suy nghĩ không hết, tôi đã quyết định trốn tại Đức. Trong thời gian này cuộc sống trốn tránh, bấp bênh luôn lo sợ. Được sự động viên của gia đình, bạn bè, tôi đã về Việt Nam và ra đầu thú tại Cơ quan An ninh điều tra để được hưởng sự khoan hồng của Đảng, Nhà nước và pháp luật”.
Ngoài ra, trong đoạn phỏng vấn với Trịnh Xuân Thanh, chính y đã nói:“Trong quá trình trốn chạy mình cứ nghĩ về việc mình làm, thời điểm đó rất nông nổi, suy nghĩ không chín chắn, quyết định đi trốn. Trong quá trình như thế, mình thấy rằng mình cần phải về để đối diện với sự thật.Cái thứ hai nữa là mình về mình ngẫm lại, nhận thức được, báo cáo nhận khuyết điểm, xin lỗi.Gia đình đã động viên mình xin tự thú tại công an.”
Như vậy, những thông tin cáo buộc an ninh Việt Nam bắt cóc Trịnh Xuân Thanh là không có cơ sở. Chính vì vậy, mỗi chúng ta cần phải cảnh giác với những thông tin trái chiều, và không nên bị chi phối bởi những thông tin thêu dệt, xuyên tạc liên quan đến Trịnh Xuân Thanh trên các trang mạng và truyền thông không chính thống. Các thông tin sai lệch đó là do các thế lực thù địch đang âm mưu chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam. Chúng muốn lợi dụng vụ việc Trinh Xuân Thanh ra đầu thú để thêu dệt, bóp méo sự thật, dùng làn sóng truyền thông để hô biến Trịnh Xuân Thanh từ một tên tội phạm kinh tế trở thành một người tỵ nạn chính trị. Khi đã có vé tỵ nạn, nghiễm nhiên những gì Trịnh Xuân Thanh phát ngôn sẽ là kịch bản đã được dựng sẵn của chúng. Điểm tiếp theo nếu vở kịch thành công sẽ là nhiều thông tin từ nội bộ lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam phát ra từ Trịnh Xuân Thanh được xuyên tạc, bôi nhọ, đánh vào uy tín của Đảng và Nhà nước Việt Nam, gây sự hoài nghi trong dư luận. Điều này không quá khó khăn với các tập đoàn truyền thông vốn nổi tiếng dắt mũi dư luận như BBC, VOA,vv… luôn chịu sự chỉ đạo của các thế lực chính trị phương Tây.
Thiết nghĩ, tại sao chúng ta không nhận ra một điều rằng, Trịnh Xuân Thanh là một người vi phạm pháp luật, việc y bị pháp luật Việt Nam trừng trị là một điều hoàn toàn đúng đắn, và điều chúng ta cần quan tâm là pháp luật Việt Nam sẽ xử lý như thế nào? Đó mới là cái mọi người nên cần quan tâm lúc này, bởi lẽ việc thượng tôn pháp luật Nhà nước Việt Nam phải được đặt lên hàng đầu và là thứ chúng ta cần biết rõ hơn thay vì những thông tin chưa chính xác, đặc biệt những thông tin lại do truyền thông nước ngoài đưa ra./.
Ksor H (Tổng hợp từ Internet)

Đập tan chiến lược “ diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng

Long Sáng. Psy11
Hiện nay các thế lực thù địch, tổ chức phản động, lợi dụng các sự kiện lớn của dân tộc vẫn chiêu bài “ bình cũ, rựu mới”, đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình ” trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội đối với nước ta. Trong đó, chúng xác định lĩnh vực chính trị, tư tưởng có tầm quan trọng hàng đầu, mũi đột phá “cái cầu để dẫn vào trận địa”, rằng “một đô la chi cho tuyên truyền có tác dụng ngang với 5 đôla chi cho quốc phòng”.
Với các thủ đoạn chủ yếu thường dùng đó là: Lợi dụng các phương tiện thông tin hiện đại, mạng Iternet; khoảng 600 tờ báo tạp chí… tiến hành tán phát tài liệu có nội dung tuyên truyền xuyên tạc bản chất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta; đồng thời, “vinh danh những đóng góp” của các quân nhân thuộc “Quân lực Việt Nam Cộng hòa”. Vu cáo Việt Nam “ bắt giữ tùy tiện và xử phạt vô căn cứ”; đối với “tù nhân lương tâm”, yêu cầu Việt Nam tôn trọng “nhân quyền” và trả tự do cho các đối tượng đang bị giam giữ tại Việt Nam. Triệt để lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, các sự kiện chính trị, xã hội quan tâm để xuyên tạc, gây ra “điểm nóng”, chống phá Đảng, Nhà nước ta;… từ đó làm cho chúng ta tự diễn biến, tự chuyển hoá.
 Mục tiêu của chúng là xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, của nhân dân ta, xóa bỏ nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc để chuyển hóa đời sống tinh thần xã hội tiến tới đưa Việt Nam đi theo con đường tư bản chủ nghĩa.
Như vậy, “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực chính trị tư tưởng là thực sự nguy hiểm, chúng ta không thể xem thường, mà phải nâng cao cảnh giác và có những chủ trương biện pháp phòng chống có hiệu quả.
Trong điều kiện hiện nay, để cuộc đấu tranh chống “ diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực chính trị tư tưởng đạt hiệu quả cần tập trung thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau:
Một là, tăng cường tuyên truyền giáo dục chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm cho chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn luôn là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng của Đảng ta, là hệ tư tưởng chỉ đạo trong đời sống tinh thần của nhân dân ta.
Tiếp đến, là thường xuyên giáo dục, quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, nhất là đường lối đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa và hội nhập quốc tế; tranh thủ mọi thời cơ, thuận lợi để xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Sau nữa, chăm lo xây dựng hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa nước ta thực sự trong sạch, vững mạnh: Chăm lo xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị- tư tưởng, tổ chức, bảo đảm giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng trên mọi lĩnh vực của đời sống chính trị xã hội.
Cuối cùng, chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh, theo phương hướng cách mạng, chính quy tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Làm cho các lực lượng vũ trang nhân dân luôn hoàn thành tốt chức năng nhiệm vụ của mình.
Chống “diễn biến hoà bình”  của các thế lực thù địch trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng trong tình hình phức tạp hiện nay là nhiệm vụ quan trọng cấp bách hàng đầu đối với toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với vận mệnh dân tộc. Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, mỗi người đều là một chiến sĩ trên mặt trận đấu tranh đó. Mỗi người đều ý thức được trách nhiệm và nhiệm vụ của mình trên từng cương vị công tác, thì dù cuộc đấu tranh đó còn lâu dài, phức tạp
đến đâu. Chúng ta cũng sẽ đánh bại chiến lược “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta./.

BÀN VỀ SỰ TRUNG THÀNH CỦA LOÀI CHÓ

Nobita091275 (ST)
Trên htt://danlambaovn.blogspot.com/ (Người dưa tin, 30/10/2015) có đưa bài “Nhìn chó xứ người - Ngán ngẩm cộng sản xứ mình” của một kẻ tự hạ mình, ví mình như loài chó trung thành với chủ, anh ta viết: “chúng tôi muốn được sống - chết cách trung thành với Tổ quốc và quý trọng những người Việt Nam tử tế không cộng sản như loài chó trung thành với chủ” có lẽ chỉ có những kẻ hằn học vì chủ của anh ta thất thế, bại trận dẫn đến diệt vong nên cắn càn, cắn bậy mà thôi. Lẽ ra đối với những kẻ như vậy ta cũng không nên chấp, tuy nhiên lòng trung thành của anh ta cũng đáng thương, vì chủ của anh ta chết đến 40 năm rồi mà vẫn trung thành hồi tưởng, buồn thương như lòng trung của loài chó!. Hơn nữa, cũng cần chỉ cho anh ta thấy muốn thể hiện lòng trung, buồn thương cái thây ma đã chết từ lâu ấy thì tùy, nhưng đừng cũng đừng vô cớ quàng xiên bịa đặt đến điên dại như vậy thì cũng vô ích thôi chẳng ai thèm quan tâm vì không có một chút giá trị nào cả.
Sự trung thành của anh ta với chủ cũ cũng là đúng thôi, bởi chế độ Việt Nam Cộng hòa nuôi, dưỡng dạy bảo anh ta từ tấm bé. Bây giờ, chế độ ấy đã bị lịch sử oai hùng của dân tộc Việt Nam nghiền nát, chôn vùi trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc nên anh ta không còn chủ nữa nên buồn là phải, ít nhất cũng phải thể hiện lòng trung được như loài chó. Nhưng cũng phải nhắc lại, vì tác giả bài viết trên ví lòng trung của mình như loài chó nên bàn thêm như vậy thôi chứ chó là chó, mà người là người sao lại ví người như chó. Chó là động vật, sự trung thành là bản năng sinh tồn của chúng bởi chủ của chúng cho chúng ăn nên phải theo chủ thì mới có cái ăn. Chẳng thế mà trong rạp xiếc người ta dạy thú, khi thực hiện được một trò nào đó người dạy thú lại cho chúng một miến ăn, kể cả chó.
Sự trung thành của con người không thể như loài chó được, bởi ta là con người có lý trí, có tình cảm, nếu chỉ biết trung thành mà không hiểu vì sao thì chỉ là một thứ “ngu trung”. Là con người chí ít cũng nên biết chủ mình là ai, chính hay tà, vì sao mình lại theo chủ, trung thành theo chủ. Trên thế giới và trong lịch sử dân tộc ta đã có biết bao anh hùng, vĩ nhân để lại tiến thơm cho đời bởi họ biết    “bỏ con đường tối mà đi theo con đường sáng” bởi họ là con người biết đúng, biết sai, biết đặt lòng trung đúng chỗ.
Nhân đây, khi nói đến Hồ Chí Minh, tác giả bài viết có lẽ vì lòng tin mù quáng hay nhận thức có hạn nên mới viết như vậy, hoặc quá thù hằn mà tung tin bịa đặt xúc phạm đến lãnh tụ, đến niềm tin yêu của dân tộc Việt Nam. Ai cũng biết rằng, năm 1987, UNESSCO tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc đã ra Nghị quyết phong tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh danh hiệu kép: “Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá lớn”, đồng thời khẳng định: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là một biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”. Một người mà không chỉ những người Việt Nam chân chính, mà cả thế giới ngưỡng mộ, tôn vinh là “Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá lớn”, thì làm sao lại là người “đẩy cả dân tộc vào thảm họa” hay “ Di sản của Hồ là thứ chủ thuyết diệt chủng, đã làm băng hoại đạo lý con người, đã làm băng họai truyền thống đạo lý con người Việt Nam” như lời lẽ của tác giả bài viết trên. Đến đây hẳn đã rõ sự xuyên tạc, vu khống mà không cần phải bàn luận gì thêm nữa. Nên sự phản bội Tổ quốc, phản bội nhân dân là chính anh ta mới đúng.
Hãy xem anh ta viết rằng: “Hồ Chí Minh là chính phạm và Đảng Cộng sản là thủ phạm đã gây ra cuộc chiến tranh ý thức hệ, đẩy hàng triệu con em người miền Bắc vào “lò nướng thịt” Trường Sơn ...” Có thể nhận thấy sự thù hằn đã làm mờ mắt, sự bịa đặt đã quá lố bịch bởi đế quốc Mỹ đưa hàng chục nghìn binh lính, với bộ máy chiến tranh khổng lồ vào Miền Nam Việt Nam, trút hàng triệu tấn bom đạn lên đầu người dân Viết Nam để dạo chơi hay đi xâm lược? Ai là kẻ gây ra chiến tranh khi tuyên bố đưa Việt Nam “quay lại thời kỳ đồ đá” ?!. Cả dân tộc Việt Nam đứng lên chiến đấu chống xâm lược, giải phóng dân tộc thống nhất đất nước là phi nghĩa, là vô ích hay sao? Anh ta nói trung thành với Tổ quốc mà khi bị xâm lược, bị dày xéo lại khóc thương những kẻ theo chân bọn đế quốc xâm lược chống lại nhân dân, đàn áp dã man chính đồng bào mình, dân tộc mình!
Thật lố bịch khi ai đó mượn lòng trung của loài chó để biểu hiện lòng trung với Tổ quốc, nghe thì có vẻ lâm ly đáng thương, nhưng lòng trung của loài chó như anh ta nói thì chẳng giúp ích gì cho Tổ quốc cả, có chăng chỉ là cái cớ để dựng lên những luận điệu vu khống tẻ nhạt, vô căn cứ để chống lại Tổ quốc, chống lại nhân dân mà thôi./.

ĐỪNG PHỈ BÁNG VĂN HÓA, TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC

 Nobita091275 (ST)
Đọc bài viết của tác giả Trần Minh Thảo trong bài “Sinh tồn, phát triển hay tiêu vong” đăng trên www.anhbasam.wordpress.com, tôi thấy có mấy vấn đề cần trao đổi về cách nhìn nhận của ông.
Ông Trần Minh Thảo nhìn lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam thiếu khách quan và thiển cận. Cái cách ông viện dẫn lịch sử, đem những sự kiện, hiện tượng rời rạc, mang đậm dấu ấn cá nhân trong lịch sử để quy kết bản chất của cả một dân tộc, nguyền rủa cha ông, vất bỏ lòng tự tôn dân tộc đã thể hiện rõ điều đó. Ông nhận xét về Người Việt Nam là “tầm văn hóa, tầm vóc nhân cách của Người Việt qua các triều đại là gống nhau: tàn bạo với đối phương để sống còn (sinh tồn)”  và “ hiện nay vẫn đấu tranh sinh tồn (cướp bóc, tước đoạt, giết hại lẫn nhau mà ưu thế nghiêng về quyền và tiền)”. Ông ta xuyên tạc một cách trắng trợn bản chất các cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa trên thế giới như Nga, Trung Quốc, Cu Ba…và của nhân dân ta do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, cho rằng đó cũng chỉ là các cuộc khởi nghĩa nông dân “là tên gọi khác của khởi nghĩa nông dân” với mục đích là “ tước đoạt lại không gian sinh tồn mà ông cha đã bị tước mất rồi truyền lại cho con cháu”. Ông ta quy kết: “Hiện nay tuy có ý kiến nói Việt Nam phát triển rực rỡ nhưng thực chất vẫn là tiếp tục cuộc đấu tranh để tồn tại và xuống cấp thảm hại, không có dấu hiệu của sự phát triển bền vững, văn minh, có văn hóa”. Theo như lời của ông thì phát triển của Việt Nam vẫn như thời trung cổ! Thật là một điều phỉ báng và xuyên tạc bỉ ổi nhất mà ông đã dành để nói về Người Việt Nam và xã hội mà nhân dân Việt Nam đang xây dựng.  
Chúng ta đều biết rằng con người ta sống không chỉ có đấu tranh để sinh tồn, nếu chỉ để tồn tại thì không thể là cuộc sống của con người. Cái gọi “không gian sinh tồn” mà ông nói đến đâu phải của xã hội loài người mà đó là đặc trưng của thế giới loài vật, bởi con vật mới sống theo bản năng chỉ đấu tranh để sinh tồn, còn con người không chỉ sinh tồn mà còn có đời sống văn hóa, đời sống tinh thần, có lòng tự hào, tự tôn dân tộc. Ông Trần Minh Thảo viện dẫn lịch sử dân tộc mà mà không thấy được hồn phách dân tộc, không thấy được dân tộc ta dù nhỏ bé nhưng vẫn kiên cường vượt qua nghìn năm Bắc thuộc, tồn tại với tư cách là một dân tộc Việt Nam. Cái mà dân tộc Việt Nam gành và giữ được qua hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước đâu chỉ là “không gian sinh tồn”, ông nên biết rằng bên cạnh một “không gian sinh tồn” còn một yếu tố không thể thiếu mà người có cách nhìn thiển cận như ông không nhìn thấy được đó là “không gian văn hóa” cái tạo nên bản sắc và tâm hồn Việt Nam. Nếu chỉ tồn tại với tư cách là một “không gian sinh tồn” thì dân tộc Việt Nam đã tiêu vong từ lâu rồi đâu còn là một dân tộc ngày càng có vị thế trên trường quốc tế như ngày nay.
Ông không thể biết rằng biết bao người con đất Việt dù tha hương vẫn giành trong mình một biểu tượng về quê cha đất tổ dù rất giản dị, nhưng rất thân thương đó là “cây đa, giếng nước, sân đình”, là một con dân Việt Nam chân chính sẽ không có ai có thể cho rằng đó là những nơi tranh gành nhau chỉ để mà sống, mà tồn tại. Bản sắc văn hóa dân tộc ta đã được định hình trong lòng bạn bè quốc tế, đã có rất nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của Việt Nam được UNESCO công nhận. Biết bao du khách, bạn bè quốc tế đến Việt Nam bởi họ yêu mến bản sắc văn hóa con người Việt Nam, điều đó chắc không cần bàn cãi nữa.
Dưới con mắt của một kẻ lạc loài, Trần Minh Thảo tự sự sỉ nhục dân tộc Việt Nam không có văn minh, văn hóa. Ông tỏ lòng biết ơn thực dân Pháp và đế quốc Mỹ khi xâm lược, đô hộ nước ta, đã khai hóa văn minh cho dân tộc Việt Nam, ông ta cho rằng sự xâm lược, nô dịch dân tộc Việt Nam đã “hình thành trong xã hội Việt Nam một khuynh hướng tư tưởng khác với hoặc cao hơn khuynh hướng  đấu tranh sinh tồn: đấu tranh để phát triển”.  Thế mà ông ta còn “kêu oan” khi cho rằng mình bị gán cho cái nhãn phản động, chống phá cách mạng. Khi một kẻ chỉ biết bợ đỡ, hùa theo giọng lưỡi thực dân, đế quốc đi “khai hóa văn minh”, “biết ơn” kẻ có dã tâm xâm lược nô dịch, giết hại biết bao con em, đồng bào mình, biến dân tộc mình thành kẻ nô lê, phụ thuộc, thì cái mác Việt gian, phản động của ông còn oan nỗi gì?
 Một kẻ bán linh hồn cho quỷ dữ, không biết nguồn cội gốc rễ cha ông, quy kết con người Việt Nam sinh ra đã tàn bạo, để sống còn, thì ông Thảo thì có tư cách gì để bàn luận về sự phát triển của Việt Nam. Nếu ông có mang dòng máu  người Việt thì cũng đừng vì mục đích bôi nhọ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ xã hội mà nhân dân ta đang xây dựng mà cố tình xuyên tạc, xỉ nhục dân tộc mình như vậy thì không ai có thể nghe theo lời khuyên bảo của ông cả. Ông không đủ tư cách là một người Việt Nam mang dòng máu người Việt Nam để khuyên bảo người khác làm thế này hay thế khác, khi mà tâm hồn, lời nói và việc làm của ông đều đi ngược lại truyền thống, bản sắc và văn hóa con người Việt Nam./. 

Cảnh giác với chiêu trò mạo danh, chia rẽ nội bộ

ADMIN. PSY.11
Những năm gần đây, xuất hiện nhiều thủ đoạn tinh vi của các thế lực thù địch và đối tượng xấu sử dụng để chống phá Đảng, Nhà nước, quân đội, chia rẽ nội bộ và quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân. Trong đó, có cả những thủ đoạn “ném đá giấu tay” dù chỉ là thứ bóng tối nhanh chóng bị xua tan trước ánh sáng sự thật nhưng vẫn được chúng sử dụng nhiều lần.
Công phá vào chỗ dựa tin cậy của Đảng, Nhà nước, nhân dân
Hiện tượng này đã diễn ra nhiều lần, nhiều năm, dư luận xã hội đã quen thuộc đến mức ít bận tâm tới chúng nhưng chúng ta vẫn cần khái quát, nhận diện để đấu tranh và đẩy lùi thứ “vi rút độc” này ra khỏi đời sống xã hội.
Hiện nay, để thực hiện Chiến lược “Diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch tiến hành rất nhiều thủ đoạn chống phá. Một trong những mũi nhọn mà chúng tập trung công kích gần đây chính là chia rẽ quân đội và nhân dân. Sự gia tăng tần suất chống phá ấy vì Quân đội nhân dân luôn là lực lượng trung thành, tin cậy tuyệt đối, là chỗ dựa của chính quyền và nhân dân, đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định gần đây: Quân đội dù trong bất luận điều kiện, hoàn cảnh nào cũng luôn một lòng, một dạ trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với Đảng, với nhân dân, nêu cao ý chí quyết chiến, quyết thắng, xứng đáng với lòng yêu mến, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Tấn công, hạ thấp uy tín của quân đội chính là âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch nhằm chia rẽ quan hệ máu thịt quân đội và nhân dân, phá hoại sức mạnh, chỗ dựa của Đảng, Nhà nước và nhân dân, công phá vào “thành trì của niềm tin”.
Chiêu trò “nói dối vụ lớn”, ném đá giấu tay
Gơ-ben (Paul Joseph Gôbbels), Bộ trưởng Bộ Thông tin Quần chúng và Tuyên truyền của Đức Quốc xã, từng nêu một lý thuyết: “Một điều lừa dối bịa đặt khó tin nhất, nếu được nhắc đi nhắc lại trăm ngàn lần sẽ được mọi người tin là thật”. Trùm phát-xít Hít-le (Hitler) cũng từng phổ biến đòn hiểm độc mang tên “nói dối vụ lớn” vì “Đối với tâm hồn giản dị đơn sơ của quần chúng, nói dối vụ lớn rất có hiệu lực vì quần chúng thường chỉ dám nói dối những việc nhỏ bé. Nói dối càng lớn bao nhiêu càng khiến quần chúng dễ dàng tin bấy nhiêu”.
Những chiêu thức ấy đang được các thế lực thù địch sử dụng triệt để ngày hôm nay bằng các thủ đoạn xuyên tạc, bịa đặt những thông tin xấu về nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội. Chúng không từ một thủ đoạn gì, từ lợi dụng các vấn đề "dân chủ", "nhân quyền", dân tộc, tôn giáo và những yếu kém, sơ hở, mất cảnh giác của ta để xuyên tạc, bóp méo tình hình đến cấu kết với các phần tử cơ hội và bất mãn chính trị hoạt động ráo riết, chống phá cách mạng ngày càng tinh vi, nguy hiểm, thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ.
Chúng xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Chúng đưa thông tin sai lệch, xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước, gây bất lợi, phá hoại quan hệ giữa Việt Nam với các nước láng giềng Trung Quốc, Lào, Cam-pu-chia. Ngay cả những điều thiêng liêng nhất như lịch sử dân tộc, cội nguồn con Rồng cháu Tiên, lãnh tụ, từ các thế hệ lãnh đạo tiền bối đi trước cho đến các đồng chí lãnh đạo hiện nay cũng đều bị chúng xuyên tạc cũng là điều dễ hiểu. Điều này đã được Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII gần đây nhìn nhận, chỉ rõ thủ đoạn: “Lợi dụng và sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ nội bộ, nghi ngờ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân”. 
Khi mà dư luận xã hội đã quá quen thuộc và không còn để ý nhiều tới các loại thông tin “hậu trường chính trị”, lá cải bịa đặt, gần đây, chúng tìm cách câu kéo, đánh lừa xã hội bằng chiêu bài đê hèn hơn, mạo danh cán bộ có uy tín, nhất là một số tướng lĩnh đã nghỉ hưu và người nổi tiếng đứng đơn thư tố cáo bịa đặt, thỉnh nguyện theo kiểu “cáo mượn oai hùm”.
Thủ đoạn đê hèn này không chỉ tạo ra thông tin giả gây bất an trong xã hội mà còn ảnh hưởng, xúc phạm tới chính uy tín, danh dự của những cán bộ bị mạo danh. Các tướng lĩnh và cán bộ lão thành cách mạng với bề dày kinh nghiệm được tôi luyện qua chiến đấu, công tác, luôn là “cây cao bóng cả”, là niềm tin, là chỗ dựa cho thế hệ trẻ và toàn xã hội. Những đơn thư mạo danh đó có thể làm tổn hại cả thanh danh của những cán bộ, tướng lĩnh trung kiên, cả một đời hy sinh, cống hiến nay bị mang tiếng “đổi màu”, “trở cờ”, “tự diễn biến” trong mắt đồng chí, đồng đội và nhân dân. Với thủ đoạn đó, chúng đồng thời đạt được mục đích vừa tấn công vào những cán bộ lãnh đạo đương chức, vừa hạ thấp uy tín các vị lãnh đạo lão thành, nghỉ hưu; vừa gây nghi kỵ, mâu thuẫn trong nội bộ, giữa đội ngũ cán bộ đi trước và lớp trẻ, giữa cấp trên và cấp dưới...
Cảnh giác, “miễn dịch” và xử lý
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn, đại ý: Khi bạn khen thì mình vui nhưng khi kẻ địch khen thì mình phải cảnh giác. Lời dạy của Người đã toát lên phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong hành xử với các âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc của các thế lực thù địch. Ngay cả khi chúng khen ngợi còn phải cảnh giác thì trước những “mưu hèn kế bẩn” chống phá, chúng ta không chỉ cảnh giác mà còn phải có được “hệ miễn dịch”, và phải chủ động kiên quyết đấu tranh với chúng như trong đời thường giữa ruộng lúa có cỏ dại, lúa lên xanh thì cỏ dại bị đẩy lùi.
Cha ông ta có câu “Dù ai nói ngả nói nghiêng, lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân”. Thông tin xuyên tạc, bịa đặt dù nguy hiểm khôn lường nhưng trong thời đại bùng nổ thông tin, mỗi cán bộ, đảng viên, nhân dân và cán  bộ, chiến sĩ quân đội cần xây dựng cho mình tư tưởng vững vàng trước thông tin xấu độc, luôn kiên định, tin tưởng vào sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, quân đội. Kẻ địch coi đây là trận tuyến không khói súng, là cuộc chiến giành giật niềm tin thì chúng ta chỉ có thể chiến thắng bằng chính niềm tin không có gì lay chuyển được.
Lẽ dĩ nhiên, niềm tin ấy không tự nhiên có được mà phải được hun đúc bằng quá trình rèn luyện, trau dồi nhận thức, nhân sinh quan, thế giới quan, lý luận cách mạng và cả những trải nghiệm thực tiễn trong cuộc sống và công tác. Niềm tin cũng được khẳng định qua “lửa thử vàng, gian nan thử sức”, qua những biến động phức tạp của thời cuộc sẽ minh chứng rất rõ vì sao Quân đội nhân dân Việt Nam luôn giành được lòng yêu mến, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân? Niềm tin ấy sẽ được khẳng định bằng kết quả hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng Tổ quốc của Quân đội ta, bằng những hành động mưu lược và chiến lược, kế sách bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong bối cảnh đầy phức tạp và thách thức, bằng hình ảnh của chính những người cán bộ quân đội trong đời thường, trong cơ chế thị trường.
Trong mấy năm qua, toàn quân ta sôi nổi, quyết tâm thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”. Trong những giá trị phẩm chất của Bộ đội Cụ Hồ có sự bình tĩnh, sáng suốt trước những đòn chiến tranh tâm lý, tư tưởng của kẻ thù. Những xuyên tạc, bịa đặt, “nói dối vụ lớn” dù tinh vi đến đâu cũng không dễ dàng làm người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam hoang mang, dao động.
Hành xử với loại thông tin bịa đặt trên, rất cần chúng ta là những người tỉnh táo trên mọi xa lộ thông tin, không sa đà, mất thời gian vô bổ cho những chia sẻ, bình luận không cần thiết, thậm chí lợi bất cập hại. Nhưng khi cần, chúng ta sẽ lên tiếng đấu tranh, phản bác bằng những thông tin chính thống, công khai, minh bạch để ánh sáng sự thật đẩy lùi bóng tối thông tin lừa dối. Trong những người chia sẻ, tán phát thông tin xấu, phần nhiều là những người nhẹ dạ cả tin, thiếu thông tin mà nhận thức lệch lạc, chúng ta cần giúp họ nhận thức đúng, sửa sai trên tinh thần coi trọng giáo dục thuyết phục như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Ta phải biết làm cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng. Đối với những người có thói hư tật xấu, trừ hạng người phản lại Tổ quốc và nhân dân, ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho cái phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi phần ác, chứ không phải đạp cho tơi bời”...
Song đối với những kẻ cố tình tán phát thông tin với mục tiêu phá hoại Đảng, Nhà nước, quân đội, phá hoại an ninh quốc gia, rất cần phải xử lý nghiêm minh vì theo pháp luật hiện hành, nhiều hành vi tung tin sai sự thật đủ yếu tố cấu thành tội phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 122 Bộ luật Hình sự. Vừa qua, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Trương Minh Tuấn từng phát biểu, hành vi tung tin bịa đặt, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã được một số nước xếp ngang với những nguy cơ đe dọa an ninh lớn nhất cho đất nước. Chính phủ Anh xếp loại tội phạm này ngang hàng với tấn công khủng bố, tấn công bằng vũ khí hóa học. Bộ Thông tin và Truyền thông đã yêu cầu Google gỡ bỏ hơn 2.000 clip nói xấu, bôi nhọ lãnh đạo Đảng và Nhà nước trên YouTube và cho đến nay đã có hơn 1.000 clip đã bị xóa và đã xử phạt 10 trường hợp, tính từ đầu năm 2017. Đó là những chuyển biến rất tốt để làm trong sạch, lành mạnh môi trường thông tin trên internet. Nhưng trên thực tế hiện nay, trên internet vẫn còn rất nhiều trang, clip bịa đặt, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội mà chưa bị xử lý triệt để.
Các cơ quan pháp luật, dù đề cao giáo dục thuyết phục nhưng phải chủ động trong đấu tranh, phòng ngừa và đẩy lùi tội phạm trên mặt trận thông tin, tư tưởng, kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền, giáo dục với tiến hành biện pháp hành chính, xử lý theo pháp luật, kể cả pháp luật hình sự. Với những kẻ cố tình xuyên tạc, bôi xấu, xúc phạm danh dự của tập thể, cá nhân vì động cơ chính trị đen tối, ảnh hưởng tới an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, cần được xử lý một cách kiên quyết, triệt để, nghiêm minh.
         Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn, đại ý: Khi bạn khen thì mình vui nhưng khi kẻ địch khen thì mình phải cảnh giác. Lời dạy của Người đã toát lên phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong hành xử với các âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc của các thế lực thù địch. Ngay cả khi chúng khen ngợi còn phải cảnh giác thì trước những “mưu hèn kế bẩn” chống phá, chúng ta không chỉ cảnh giác mà còn phải có được “hệ miễn dịch” và phải chủ động kiên quyết đấu tranh với chúng như trong đời thường giữa ruộng lúa có cỏ dại, lúa lên xanh thì cỏ dại bị đẩy lùi.
ADMIN.PSY11
(ST: Nguồn Báo QĐND)

CHÍNH SÁCH “NGỤ BINH Ư NÔNG” VÀ VẤN ĐỀ KẾT HỢP KINH TẾ VỚI QUỐC PHÒNG

KSOR.H.Psy11
Sau hơn 70 năm xây dựng và trưởng thành dưới sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng cộng sản Việt Nam, các đơn vị quân đội đã tận dụng mọi tiềm năng, nguồn lực lao động, đất đai, kỹ thuật..., đẩy mạnh tăng gia sản xuất, tạo nguồn thực phẩm bổ sung tại chỗ, góp phần giữ ổn định và cải thiện đáng kể đời sống vật chất cho bộ đội. Các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp quốc phòng đã sản xuất được một số loại vũ khí, trang bị khí tài phù hợp, đáp ứng yêu cầu tác chiến hiện đại, yêu cầu sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của quân đội. Nhiều đơn vị làm kinh tế của quân đội đã sản xuất và kinh doanh có hiệu quả, trở thành các tổ chức, tập đoàn kinh tế lớn của đất nước, đi đầu trong việc kết hợp kinh tế với quốc phòng, góp phần xứng đáng vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội và tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh của đất nước... Để làm rõ hơn về chức năng sản xuất của Quân đội, K’Sor H xin được dẫn lại bài viết trên trang Facebook https://www.facebook.com/ToiyeuQuandoiNhandanVietnam1203/posts/1578302682243156:0 với mong muốn giúp người đọc có cái nhìn toàn diện, lịch sử và cụ thể về một trong ba chức năng, nhiệm vụ chính trị cơ bản của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của mình, dân tộc ta có nhiều kinh nghiệm kết hợp chặt chẽ vấn đề kinh tế với quốc phòng. Sự kết hợp đó được thể hiện tập trung trong chính sách “ngụ binh ư nông”. Đó là một chính sách được đề ra từ những triều đình đầu tiên của kỷ nguyên nước Đại Việt độc lập tự do, và được duy trì, bổ sung, hoàn chỉnh trong các triều đại phong kiến Việt Nam.
“Ngụ binh ư nông” là một chính sách lớn. Căn cứ vào tên đặt cho chính sách đó và những nội dung, việc làm mà ngày nay ta được biết qua các trang sử cũ, thì có thể hiểu đó là chính sách có ý nghĩa chỉ đạo, có ý nghĩa nguyên tắc trên nhiều phạm vi. Từ phạm vi chiến lược thuộc quốc tế, đến phạm vi chỉ đạo cụ thể việc tổ chức, quản lý, nuôi dưỡng, sử dụng quân đội thường trực trong thời bình. Có thể hiểu “ngụ binh ư nông” là một quốc sách, nhằm giải quyết nhiệm vụ xây dựng đất nước và củng cố lực lượng quân sự trong thời bình, giải quyết quan hệ giữa xây dựng kinh tế với quốc phòng. Cũng có thể hiểu “Ngụ binh ư nông” là gửi binh lính ở nông thôn khi quốc gia vô sự.
Để có thể hiểu được sâu và đầy đủ về chính sách “ngụ binh ư nông”, một điều hết sức cần thiết là tìm hiểu cơ sở xã hội, điều kiện lịch sử xã hội của nó. Theo chúng tôi, điều kiện lịch sử xã hội cần thiết tìm hiểu là nền văn minh Việt Nam cổ đại, một nền văn minh nảy sinh và phát triển trên một quốc gia đất không rộng, người không đông, một nước nhỏ so với những kẻ thù xâm lược lâu đời, là giai cấp phong kiến thống trị trên một nước đất rộng, người đông. Nền văn minh đó, do những tất yếu lịch sử, đã điều chế ra chính sách đó.
Nền văn minh cổ truyền Việt Nam xây dựng trên nền tảng kinh tế nông nghiệp, lấy trồng trọt làm chính, và trồng trọt lấy trồng lúa làm chính, có kết hợp với thủ công nghiệp, chăn nuôi, đánh cá và nuôi cá… Những gia đình tiểu nông nằm trong những xóm làng, những pháo đài xanh, với lũy tre bao bọc, là những đơn vị xã hội cơ bản của văn minh và nhà nước. Nông thôn là khung cảnh địa lý, kinh tế, xã hội cơ bản của đất nước Việt Nam thời cổ đại và trung cổ. Trai tráng ở nông thôn, là lực lượng chủ yếu cung cấp cho các đạo quân Việt Nam những chiến sĩ yêu nước, kiên quyết chiến đấu bảo vệ ruộng nương, mảnh vườn, mái tranh, xóm làng và đất nước…
Dựa vào nguồn nhân lực ở nông thôn, gắn chặt vào nông thôn, các đạo quân Việt Nam thời đó đã thấy sức mạnh lớn lao của một quân đội gắn bó với nông thôn. Đó là sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của các đạo hùng binh Việt Nam trong chiến tranh giữ nước. Một yếu tố khác của nền văn minh cổ đại, có tác dụng trực tiếp đến việc ra đời của chính sách “ngụ binh ư nông”, là sự tổ chức chính trị, trong đó có tổ chức quân sự. “Cái mối liên hệ công cộng của xã hội văn minh là Nhà nước”(F.Ăngghen – Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước – NXB Sự thật, H, 1961, tr267). Mỗi nền văn minh lựa chọn một kiểu hợp quần, một kiểu tổ chức Nhà nước, với một bộ máy quân sự và một lề lối tiến hành chiến tranh tương ứng…
“Lưu vực sông Hồng là quê hương buổi đầu của dân tộc ta” (Phạm Văn Đồng). Nước ta, từ khi thành lập cho đến nay là một nước nhỏ, dân ít. Ấy thế mà dân tộc đấy đã phải đương đầu với đội quân xâm lược Tống, Minh có từ 10 đến 20 vạn, đội quân xâm lược Tần, Nguyên có đến 40-50 vạn. Để chiến đấu và chiến thắng, không có cách nào khác là phải phát động toàn dân khởi nghĩa và tiến hành chiến tranh nhân dân, và phải “vừa cày ruộng, vừa đánh giặc”. Do vậy cần phải cân đối giữa lực lượng chiến tranh và lực lượng sản xuất, xây dựng đất nước và chiến đấu giữ nước. .
Từ yêu cầu đó của thực tiễn, tổ tiên ta đã đi tới một tổ chức quân sự vừa đáp ứng được nhiệm vụ giữ nước, vừa thỏa mãn được nhu cầu làm ruộng, sản xuất ra lương thực. Phải có binh, đồng thời không vì binh mà để ảnh hưởng không tốt đến việc làm ruộng. Thế rồi từng bước qua thực nghiệm, chính sách “ngụ binh ư nông” ra đời. Cho nên đó là chính sách vì binh, mà cũng vì nông. Có thể nói, đây cũng là một sự kết hợp quốc phòng với kinh tế ngay trong tổ chức quân sự.
Tuy vậy, do tài liệu còn thiếu thốn và rời rạc, việc tìm hiểu về vấn đề kết hợp giữa kinh tế và quốc phòng của tổ tiên ta có nhiều khó khăn. Cho nên, dựa vào nhiều hiện tượng lịch sử, chúng tôi nêu lên một số nét để hình dung cụ thể về vấn đề đó.
Thời Hùng, dân Lạc là dân làm ruộng, đánh cá. Chưa có dấu hiệu gì chứng tỏ đã xuất hiện một đội quân thường trực. Trong vầng dương của buổi bình minh còn đượm màu huyền sử, ta chỉ biết thời bình thì dân làm ruộng, thời chiến thì cầu hiền tài ở các bản làng, dân ứng nghĩa tụ tập ở ven rừng, cử người tuấn kiệt lên làm tướng. Quân lính, thì mới hôm qua còn là người cầm cuốc vỡ nương, cầm vồ đập đất, người câu cá bên bờ sông, đầm, kẻ cầm giáo, vác cung đi săn trong rừng, thậm chí cả những chú bé chăn trâu cầm khăng đi chơi nghịch, cầm roi tre xua đàn gia súc. Chất phác, giản dị, “chính sự dùng lối tết nút thừng để ghi nhớ sự việc” (Đại Việt sử lược). “Vua vẫn cùng dân đi cày như ông Nghiêu ông Thuấn” (Ngô Thì Sĩ), thì tổ chức quân sự và quốc phòng chưa thể có gì là phức tạp.
Mãi đến thời Âu Lạc (nửa sau thế kỷ III trước CN), mới thấy sử chép vua An Dương sai đắp thành Cổ Loa, tướng quân Cao Lỗ huấn luyện một vạn quân sĩ trên tổng số khoảng nửa triệu dân, là một tỷ lệ hợp lý. Dựng một cái thành, với vài triệu mét khối đất đào đắp (ước tính trên diện tích còn lại), phải huy động 5,6 triệu ngày công (lại còn đắp rồi lại đổ). Dân ít, phải hàng chục năm mới có thể hoàn thành. Đắp thành giữa đồng bằng châu thổ, trong bối cảnh một nền văn minh nông nghiệp, dựa trên nền tảng nghề trồng lúa nước, giữa một vùng còn úng lầy và một thiên nhiên nhiệt - ẩm, nhiều lũ lụt, bên bờ một dòng chảy lớn của hệ thống sông Hồng, thì đắp thành cũng là trị thủy, lũy thành cũng là đê. Vòng lũy ngoài của hệ thống phòng thủ Cổ Loa rõ ràng cũng là đê sông Ngũ huyện Hoàng Giang – con đê ở huyện Phong Khê, mà sử sách đời Hán đã ghi lại. Cũng y như vòng ngoài Loa thành. Đại La thành của kinh thành Thăng Long đời Lý – Trần – Lê, cũng là đê sông Nhị với những chi lưu Tô Lịch, Kim Ngưu… Huy động quân dân đắp thành, cũng đồng thời là đắp đê phòng lũ, đó là một nét đặc sắc của công cuộc kết hợp kinh tế với quốc phòng của Âu Lạc, Đại Việt cổ truyền…
Một nghìn năm Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, tuy mất nước mà vẫn còn làng… và còn dân, nên vẫn có cơ sở tổ chức, huy động quân nghĩa mà chiến đấu. Bà Trưng, bà Triệu, Phùng Hưng hay ba cha con họ Khúc, khi dựng binh thì trước hết là tập hợp người nhà, anh chị em, chồng con, rồi đến người trong họ, trong làng… trước khi khởi nghĩa lan tràn ra cả nước. Nước không phủ định làng, làng không phủ định họ, họ hàng – làng – nước xoắn xuýt với nhau trong làm ăn, cũng như trong đánh giặc. Theo sử chép thì hồi đó có tổ chức tông binh (lính người cùng họ). Ngay trong quân đội đời Trần, cấm quân vẫn được phiên chế vào các “vệ”, các “đồ”, các “quân”, mỗi đơn vị bao gồm những người lính cùng làng, hay cùng miền và tổ chức ấy có ý thức để kết hợp việc quân với việc nông, như sau này ta sẽ rõ.
Trước khi theo bà Trưng khởi nghĩa, nữ tướng Lê Chân rời bỏ miền quê cũ dưới chân rặng núi Đông Triều, đem một số dân làng đi khai hoang miền hải tần bãi biển hoang vu, lập nên làng xóm mới (trang An Biên, khu phố Lê Chân, Hải Phòng ngày nay), vừa là náu mình chờ thời cơ giết giặc, vừa là xây dựng hậu phương căn cứ mới, có cơ sở kinh tế vững vàng… Cũng vậy, sau khi đại cục nước Vạn Xuân vừa nhen nền tự chủ của Lý Nam Đế đã vỡ, vị tướng trẻ Triệu Quang Phục, từ năm 546, đem hơn 1 vạn quân còn lại về bãi Màn Trò, giữa một vùng trời nước mênh mang, lau sậy um tùm, ngày ngày khai hoang đất nổi giữa vùng đất Dạ Trạch (Khoái Châu – Hải Hưng), binh lính cũng là nông dân, ngày cầm cầy cuốc làm ăn, đêm rẽ thuyền độc mộc đánh các đồn địch lẻ, như thế bảo là làm kế “trì cửu” (đánh lâu dài). Dạ Trạch là một điển hình sơ khởi của công cuộc xây dựng căn cứ địa, dân cũng là binh, vừa làm ăn vừa đánh giặc, đánh du kích, đánh lâu dài và cuối cùng thắng lợi…
Từ thế kỷ X, nước nhà giành được độc lập lâu dài, tổ chức quân đội của Nhà nước phong kiến cần phải được xây dựng thành quân đội có quy củ, phép tắc, điển chương. Nó cần có chính sách rõ ràng. Chính sách “ngụ binh ư nông” của nhà nước phong kiến dân tộc ra đời và dần dần định hình rõ nét. Hay nói cách khác, việc kết hợp quốc phòng với kinh tế đã được dần dần xác lập chính thức.
Sử vẫn ghi: Đại thắng Đinh Hoàng Đế năm 974 tổ chức quân thập đạo, theo nguyên tắc thập tiến: mỗi đạo 10 quân, mỗi quân 10 lữ, mỗi lữ 10 tốt, mỗi tốt 10 ngũ, mỗi ngũ 10 người. Theo tổ chức đó thì số quân đến 1 triệu. Khó có thể xem đó là số quân của quân thường trực. Song có thể hiểu với tinh thần của chính sách “ngụ binh ư nông”, thì đó là tổng số quân bao gồm cả quân thường trực và số quân đội làm ruộng là chính và khi cần là binh.
Song dù số quân là bao nhiêu, nhưng chính sách “ngụ binh ư nông” để kết hợp quốc phòng và kinh tế, đã đưa lại hiệu lực quốc phòng mạnh mẽ. Quân đội ấy đã chống Tống, phạt Chiêm thắng lợi. Khi đất nước đã ra khỏi tình trạng chiến tranh (sau năm 982), thì các vua Tiền Lê – từ Lê Hoàn đến Long Đĩnh, đều huy động quân sĩ cùng dân tham gia một số công việc kết hợp giữa kinh tế với quốc phòng, đặc biệt là công việc bảo đảm và phát triển giao thông vận tải, như đóng thuyền, đào sông, đắp đường quốc lộ, có năm huy động đến 5000 lính của Châu Hoan (Nghệ Tĩnh), đi sửa sang đường đất từ Nghệ Tĩnh đến giáp đèo Ngang…
Sang thời Lý, thì đường lối “ngụ binh ư nông” đã đi vào quy chế.
Việc kết hợp quốc phòng với kinh tế trong bản thân tổ chức quân thường trực, được quy định thành phép tắc, điển chương. Việc sử dụng binh cho thời chiến cũng dựa theo nguyên tắc đó.
Quân đội thời Lý, ngoài số cấm quân thường trực bảo vệ Thăng Long, có khoảng 3200 người, còn số quân đội đóng ở các châu, lộ do các quan trấn thủ chỉ huy, không có số nhất định, gọi là sương quân , quân của các vương hầu quý tộc và quân của tù trưởng miền núi, gọi là thổ binh. Trong chiến tranh với Chiêm Thành, quân số huy động là 3 vạn, trong chiến tranh chống Tống, quân số được huy động cao nhất là từ 6 đến 10 vạn người trong số dân 3-4 triệu. Nhà Lý thi hành “Luật nghĩa vụ quân sự” dân đinh đến 18 tuổi, phải dăng ký tên vào sổ bìa vàng – Hoàng sách, nên hạng đinh này gọi là hoàng nam. Đinh trên 20 tuổi gọi là đại hoàng nam. Cấm quân có số nhất định, tuyển các đại hoàng nam khỏe và giỏi võ sung vào, còn quân các địa phương không có số nhất định. Ba đoạn sử trích sau đây minh họa rõ chính sách “ngụ binh ư nông” thời Lý:
An Nam chí lược (một bộ sử đời Trần) chép: “Quân không có số nhất định. Người dân nào đến tuổi cũng phải đăng lính, nhưng hàng tháng họ vẫn được thay nhau về làm ruộng.”
Lĩnh ngoại đại đáp (sách viết đầu thế kỷ XII, ngang thời Lý) chép cụ thể hơn: “Binh lính một tháng một lần thay nhau nghỉ, để cày cấy tự cấp. Hàng năm vào ngày mồng 7 tháng giêng, mỗi người lính được phát 300 đồng tiền, 1 tấm lụa, mỗi tháng mỗi người lính được phát 10 bó lúa”.
Đại Việt sử ký (Ngô Thì Sĩ) chép: “Lúc chinh phạt thì cất quân giao cho các tướng. Nếu quân không đủ thì lấy dân đinh mà dùng. Việc xong lại trở về cày ruộng.”
Đời Trần cũng vậy, thời bình, số quân cấm vệ và quân các lộ không đầy 10 vạn người (Lịch triều hiến chương loại chí, Binh chế chí): chỉ trong kháng chiến chống Nguyên mới huy động đến 20 vạn, ấy là kể cả quân dội riêng của các vương hầu. Tinh thần của chính sách quân sự là “lúc có việc thì toàn dân là lính (Cương mục)”. Việc lấy quân không có số nhất định, chỉ chọn dân đinh nào khỏe mạnh thì lấy “khi không có việc thì trở về làm ruộng” (An Nam chí lược).
Khi xưa, người không nói là “đi lính” mà nói là “đi phiên”. Phiên đọc trạnh thành “phen”. Tiếng Việt có từ “phu phen”. Phu là người dân đi làm lao dịch cho Nhà nước, phen là đi lính, vì cắt phiên nhau. Kẻ tại ngũ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, kẻ về nhà làm ruộng, hết tháng lại đổi phiên, gọi là “thay phiên”. Sử nhà Trần đã ghi lại được một câu hát trong trò múa rối thời Trần Thái Tông: “chóng đến ngày mồng một thay phiên”. Lối “ngụ binh ư nông”, gửi quân sĩ ở nông nghiệp, nông thôn theo lối cắt lần, cắt lượt như vậy rất có tác dụng:
Mọi người dân từ 18 tuổi trở lên, khỏe mạnh, đều phải thi hành nghĩa vụ quân sự.
Mọi đinh tráng đều được huấn luyện quân sự, đều có những kiến thức tối thiểu về võ nghệ. Đó là một xã hội trọng võ điển hình, làm nền cho tinh thần thượng võ và truyền thống thượng võ Việt Nam.
Thời bình, ngoài một số ít quân thường trực, mọi đinh tráng đều là quân dự bị, khi cần điều động là có ngay và ai nấy đã biết rõ quân ngũ của mình.
Quân lính thay phiên nhau về làm ruộng, ngoài việc bình đẳng về nghĩa vụ quân sự, lại giảm bớt được chi phí quốc phòng và điều quan trọng là, thực hiện được sự cân đối giữa lực lượng sản xuất và lực lượng quốc phòng. Sản xuất nông nghiệp – nền tảng của nền kinh tế quốc dân, được bảo đảm, sức lao động ở nông thôn không bị thiếu. Lại bảo đảm bình thường hóa được sinh hoạt vợ chồng, sinh hoạt của những gia đình tiểu nông, tế bào của nền kinh tế phong kiến như Mác nói.
Cuộc kháng chiến của cha con Hồ Quý Ly thất bại (1407), giặc Minh xâm lược và đô hộ nước ta (1407 – 1427). Các cuộc khởi nghĩa liên tiếp nổ ra và cuối cùng quy tụ vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418 – 1427). Từ một đội nghĩa quân ban đầu không quá 2000 người, đến chặng cuối của cuộc chiến tranh giải phóng, quân đội yêu nước của Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã lên tới 35 vạn người (Toàn thư; Cương mục). Để nuôi dưỡng và phát triển đạo quân ấy một đạo quân nông dân yêu nước, ngoài việc đóng góp của nhân dân cả nước, đạo quân ấy đã từng bước trưởng thành và lớn mạnh theo phương châm “vừa cày ruộng, vừa đánh giặc” (Nguyễn Trãi).
Dưới triều Lê, việc kết hợp kinh tế với quốc phòng trong tổ chức quân sự, đã được thực hiện bằng một hình thức, biện pháp cao hơn. Ngoài việc tiếp tục gửi binh nơi đồng ruộng, quân đội còn trực tiếp làm ruộng. Thời Lê số quân thường trực có 10 vạn. Vua Lê đã chia thành 5 phiên, cứ lần lượt thay nhau một phiên “lưu ban” (như nay gọi là thường trực), còn 4 phiên về làm ruộng. Thế là số quân thường trực thực chất chỉ còn 2 vạn. Chính sách “ngụ binh ư nông” ngày càng được thực hiện triệt để và mở rộng. Năm 1466, chia số quân làm 2 ban, cứ lần lượt thay nhau một nửa tại ngũ, một nửa về làm ruộng. Đến cuối thế kỷ XV thì lính coi ngục và lính nấu bếp, cũng được luân lưu thay phiên về làm ruộng.
Biện pháp tổ chức triển khai của chính sách này cũng ngày càng hoàn thiện. Buổi đầu thời Lê mỗi khi cần bổ sung quân đội, hay điều động thêm dân ra lính, thì triều đình thường phái các quan đại thần về các địa phương (đạo), để tuyển binh. Các loại được miễn quân dịch là: Con quan từ lục phẩm trở lên. Giám sinh Quốc tử giám Nô tỳ (đầy tớ nhà quan). Gia đình có 3 đinh tráng trở lên, thì được miễn một người. Còn tất cả các hạng đinh tráng đều phải đăng lính. Năm 1470, Lê Thánh Tông quy định việc tuyển lính làm cùng một lần với điều tra số dân, lập sổ hộ tịch. Cứ 3 năm, sửa lại hộ tịch một lần gọi là tiểu điền. Cứ 6 năm, làm lại hộ tịch một lần gọi là đại điền. Triều đình điều quan đại thần về các địa phương lập các trường tuyển, duyệt nhân khẩu. Trừ các hạng chức sắc, quan lại, còn dân đinh từ 18 tuổi trở lên đều phải đăng ký hộ tịch, chia làm các hạng tráng, quân, dân, lão, cố, cùng. Hạng tráng phải tòng quân ngay. Hạng quân là một loại quân dự bị, cho ở nhà làm ruộng, khi cần điều động mới phải tòng ngũ… Gia đình nào có 3,4 suất đinh, thì một người sung vào hạng “tráng”, một người vào hạng “quân”, còn lại vào hạng “dân”. Gia đình nào có 5-6 suất đinh, thì 2 người sung vào hạng “tráng”, một người sung vào hạng “quân”, còn lại vào hạng “dân”…
Như vậy quân thường trực thời Lê Thánh Tông chừng 8 vạn (trong hơn 80 vạn suất đinh), nhưng quân hậu thì khá đông: năm 1471 có chiến tranh với nước ngoài, chỉ trong một thời gian ngắn, Lê Thánh Tông đã huy động một số quân thủy, bộ 25 – 30 vạn một cách dễ dàng. Quân thường trực thì thường xuyên luyện tập có diễn tập hàng năm và có khảo hạch võ nghệ quân sĩ 3 năm một lần. Quân hậu bị thì chỉ đăng ký tên vào sổ quân, ngày thường ở nhà làm ruộng, đóng sưu nộp thuế. Chỉ khi có chiến tranh hay khi quân thường trực hao hụt, thì nhà nước chiếu sổ gọi tòng quân.
Những người bị điều động vào công việc khẩn hoang, lập đồn điền cho Nhà nước (thời Hồng Đức năm 1481 có cả thảy 43 sở đồn điền), cũng được tổ chức thành đội ngũ như quân sĩ, gọi là đồn điền binh hay thực điền binh, triều đình cử các viên đồn điền sứ cai quản họ. Có sở làm ruộng, sở nuôi tằm, sở chăn nuôi gia súc…
“Ngụ binh ư nông” vừa là đường lối quân sự, vừa là tổ chức quân sự. “Ngụ binh ư nông” là nhằm và để kết hợp được, giữa chính sách xem binh là việc lớn của nước, với chính sách trọng nông. Đường lối ấy, tổ chức ấy xuất phát từ một nền văn minh nông nghiệp, từ thực tiễn của một dân tộc nông dân. “Dĩ nông vi bản”, “ngụ binh ư nông” bảo đảm thế quân bình giữa kinh tế và quốc phòng, giữa lực lượng sản xuất và lực lượng chiến đấu, bảo đảm mối quan hệ hỗ tương giữa tiền phương và hậu phương trong chiến tranh giữ nước, bảo đảm sự hiện diện của một quân đội thường trực tinh thông võ nghệ, sẵn sàng chiến đấu, kết hợp với một lực lượng hùng hậu quân hậu bị đông đảo, dễ dàng huy động. “Ngụ binh ư nông” đã phát huy tác dụng tích cực, trên suốt chặng đường hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.
Nguồn : GS TQV

Kiên định đường lối đối ngoại quốc phòng độc lập, tự chủ

ADMIN.PSY11
Thời gian gần đây, mỗi khi có những sự kiện trọng đại của đất nước hoặc các hoạt động đối ngoại của lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta, trên một số trang mạng, blog lại rộ lên thông tin liên quan đến chính sách đối ngoại quốc phòng của Việt Nam. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội tung lên mạng những bài viết mập mờ theo lối “rộng đường dư luận”, cùng thông tin bịa đặt, xuyên tạc để đánh lừa dư luận và gây hoang mang trong xã hội.
Bằng thủ đoạn đưa thông tin lập lờ “đen-trắng” lẫn lộn, các thế lực thù địch kích thích trí tò mò của công chúng, làm cho người đọc không phân biệt được đúng sai, nảy sinh nghi ngờ, mất lòng tin vào Đảng và Nhà nước. Những kiểu bình luận, suy diễn, bịa đặt như: "Việt Nam đang sử dụng cảng quốc tế Cam Ranh làm “mồi nhử” để "lôi kéo" các nước lớn ủng hộ Việt Nam". Hay nhân dịp Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thăm Hoa Kỳ (29-31/5/2017), hai bên đã ra Tuyên bố chung về tăng cường đối tác toàn diện giữa hai nước, trong đó có nội dung "Việt Nam và Hoa Kỳ trao đổi về khả năng tàu sân bay Hoa Kỳ thăm cảng Việt Nam", những "cây bút" trên mạng xã hội đã bịa ra chuyện Việt Nam sẽ cho nước ngoài thuê Cam Ranh làm căn cứ quân sự hoặc Việt Nam sắp liên minh quân sự... Vậy sự thật đằng sau những thông tin bịa đặt này là gì?
Kể từ khi Cảng quốc tế Cam Ranh được khánh thành và đi vào hoạt động, không chỉ báo chí trong nước mà báo chí nước ngoài đã có nhiều bài viết, nhận xét tích cực về chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta. Việc đưa Cảng quốc tế Cam Ranh vào hoạt động góp phần phát triển kinh tế, giữ vững an ninh, quốc phòng của đất nước cũng như mở rộng quan hệ quốc phòng của Việt Nam với các nước trên thế giới. Tuy nhiên, một số hãng thông tấn nước ngoài cùng một số trang mạng, blog cá nhân đã lợi dụng chủ trương của Nhà nước ta về việc đưa Cảng quốc tế Cam Ranh vào khai thác, để tuyên truyền xuyên tạc, nói xấu Việt Nam nhằm chia rẽ quan hệ của Việt Nam với các nước. Với dụng ý đó, họ cố tình xuyên tạc, bóp méo thông tin, phục vụ cho mưu đồ chính trị của một số tổ chức, một số nhóm người không có thiện cảm với Việt Nam.
Thực tế cho thấy, chúng ta đã chủ động cung cấp thông tin một cách công khai, minh bạch về chủ trương đưa Cảng quốc tế Cam Ranh vào sử dụng. Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định ban hành Quy chế quản lý hoạt động của Cảng quốc tế Cam Ranh thuộc địa bàn tỉnh Khánh Hòa, có hiệu lực từ ngày 15-8-2016.
Với vị trí địa chính trị, Cảng quốc tế Cam Ranh thu hút sự quan tâm lớn của các nhà nghiên cứu, nhất là trong lĩnh vực quân sự và hàng hải. Vì vậy, các nhà quân sự thế giới hiểu rất rõ vị trí, vai trò của Cảng quốc tế Cam Ranh. Như vậy, Cảng quốc tế Cam Ranh bản thân nó đã có sức hút là một trong những cảng nước sâu tốt nhất thế giới, thì không có lý do gì chúng ta phải "lôi kéo" ai. Nhờ vị trí tiếp cận gần nhất các tuyến hàng hải quốc tế nên cảng quốc tế Cam Ranh là vị trí lý tưởng để tàu bè các nước dừng chân, sử dụng các dịch vụ hậu cần kỹ thuật trên đường hành trình của mình và đây là điều hết sức bình thường.
Chính sách quốc phòng của Việt Nam đã nêu rõ: Việt Nam chủ trương không cho bất cứ quốc gia nào đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ của mình. Chính phủ Việt Nam đã khẳng định không cho nước ngoài thuê cảng Cam Ranh làm căn cứ quân sự hay căn cứ hậu cần-kỹ thuật. Tuy nhiên, Việt Nam hoan nghênh tàu, thuyền quốc tế ghé đậu và sử dụng dịch vụ hậu cần-kỹ thuật tại đây. Đây là một chủ trương hoàn toàn đúng đắn. Trong thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng, Việt Nam sẵn sàng mở cửa đón tiếp tàu quân sự, dân sự của các nước có thiện chí và muốn sử dụng dịch vụ hậu cần-kỹ thuật ở Cảng quốc tế Cam Ranh. Tàu, thuyền các nước càng vào Cam Ranh nhiều càng chứng minh họ tín nhiệm Việt Nam và Việt Nam cũng tin tưởng họ. Do vậy, chuyện suy diễn Việt Nam cho nước ngoài thuê Cảng quốc tế Cam Ranh làm căn cứ quân sự là một suy diễn mang tính chủ quan, vô căn cứ.
Còn những ý kiến cho rằng, Việt Nam muốn liên minh quân sự, lôi kéo nhân tố quốc tế để đối phó với nước thứ ba. Câu chuyện thực chất là gì?
Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã chứng minh tính chất hòa bình, tự vệ và chính nghĩa của liên minh quân sự, liên minh chiến đấu, đồng thời khẳng định liên minh quân sự, liên minh chiến đấu là một trong những phương thức bảo vệ Tổ quốc vào thời điểm nhất định. Từ khi đất nước hòa bình, thống nhất đến nay, Việt Nam nhất quán thực hiện chính sách quốc phòng hòa bình, tự vệ nhằm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
Quốc phòng Việt Nam luôn gắn bó mật thiết với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Theo đó, tất cả những ai chủ trương tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập, mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng và bảo vệ hòa bình, ổn định trong khu vực đều là đối tác hợp tác quốc phòng của Việt Nam. Thông qua các mối quan hệ đối ngoại, Việt Nam tăng cường sự hiểu biết và tin tưởng lẫn nhau với nhân dân và chính phủ các nước, tạo cơ sở mở rộng hợp tác, giải quyết các mâu thuẫn nhằm ngăn chặn và đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, góp phần duy trì môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới. Thực hiện chính sách quốc phòng độc lập, tự chủ, Việt Nam xây dựng sức mạnh quốc phòng bằng mọi nguồn lực của đất nước; kiên trì chủ trương không tham gia các tổ chức liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước kia, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ của mình để chống lại nước khác. Tuy nhiên, Việt Nam chủ trương tăng cường hợp tác quốc phòng với mọi quốc gia để tăng cường khả năng bảo vệ đất nước. Tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế.
Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã minh chứng: Càng trong những tình thế khó khăn, càng đòi hỏi phải có chính sách quốc phòng đúng đắn theo đường lối độc lập, tự chủ, tự lực cánh sinh là chính. Đồng thời, cần hiểu đúng sức mạnh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là sức mạnh tổng hợp quốc gia về chính trị, tư tưởng, kinh tế, xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; trong đó, sức mạnh lực lượng vũ trang là nòng cốt, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, kết hợp quân sự, kinh tế, chính trị với ngoại giao. Sức mạnh bên trong của đất nước, sức mạnh của chế độ chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc là nhân tố quyết định. Chỉ có kiên trì thực hiện đường lối và “chính sách quốc phòng độc lập, tự chủ” chúng ta mới có thể phát huy hết được sức mạnh dân tộc, tận dụng và khai thác triệt để sức mạnh của thời đại trong đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, nếu ai đó cho rằng, Việt Nam cần liên minh quân sự là trái ngược với tinh thần nói trên.
Những diễn biến trong thời gian cho chúng ta thấy rõ ai là người thực tâm ủng hộ Việt Nam và ai đang toan tính thực hiện Chiến lược “Diễn biến hòa bình”, chống phá Việt Nam. Có thể thấy, những luận điệu trên là nhằm chia rẽ sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, phá hoại sức mạnh bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta; chia rẽ Đảng với nhân dân, Đảng với lực lượng vũ trang; chia rẽ quan hệ Việt Nam với các nước. Âm mưu của họ là lái Việt Nam chệch khỏi đường lối độc lập, tự chủ trong thực hiện chính sách quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc cũng như trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo, phục vụ cho những mưu đồ nham hiểm.
                                                                                    ADMIN.PSY11
                                                                                          (ST: Nguồn Báo QĐND