Thứ Ba, 12 tháng 9, 2023

NVE40-ĐỐI NGOẠI QUỐC BIỆN PHÁP BẢO VỆ TỔ QUỐC TỪ SỚM, TỪ XA

 Như chúng ta đã biết, chính sách quốc phòng của Việt Nam mang đậm tính chất hòa bình, tự vệ, nhân văn, nhân đạo; kiên quyết, kiên trì giải quyết bất đồng bằng biện pháp đối thoại hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế; phát huy tương đồng, hóa giải bất đồng, chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh từ sớm, từ xa. Đối ngoại quốc phòng của Việt Nam luôn nhất quán, kiên định thực hiện nguyên tắc: Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Điều đó khẳng định quyết tâm và đóng góp tích cực của Việt Nam cho hòa bình, ổn định của khu vực và trên thế giới, được các nước tin tưởng, đánh giá cao; qua đó khẳng định vai trò, vị thế, uy tín của Việt Nam và của Quân đội nhân dân Việt Nam trên trường quốc tế.

Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai thực hiện toàn diện công tác đối ngoại quốc phòng, hội nhập quốc tế và đã đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Đối ngoại quốc phòng đã tích cực, chủ động tham mưu với Đảng, Nhà nước giải quyết rất tốt các vấn đề chiến lược về quân sự, quốc phòng, an ninh, biên giới lãnh thổ, không để Tổ quốc bị động, bất ngờ trong mọi tình huống; xử lý tốt quan hệ quốc phòng với các nước láng giềng, nước lớn, đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, tạo nên thế đan xen chiến lược, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc; củng cố tình hữu nghị, đoàn kết quốc tế, thúc đẩy quan hệ hợp tác quốc phòng, góp phần tăng cường tiềm lực, xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, củng cố lòng tin chiến lược giữa Việt Nam với các nước, nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và quân đội trên trường quốc tế.

Hiện nay, Quân đội nhân dân Việt Nam thiết lập quan hệ quốc phòng với quân đội hơn 100 nước, trong đó có 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, 3 tổ chức vũ trang quốc tế của Liên hợp quốc, Liên minh châu Âu (EU), Tổ chức Thủy đạc quốc tế (IHO). Thiết lập quan hệ quốc phòng với tất cả các đối tác hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện với Lào, Campuchia, Cuba; đối tác chiến lược toàn diện với Trung Quốc, Nga, Ấn Độ... Đến nay, đã có 31 nước đặt Phòng Tùy viên Quốc phòng thường trú tại Việt Nam; 20 nước kiêm nhiệm. Việt Nam đặt Phòng Tùy viên Quốc phòng tại 32 nước, Liên hợp quốc và EU. Việt Nam chủ động đề xuất sáng kiến tại các diễn đàn hợp tác quốc phòng đa phương khu vực và quốc tế như: Hội nghị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ASEAN, Đối thoại Shangri-La, Hội nghị an ninh quốc tế Moscow, Diễn đàn Hương Sơn - Bắc Kinh, Đối thoại Quốc phòng Seoul… Đặc biệt, Việt Nam đã cử hơn 500 lượt cán bộ, nhân viên, với 4 lượt bệnh viện dã chiến cấp 2 đến phái bộ Gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc tại Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi và trụ sở Liên Hợp Quốc, cử Đội Công binh đi làm nhiệm vụ tại Phái bộ An ninh lâm thời của Liên Hợp Quốc tại khu vực Abyei (UNISFA); cử 76 quân nhân tham gia cứu hộ, cứu nạn sau thảm họa động đất ở Thổ Nhĩ Kỳ.

Năm 2022, Bộ Quốc phòng tổ chức rất thành công Triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam, góp phần tăng cường, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng; quảng bá năng lực công nghệ, vũ khí trang bị do Việt Nam sản xuất; đa dạng hóa các kênh hợp tác mua sắm, tiếp nhận chuyển giao công nghệ của nước ngoài để sản xuất vũ khí, trang thiết bị, đáp ứng yêu cầu của lực lượng vũ trang và tìm hiểu xu hướng phát triển của công nghiệp quốc phòng trên thế giới. Triển lãm đã đón 52 đoàn khách quốc tế và lãnh đạo Bộ Quốc phòng của các nước; Quân đội 30 nước, cùng hơn 170 doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng của các quốc gia và vùng lãnh thổ đến tham gia; đã đón hơn 60.000 lượt người dân, gần 10.000 lượt cán bộ, chiến sĩ tới tham quan. Sau 37 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước, Quân đội nhân dân Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đối ngoại quốc phòng góp phần rất quan trọng bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ trong thời bình, không để xảy ra xung đột, kiến tạo môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước.

Đại hội XIII của Đảng xác định, tình hình thế giới, khu vực diễn biến rất nhanh, phức tạp, khó lường. Độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, ổn định của đất nước luôn có nguy cơ bị đe dọa. Chính vì vậy, để thực hiện tốt kế sách bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, đòi hỏi công tác đối ngoại quốc phòng phải tiếp tục quán triệt sâu sắc hơn nữa và nghiêm túc thực hiện tốt phương châm: Tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả. Không ngừng đổi mới, tham mưu đúng, trúng với Đảng, Nhà nước trên lĩnh vực quân sự, quốc phòng, an ninh bảo vệ Tổ quốc; để có đối sách đúng đắn, kịp thời, giành thắng lợi trên bàn đàm phán, chiến thắng trên mặt trận ngoại giao, đẩy mạnh hợp tác quốc phòng, phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực, xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh; cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; nâng cao sức mạnh chiến đấu; sẵn sàng chiến đấu thắng lợi trong mọi tình huống, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa từ sớm, từ xa; không để Tổ quốc bị động, bất ngờ./.

NVE40-ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, BẢO VỆ THÀNH QUẢ CÁCH MẠNG THÁNG 8/1945 LÀ TRÁCH NHIỆM CỦA MỖI CÔNG DÂN

 Thành quả của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 không chỉ được Đảng, Nhân dân ta nỗ lực phấn đấu để có được mà còn được bạn bè và cộng đồng quốc tế ghi nhận. Thế nhưng, đây đó vẫn có những luận điệu lạc lõng của một số kẻ xấu, cơ hội chính trị với ý đồ xuyên tạc sự thật lịch sử.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công là thắng lợi vĩ đại đầu tiên của Nhân dân ta từ khi có Đảng lãnh đạo, mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Từ đây, đất nước, xã hội, dân tộc và con người Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Tuy nhiên, dịp kỷ niệm các sự kiện lịch sử quan trọng của đất nước, của dân tộc cũng là dịp các thế lực xấu, thù địch, phần tử cơ hội chính trị điên cuồng chống phá. Xuyên tạc, bôi nhọ, phủ nhận giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại của Cách mạng Tháng Tám, các thế lực thù địch tung lên internet, mạng xã hội nhiều bài viết với giọng điệu rằng: “Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là sai lầm lịch sử”, “không có gì thay đổi chế độ xã hội ở Việt Nam, chẳng qua chỉ là thay từ chế độ “vua trị” sang chế độ “đảng trị””(!)... Chúng còn cho rằng những thắng lợi mà Đảng ta, Nhân dân ta đã đổ xương máu để giành được “đó là sự ăn may, vì Nhật thua trong Chiến tranh thế giới thứ hai, chứ Đảng Cộng sản Việt Nam chẳng có tài cán gì”; rằng “do khoảng trống quyền lực, nên Việt Nam dễ giành được kết quả nhanh chóng”(!).

Một số lại cho rằng, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 “là nguyên nhân dẫn đến hai cuộc chiến tranh đẫm máu ở Việt Nam”; “nếu không có Cách mạng tháng Tám năm 1945, nước ta đã giàu mạnh từ lâu và không mất dân chủ như bây giờ”...

Từ cách nhìn ấu trĩ và giản đơn, chúng đưa ra lập luận Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công không phải là do sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam và của Chủ tịch Hồ Chí Minh, không phải là kết tinh sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc, mà thành công đó là một sự “may mắn” do điều kiện lịch sử tạo ra. Đây chính là những luận điệu sai trái, phi thực tế, phản khoa học, hoàn toàn bịa đặt nhằm hạ thấp ý nghĩa của Cách mạng Tháng Tám, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thực tế lịch sử đã chứng minh, để Cách mạng Tháng Tám giành thắng lợi trong mùa thu lịch sử năm 1945, bằng trí thông minh, tinh thần cách mạng triệt để, nghệ thuật lãnh đạo và phương pháp cách mạng khoa học, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo Nhân dân ta trải qua 3 cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc vô cùng gian khổ, khốc liệt, với ba cao trào cách mạng: Cao trào cách mạng 1930 - 1931, với đỉnh cao là phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, Cao trào cách mạng đòi dân sinh, dân chủ (1936 - 1939) và Cao trào cách mạng giải phóng dân tộc (1939 - 1945). Trong thời khắc quyết định của lịch sử dân tộc, Người đã ra lời kêu gọi tổng khởi nghĩa: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta...”.

Để giành thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, ngay từ năm 1939, Đảng ta đã trực tiếp chuẩn bị cả về đường lối, căn cứ địa và lực lượng cách mạng để tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền khi thời cơ đến. Đảng ta xác định phải xây dựng căn cứ địa cách mạng vững chắc ở Bắc Sơn, Cao Bằng, với các tên gọi khác nhau. Đặc biệt, chúng ta đã xây dựng Việt Bắc thành căn cứ địa hoàn chỉnh; là “hình ảnh thu nhỏ của nước Việt Nam”; trong đó, Tuyên Quang được xác định là “Thủ đô kháng chiến”. Việc xây dựng căn cứ địa vững chắc nhằm “tạo thế” quan trọng để Tổng khởi nghĩa đi đến thắng lợi sau này.

Hoàn cảnh lịch sử thời điểm tháng 8/1945 đã tạo ra thời cơ vàng để cả dân tộc đứng lên làm một cuộc cách mạng giành độc lập, tự do. Đây là thời điểm mà quân Nhật đã thất bại tuyên bố đầu hàng Đồng minh vào ngày 15/8/1945. Thời khắc này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đây là một thời cơ quý và hiếm nếu bỏ qua thì không bao giờ có nữa”, đồng thời Người nhấn mạnh: “Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập dân tộc”. Mặc dù thời điểm này tạo điều kiện khách quan chín muồi, khi quân Nhật hoảng loạn, quân Pháp chưa đủ sức quay lại, chính quyền tay sai hoang mang cực độ. Tuy nhiên, nếu không có sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng, đã lãnh đạo toàn thể dân tộc Việt Nam, triệu người như một, đồng lòng theo Đảng đứng lên bẻ gãy gông xiềng lệ thuộc, tự giải phóng mình, thì làm sao có được cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã khẳng định tính cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta, trước hết và chủ yếu là do đường lối chiến lược và sách lược của Đảng đúng đắn ngay từ đầu, bảo đảm thông suốt và quán triệt đường lối đó trong thực tiễn chuẩn bị khởi nghĩa và khởi nghĩa, làm cho Đảng ngày càng vững mạnh và ăn sâu bám rễ trong quần chúng, gắn sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại theo lời kêu gọi Tổng khởi nghĩa Tháng Tám của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì có đoàn kết mới có lực lượng, có lực lượng mới giành được độc lập, tự do”.

Thắng lợi này đã khơi nguồn để Đảng ta khởi xướng công cuộc đổi mới đất nước đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đời sống Nhân dân được được nâng lên, vị thế, uy tín của đất nước ngày càng nâng cao trên trường quốc tế. Đặc biệt, qua 36 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 31 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống Nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay.

Những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử kết tinh sức sáng tạo của Đảng và Nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Những thành tựu trên đã bác bỏ sự vu cáo, bịa đặt hòng chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, cố tình phủ nhận những thành quả cách mạng mà Đảng và Nhân dân ta đã đạt được. Đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, bảo vệ thành quả cách mạng tháng 8/1945 là trách nhiệm của mỗi công dân./.

NVE40- CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG THÔNG TIN XUYÊN TẠC CUỘC ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG

 Trong thời gian vừa qua, lợi dụng những thiếu sót, khuyết điểm của một số cán bộ, đảng viên, đặc biệt là trong vụ đại án “chuyến bay giải cứu” xảy ra tại Bộ Ngoại giao, thành phố Hà Nội và các tỉnh, thành phố, một số trang blog, diễn đàn, facebook… đã núp bóng tự do ngôn luận để đưa tin, đăng tải những bài viết, bài phỏng vấn với những kiểu rút tít kèm những lời bình đầy tính kích động... Trên Youtube, TikTok họ cắt ghép, ngụy tạo những tiểu phẩm, đoạn video, clip với nội dung hướng lái từ vụ án hình sự sang vấn đề chính trị, xuyên tạc cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

Họ hồ đồ phán rằng, tham nhũng chính là “vấn đề của thể chế”. Thể chế càng tạo ra nhiều cơ chế “xin - cho” thì càng tạo cơ hội cho tham nhũng... Họ bày tỏ quan điểm phản đối, lên án, đổ lỗi để xảy ra tham nhũng, tiêu cực cho Đảng, chính quyền, từ đó kích động, chia rẽ nhân dân với Đảng, tạo cớ bôi nhọ, hạ thấp uy tín Việt Nam. Chúng ta cần phải hiểu rằng, không chỉ ở Việt Nam mà “bóng ma” tham nhũng phủ khắp toàn cầu. Tham nhũng tồn tại tất yếu khách quan trong xã hội có phân chia giai cấp, có nhà nước. Mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, không phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển đều có sự xuất hiện của tham nhũng, tiêu cực...

Quy định số 114-QĐ/TW ngày 11/7/2023 là mình chứng rõ ràng, thể hiện rõ quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Từ khẳng định tham nhũng là: “quốc nạn”, là “giặc nội xâm”… Trong thời gian vừa qua, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức tiến hành cuộc đấu tranh này bằng nhiều chủ trương và giải pháp căn cơ, đồng bộ và hết sức quyết liệt. Đảng ta xác định đấu tranh phòng, chống tham tham nhũng, tiêu cực là một trụ cột trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã nêu rõ: “Triển khai đồng bộ có hiệu quả quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng. Nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng, bảo đảm đúng pháp luật. Thực hiện quyết liệt nghiêm minh có hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng”. Đảng và Nhà nước Việt Nam xác định đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là sự nghiệp của toàn dân. Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã đề ra chủ trương về phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, các cơ quan báo chí, đài phát thanh - truyền hình, các doanh nghiệp và nhân dân tham gia vào công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Với tinh thần đấu tranh không khoan nhượng, không thỏa hiệp với tham nhũng, tiêu cực, Đảng ta đã lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý tham nhũng, tiêu cực một cách đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả, tạo bước đột phá. Những kết quả quan trọng của công tác phát hiện và xử lý tham nhũng, tiêu cực thời gian qua đã khẳng định quyết tâm chính trị rất cao của Đảng và Nhà nước trong chống tham nhũng, tiêu cực, đó là: “Không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai…”.

Những bài viết, bài bình luận, video, clip… trên một số blog, diễn đàn, facebook, Youtube, TikTok… như đã nêu không dựa theo các nguồn tin chính thống mà dựa vào những thông tin cóp nhặt, cắt ghép, ngụy tạo để suy diễn, xuyên tạc, bóp méo sự thật nhằm mục đích chống phá Việt Nam. Những kẻ tung lên, phát tán các tin tức, bài viết, video, clip ấy, họ đâu phải vì đáp ứng nhu cầu thông tin của bạn đọc. Mục tiêu lớn nhất mà họ hướng đến là hạ thấp uy tín lãnh đạo của Đảng, chia rẽ mối đoàn kết gắn bó giữa nhân dân với Đảng, chính quyền và cơ quan chức năng các cấp, tiến xa hơn là lật đổ chính quyền nhân dân, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa.

Trước thực tế đó chúng ta cần nhận thức rõ rằng, trong bất cứ điều kiện hoàn cảnh nào, yêu cầu cao nhất của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa nói chung và cuộc đấu tranh phòng, chống “giặc nội xâm” nói riêng vẫn là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, mối quan hệ gắn bó chặt chẽ giữa Đảng, chính quyền, nhân dân và lực lượng vũ trang. Đó chính là cội nguồn sức mạnh, nhân tố quyết định đối với sự trường tồn và phát triển của đất nước ta.

Chúng ta không phủ nhận những tiện ích mà Internet đem lại cho nhân loại, trong đó có nhân dân Việt Nam. Nhưng với các thế lực thù địch, những kẻ cơ hội chính trị, phản động, thì Internet được chúng coi là phương tiện số một để thực hiện những âm mưu và hoạt động chống phá Việt Nam.

Để đập tan những âm mưu và hoạt động chống phá ấy, chúng ta phải tiến hành quyết liệt, đồng bộ nhiều việc. Đặc biệt là phải tạo sự gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh nói chung và công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực nói riêng chỉ có thể đạt được kết quả như mong muốn khi Đảng phải thực sự biết dựa vào dân. Nhân dân chính là “tai mắt” của Đảng, nhất là trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Vì vậy, Đảng cần có chính sách bảo vệ, khuyến khích nhân dân phản ánh, tố giác cán bộ, đảng viên tham nhũng, tiêu cực. Phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” phải được quán triệt và thực hiện hiệu quả… Chỉ khi Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh; “ý Đảng hợp lòng Dân”, dân tin Đảng thì chúng ta mới đủ sức mạnh để tiến hành cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thành công. Và chỉ có tinh thần cảnh giác cao độ, sự đồng lòng của toàn dân, cùng sự kiên quyết của các cấp chính quyền, nhà quản lý chúng ta mới tẩy chay, ngăn chặn được những thông tin xấu độc lợi dụng cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực để xuyên tạc, kích động, chia rẽ, chống phá Việt Nam./.

NVE40- GIỮ VỮNG TÌNH HỮU NGHỊ VIỆT NAM-CAMPUCHIA

 

Tình hữu nghị Việt Nam và Campuchia là hai nước láng giềng gần gũi và có mối quan hệ truyền thống, gắn bó từ lâu đời. Mối quan hệ này được nhân dân hai nước dày công vun đắp và trở thành tài sản chung vô giá của hai dân tộc. Chặng đường hơn nửa thế kỷ qua là minh chứng sống động cho mối quan hệ láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài giữa Việt Nam và Campuchia.

Tình hữu nghị đó được thể hiện ngay từ cuối năm 1945 khi đất nước Việt Nam vừa giành được độc lập, nhiều đơn vị quân tình nguyện Việt Nam đã sang giúp những người yêu nước, cách mạng Campuchia xây dựng đội ngũ tiền thân của Quân đội cách mạng Campuchia và phối hợp với quân, dân Campuchia kháng chiến chống thực dân giành độc lập dân tộc.Thắng lợi của cách mạng Việt Nam, nhất là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 của quân và dân Việt Nam đã góp phần tạo thời cơ, tăng cường thế và lực để Quân giải phóng Campuchia tiến lên, giải phóng thủ đô Phnom Penh ngày 17/4/1975, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân và chính quyền tay sai.

Trải qua nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử, quan hệ Việt Nam-Campuchia ngày càng khăng khít, bền chặt hơn. Quan hệ hai nước hiện đang phát triển theo phương châm “láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài”. Lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai Nhà nước đều nhấn mạnh quyết tâm cùng nhau vun đắp quan hệ đoàn kết, hữu nghị trên nền tảng lịch sử giữa hai nước, đồng thời khẳng định, quan hệ giữa hai Đảng, hai Nhà nước phát triển ngày càng sâu rộng, thiết thực và hiệu quả trên các lĩnh vực, trở thành tài sản chung quý báu của hai dân tộc, góp phần tạo dựng môi trường hòa bình, ổn định và phát triển lâu dài. Trong những năm qua, dù tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, song với nỗ lực của hai bên, quan hệ giữa Việt Nam với Campuchia tiếp tục có những bước phát triển quan trọng cả chiều rộng lẫn chiều sâu, trở thành một nhân tố quan trọng góp phần tạo dựng môi trường hòa bình, ổn định lâu dài để đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội và nâng cao vị thế của mỗi nước, đóng góp tích cực cho hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.

Trong những mối quan hệ đó phải kể đến quan hệ chính trị giữa Việt Nam và Campuchia được tăng cường, giữ vai trò nòng cốt, định hướng tổng thể quan hệ hai nước. Hai bên đã ký kết nhiều văn kiện làm cơ sở cho việc phát triển hợp tác toàn diện. Hai bên thường xuyên tiến hành các chuyến thăm, gặp gỡ, tiếp xúc giữa lãnh đạo cấp cao và các cấp thông qua các hình thức linh hoạt. Các cơ chế hợp tác song phương, nhất là các cơ chế quan trọng như Ủy ban hỗn hợp Việt Nam-Campuchia về hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học và kỹ thuật, Hội nghị Hợp tác và Phát triển các tỉnh biên giới Việt Nam-Campuchia… tiếp tục phát huy hiệu quả tích cực. Đồng thời trên nền tảng quan hệ chính trị tốt đẹp, các lĩnh vực hợp tác song phương Việt Nam-Campuchia những năm gần đây được đẩy mạnh. Hợp tác quốc phòng, an ninh ngày càng đi vào chiều sâu, là trụ cột quan trọng trong quan hệ hai nước. Hai bên phối hợp triển khai thực hiện các thỏa thuận hợp tác về quốc phòng, an ninh; tăng cường hợp tác trao đổi thông tin, phối hợp bảo đảm giữ vững ổn định chính trị, xã hội ở mỗi nước, an ninh, an toàn biên giới trên bộ và trên biển…

Có thể khẳng định trải qua quá trình lịch sử lâu dài, trải qua nhiều thử thách, quan hệ Việt Nam-Campuchia vẫn không ngừng được xây dựng, vun đắp, góp phần quan trọng tạo dựng môi trường hòa bình, hợp tác, hữu nghị tại khu vực. Đường lối đối ngoại nhất quán của Việt Nam luôn coi trọng, ưu tiên hàng đầu phát triển quan hệ với Campuchia trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp công việc nội bộ của nhau, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi, tạo điều kiện cùng phát triển, vì lợi ích của nhân dân mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong khu vực và trên thế giới. Để giữ gìn và phát huy những thành quả của quan hệ hợp tác giữa hai Đảng, hai Nhà nước, hai bên quán triệt sâu sắc, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng chiến lược, ý nghĩa sống còn của quan hệ Việt Nam-Campuchia đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Việc giữ gìn, củng cố và tăng cường quan hệ “láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài” giữa Việt Nam và Campuchia là nhiệm vụ có tầm quan trọng đặc biệt.

Trong thời gian tới hòa bình hợp tác vẫn là xu thế phát triển, đứng trước nhiều cơ hội và thách thức mới nhưng tình cảm giữa hai nước Việt Nam-Campu chia tiếp tục phát triển cao hơn tạo tiền đề cùng nhau xây dựng đất nước. Vì vậy để giữ vững tình hữu nghị đó bản thân mỗi cấp, ngành và toàn dân cần phải có nhận thức đúng đắn tích cực vun đắp tình cảm đó, đồng thời đấu tranh với các luận điệu, âm mưu chia rẽ tình hữu nghị của hai nước Việt Nam-Campu chia./.

NVE40- ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM

 Những năm qua, tại Biển Đông xảy ra một số vụ việc phức tạp, có lúc diễn biến căng thẳng, trong đó có các hành động gây hấn, xâm phạm chủ quyền biển đảo như: Vụ việc tàu Viking 02 và tàu Bình Minh 02 của Việt Nam bị cắt cáp năm 2011 và 2012; vụ giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam trên Biển Đông năm 2014; sự kiện tàu Hải Dương 8 của Trung Quốc khảo sát trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa phía Nam Biển Đông của Việt Nam (từ ngày 4/7/2019 đến ngày 24/10/2019); Hay ngày 07/8/2023, vụ xịt vòi rồng tàu Philippines… và nhiều nội dung xuyên tạc đường lối đối ngoại, chính sách quốc phòng và chủ trương giải quyết tranh chấp để bảo vệ chủ quyền biển, đảo; kích động, gây chia rẽ mối quan hệ ngoại giao Việt Nam - Philippies; Việt Nam - Trung Quốc,các hoạt động tập trận trên Biển Đông tại một số thời điểm…

Những sự việc này được các tổ chức, đối tượng phản động triệt để khai thác, nhào nặn, biến tấu thành những luận điệu xảo trá, vu cáo như “Việt Nam nhu nhược, hèn nhát”, “chính quyền Việt Nam làm ngơ về Biển Đông”, trên trang blog BBC Tiếng Việt tán phát bài “Biển Đông: Xịt vòi rồng tàu Philippines, Trung Quốc muốn thử phản ứng, Việt Nam cần ứng phó như thế nào”; kích động, gây chia rẽ mối quan hệ ngoại giao Việt Nam - Philippies; Việt Nam - Trung Quốc,… Không những thế, các thế lực xấu còn vẽ ra “thuyết âm mưu” khi cho rằng Việt Nam cần phải liên minh quân sự với những nước lớn có thực lực kinh tế, quốc phòng - an ninh mạnh thì mới đủ sức bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia. Nhiều bài viết phê phán rằng, Việt Nam thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không” là “tự trói mình” vì tiềm lực kinh tế, quốc phòng - an ninh Việt Nam hiện nay là quá yếu, không thể ba không, bốn không mà xoay xở được; từ đó họ vẽ ra một viễn cảnh cần phải liên minh với Mỹ thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền biển, đảo và bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc…

Như chúng ta đã biết Biển, đảo là bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, cấu thành chủ quyền quốc gia, cửa ngõ giao lưu quốc tế, có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước. Bảo vệ biển, đảo chính là bảo vệ một phần máu thịt thiêng liêng của Tổ quốc, giữ vững chủ quyền biển, đảo sẽ góp phần giữ vững chủ quyền của đất nước. Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Việt Nam là điều kiện, nội dung giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, duy trì hòa bình, ổn định và phát triển bền vững.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”. Thực tế cho thấy, mỗi khi chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên Biển Đông bị xâm phạm, lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta luôn thể hiện tinh thần đấu tranh kiên quyết, kiên trì bằng các biện pháp hòa bình, đó là thông qua các diễn đàn, các cuộc gặp gỡ trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao...

Điều này đã được nêu rõ trong các nghị quyết của Đảng và được chứng minh qua việc giải quyết vấn đề Biển Đông của Việt Nam, với tinh thần thượng tôn pháp luật, giải quyết hòa bình các tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế và Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982); kiềm chế, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực; thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và sớm đạt được Bộ quy tắc ứng xử tại Biển Đông (COC).

Còn luận điệu “Biển Đông: Xịt vòi rồng tàu Philippines, Trung Quốc muốn thử phản ứng, Việt Nam cần ứng phó như thế nào?” là sự kích động nằm trong âm mưu của chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực phản động, thù địch nhằm chia rẽ mối quan hệ giữa Việt Nam và Philippines. Hai nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Philippines được thiết lập ngoại giao vào ngày 12/7/1976 sau khi kết thúc chiến tranh lạnh. Cùng với việc mở rộng chính sách đối ngoại của Việt Nam, quan hệ giữa hai nước đã ấm lên và phát triển không ngừng trên nhiều lĩnh vực và trước thềm hội nghị APEC 2015 ở Manila, Chính phủ hai nước đã ký kết thoả thuận nâng cấp mối quan hệ lên tầm đối tác chiến lược. Đối với Trung Quốc, Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng, núi liền núi, sông liền sông, có nhiều điểm tương đồng về lịch sử, văn hóa và thể chế chính trị, tình cảm hữu nghị giữa hai nước đã được xây dựng qua nhiều thế hệ; đến nay, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn coi trọng quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác bình đẳng đôi bên cùng có lợi. Cùng với đó, những năm gần đây, hai nước đã có những đàm phán, ký kết và thỏa thuận là kiên trì giải quyết hòa bình vấn đề Biển đông trên cơ sở luật pháp quốc tế, Công ước Liên hiệp quốc về Luật Biển năm 1982 và tinh thần tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển đông. Như vậy, luận điệu “Biển Đông: Xịt vòi rồng tàu Philippines, Trung Quốc muốn thử phản ứng, Việt Nam cần ứng phó như thế nào?" chính là sự khiêu khích, bởi quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước ta về vấn đề Biển Đông đã rõ ràng, chứng tỏ họ không có tinh thần xây dựng đất nước, mà thực chất là đang kích động bạo lực, kích động chiến tranh và làm xấu đi quan hệ ngoại giao của Việt Nam với các nước láng giềng.

Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã chủ động, tích cực giải quyết từng bước những tồn tại về biên giới lãnh thổ trên biển và đất liền với các nước liên quan nhằm thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác, góp phần củng cố hoà bình, an ninh khu vực, đồng thời tăng cường thế và lực của đất nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam đã ký nhiều văn bản với các nước liên quan đến biển, đảo. Bên cạnh đó, Việt Nam đã xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia về biển, tạo khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động khai thác, quản lý và bảo tồn các nguồn tài nguyên biển phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, phục vụ nhiệm vụ tập trung phát triển kinh tế, thúc đẩy quan hệ kinh tế của Việt Nam với các nước, nâng tầm vị thế của nước ta trên trường quốc tế. Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Chính sách quốc phòng của Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế; tích cực, chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, thực hiện phương châm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, sẵn sàng chống chiến tranh xâm lược. Chúng ta không đi với nước này để chống lại nước kia; không thụ động chịu tác động hay sự lôi kéo của bất cứ nước lớn nào, nhất là tránh việc trở thành con bài trong tay các nước lớn. Chúng ta thực hiện đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển, góp phần duy trì môi trường hoà bình, ổn định cho phát triển.

Vì vậy chúng ta cần nhận diện, đấu tranh với những chiêu trò suy diễn, phê phán đường lối đối ngoại, đường lối bảo vệ độc lập, chủ quyền của Tổ quốc, đòi hỏi phải “chọn phe” để bảo vệ chủ quyền biển đảo. Chúng ta quán triệt phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong giải quyết vấn đề biển, đảo, trong đó chủ quyền biển, đảo là bất biến, sách lược bảo vệ chủ quyền biển, đảo thì mềm dẻo, linh hoạt; chủ động, cần kiên trì, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc vấn đề chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Mục đích của việc đấu tranh này là làm cho nhân dân Việt Nam hiểu rõ về lập trường, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề chủ quyền biển, đảo; củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay/..

NVE40- CHỦ ĐỘNG ĐẤU TRANH PHẢN BÁC NHỮNG THÔNG TIN XUYÊN TẠC, NÓI XẤU CÁN BỘ QUÂN ĐỘI

 Lợi dụng việc một số cán bộ quân đội vi phạm kỷ luật, pháp luật, thời gian qua trên mạng xã hội lan truyền nhiều thông tin sai trái, bóp méo, xuyên tạc nói xấu đội ngũ cán bộ quân đội. Với trò “vơ đũa cả nắm”, bằng cách cắt xén tư liệu, dựng chuyện, bóp méo thông tin, suy diễn một chiều, “nhào nặn” thật - giả lẫn lộn, kẻ xấu lợi dụng một số vụ án liên quan đến cán bộ quân đội để xuyên tạc bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, làm suy giảm uy tín quân đội, kích động chia rẽ mối quan hệ đoàn kết gắn bó giữa quân đội với nhân dân. Những thông tin sai trái ấy không thể đánh lừa được dư luận, bởi lẽ đại đa số cán bộ, đảng viên và nhân dân ta luôn cảnh giác, bình tĩnh, tỉnh táo, sáng suốt trong việc chọn lọc và tiếp nhận thông tin. Tuy nhiên, ở một góc độ nào đó, những thông tin sai trái, bịa đặt kia đã gieo rắc sự hoài nghi trong nhân dân, đặc biệt là trong một bộ phận “cư dân mạng” nhận thức hạn chế, nhẹ dạ, cả tin, thiếu tin tưởng vào bản lĩnh, lòng trung thành, tinh thần tận trung với nước, tận hiếu với dân của đội ngũ cán bộ quân đội.

Sự quan tâm của người dân đến sự trưởng, lớn mạnh và cả những hạn chế, khuyết điểm, nhất là trong việc chấp hành kỷ luật, pháp luật của đội ngũ cán bộ quân đội cũng là điều dễ hiểu. Bởi lẽ có quan tâm đến sự trưởng thành, lớn mạnh của quân đội, có quan tâm đến chất lượng đội ngũ cán bộ quân đội thì nhân dân mới có nhu cầu thông tin và tỏ ra lo lắng trước những sự việc, vụ việc liên quan đến cán bộ quân đội. Thế nhưng, bên cạnh những thông tin tích cực góp phần định hướng dư luận, một thực tế đang diễn ra là các thế lực thù địch, những phần tử phản động, cơ hội chính trị gia tăng các hoạt động chống phá quân đội. Nắm bắt được nhu cầu thông tin cao của người dân về công tác cán bộ và đội ngũ cán bộ quân đội, các thế lực thù địch, phản động tung lên mạng đủ các loại thông tin bịa đặt, suy diễn, nhận định hồ đồ, vô căn cứ về đội ngũ cán bộ quân đội nói chung và một số cán bộ cụ thể nói riêng nhằm mục đích gây rối, làm nhiễu loạn thông tin, chia rẽ nội bộ và làm phai mờ hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân.

Cần phải khẳng định rằng, sự phát triển của đội ngũ cán bộ là nhân tố quyết định sự trưởng thành, lớn mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; “muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hay kém”. Quán triệt tư tưởng của Người, qua từng thời kỳ cách mạng, Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng luôn đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác cán bộ nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ đủ về số lượng, nâng cao về chất lượng, đáp ứng ngày càng tốt hơn với yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đảng ta xác định xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội là một bộ phận quan trọng trong công tác cán bộ của Đảng. Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” thì trước hết và nòng cốt phải tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh, bởi đây là nhân tố quyết định sức mạnh chiến đấu của quân đội ta.

Thực tế những năm qua cho thấy, đội ngũ cán bộ trong quân đội có lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng; phẩm chất đạo đức trong sáng; phong cách, năng lực lãnh đạo, quản lý, chỉ huy tốt; có tư duy đổi mới, sáng tạo; có tầm nhìn chiến lược, phương pháp làm việc khoa học; có khả năng phân tích và xử lý các tình huống; tinh thần trách nhiệm cao, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, được cán bộ, chiến sĩ và nhân dân tin tưởng, yêu mến.

Tuy nhiên, chúng ta không phủ nhận trong quân đội có một số cán bộ vi phạm kỷ luật, pháp luật. Nhưng cần phải thức rằng, những khuyết điểm, sai phạm của một số cá nhân trong quân đội chỉ là “con sâu làm rầu nồi canh”. Chúng ta không thể “thấy cây mà không thấy rừng”, không thể lấy cái cá thể để suy diễn, quy chụp cái tổng thể. Không thể chủ quan, phiến diện dựa vào khuyết điểm, sai phạm của một vài cá nhân mà phủ nhận sạch trơn vai trò của đội ngũ cán bộ quân đội và công tác cán bộ.

Trước sự chống phá của các thế lực thù địch, trước hết chúng ta phải tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục làm sao để người dân hiểu sâu hơn về bản chất, truyền thống quân đội từ đó có thể tự phòng vệ trước luồng thông tin tiếp nhận, biết đâu là thông tin độc hại và thông tin hữu ích. Mặt khác, cán bộ, đảng viên và người dân, trước hết là cán bộ, chiến sĩ trong quân đội phải luôn đề cao cảnh giác để kịp thời nhận diện, vạch trần, tẩy chay, không tiếp tay cho kẻ xấu lan truyền những thông tin xuyên tạc, bịa đặt, nói xấu cán bộ quân đội. Đặc biệt, các thế lực thù địch, phản động triệt để khai thác ưu thế của công nghệ thông tin, Internet, mạng xã hội đến chống phá, do vậy, chúng ta cần tích cực, chủ động cung cấp thông tin chính thống về quân đội và đội ngũ cán bộ quân đội đến nhân dân. Kịp thời cung cấp thông tin chính thống là cách tốt nhất để không tạo ra khoảng trống cho sự tồn tại của các luận điệu bóp méo, xuyên tạc, bịa đặt. Cung cấp thông tin một cách kịp thời, thường xuyên, chính xác, đầy đủ là sự phản bác có hiệu quả nhất đối với những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, phản động. Trách nhiệm của mỗi chúng ta là phải kịp thời lên tiếng, đấu tranh, đẩy lùi thông tin xuyên tạc, bịa đặt, kiên quyết không để kẻ xấu coi thường kỷ cương phép nước, bôi nhọ uy tín, danh dự của cán bộ quân đội và cá nhân các đồng chí lãnh đạo Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, gây hoang mang dư luận, gây nghi kỵ, chia rẽ đoàn kết nội bộ, ảnh hưởng không tốt đến đội ngũ cán bộ và công tác bộ trong quân đội. Đối với những trường hợp đăng phát những thông tin đăng sai sự thật, mang tính vu khống, bôi nhọ cán bộ quân đội nhất quyết phải làm rõ và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật./.

NVE40- NHỮNG MINH CHỨNG KHẲNG ĐỊNH CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM

Biển đảo Việt Nam là một phần lãnh thổ thiêng liêng không thể tách rời của Tổ quốc được cha ông truyền lại. Cúng ta phải ra sức gìn giữ toàn vẹn phần lãnh thổ này như lời Bác Hồ năm xưa đã dặn “các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước”. “Lãnh thổ Việt Nam là một khối thống nhất và toàn vẹn bao gồm vùng đất, vùng biển và vùng trời. Nước ta có đường bờ biển dài 3260 km, cong hình chữ S, chạy từ thị xã Móng Cái  (Quảng Ninh) ở phía Bắc đến thị xã Hà Tiên (Kiên Giang) ở phía Tây Nam… Nước ta có hơn 4000 hòn đảo lớn nhỏ, phần lớn là các đảo ven bờ và có hai quần đảo ở ngoài khơi xa trên biển Đông là quần đảo Hoàng Sa (thuộc thành phố Đà Nẵng) và quần đảo Trường Sa (thuộc tỉnh Khánh Hòa)… Biển Đông đối với nước ta là một hướng chiến lược quan trọng trong công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế và bảo vệ đất nước. Các đảo và quần đảo tạo thành hệ thống tiền tiêu bảo vệ đất liền, hệ thống căn cứ để nước ta tiến ra biển và đại dương trong thời đại mới, khai thác có hiệu quả các nguồn lợi vùng biển, hải đảo, thềm lục địa.


Biển Đông được coi là 1 trong 5 bồn trũng chứa nhiều dầu khí lớn nhất thế giới. Kinh tế ven biển và thuần biển đã có đóng góp quan trọng vào tổng GDP của cả nước, và cùng với đó, thu nhập bình quân của người dân ven biển đang tăng nhanh. Vùng biển của Việt Nam được phê chuẩn theo công ước của Liên Hiệp Quốc về luật biển năm 1982 và vào năm 1994. Theo đó, một quốc gia ven biển sẽ có 5 vùng biển là: nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Căn cứ để tính chiều rộng của các vùng biển của một quốc gia chính là đường cơ sở và đơn vị đo chính là hải lí. Một hải lí bằng 1852m.

Nước Việt Nam nằm bên bờ phía tây của Biển Đông. Bao đời nay, biển và hải đảo đã gắn bó chặt chẽ với các hoạt động sản xuất và đời sống của dân tộc ta. Ngay từ thời Hùng Vương, tổ tiên chúng ta đã biết khai thác biển, lúc đầu là đánh bắt các hải sản ven bờ, sau tiến ra các đảo và vùng biển xa hơn. Câu chuyện về chàng Mai An Tiêm bị vua cha hiểu lầm đuổi ra đảo hoang đã cùng vợ bỏ sức khai phá và trồng dưa hấu trên hòn đảo gần bờ biển vùng Nga Sơn (Thanh Hóa) đã phần nào phản ánh: Từ xa xưa, người Việt đã tới sinh sống và sản xuất trên các hải đảo ven bờ. Không những vậy, cư dân Lạc Việt thời đó cũng đã có khả năng vượt biển tới những vùng đất xa, bằng chứng là những chiếc thuyền vũ trang có chở nhiều đồ đồng quý giá như trống, bình đồng… mà người ta thấy được ở hầu khắp các đảo lớn thuộc Inđônêxia và ven bờ biển Malaixia, Thái Lan.

Các triều đại phong kiến Việt Nam sau này đều thấy rõ vai trò của biển đối với sự phát triển kinh tế và an ninh quốc phòng.Trên nhiều tấm bản đồ cổ của nước ta cũng như của nước ngoài đều thể hiện chủ quyền biển đảo Việt Nam. Bộ Hồng Đức bản đồ gồm bản đồ cả nước và các địa phương, trong đó có vùng biển, đảo đã ghi lại khá toàn diện hình ảnh của quốc gia Đại Việt ở cuối thế kỉ 14. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu thì trên những bản đồ cổ của Tây Phương và cả những bản đồ từ thế kỉ 15 của Trung Quốc đều dùng địa danh biển Giao Chỉ (tức là biển của Việt Nam) để chỉ vùng biển ở phía đông nước ta. Giao Chỉ là tên gọi do các triều đại phong kiến Trung Quốc dùng để chỉ người và nước Việt Nam xưa. Giao Chỉ là một trong 15 bộ của nước Văn Lang. Các triều đại phong kiến Trung Quốc sau này nhiều khi vẫn dùng tên Giao Chỉ cũng như tên An Nam để chỉ quốc gia và nhân dân Đại Việt.

Sang thế kỉ XIX hoạt động chủ quyền của nhà Nguyễn được tổ chức chặt chẽ, thường xuyên và phong phú hơn, nhất là dưới các triều vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị. Nhà Nguyễn nối tiếp chúa Nguyễn và vương triều Tây Sơn đã thực thi chủ quyền của mình ở Hoàng Sa và Trường Sa dưới nhiều hình thức và biện pháp khác nhau như vãng thám kiểm tra kiểm soát, khai thác các hóa vật và hải sản, tổ chức thu thuế và cứu hộ tàu bị nạn, khảo sát, đo vẽ bản đồ, dựng miếu thờ, lập bia chủ quyền, dựng bài gỗ lưu dấu để ghi nhớ, trồng cây để cho người qua lại dễ nhận biết… Lực lượng ra làm nhiệm vụ ở Hoàng Sa, Trường Sa không chỉ có các đội Hoàng Sa, Bắc Hải, các đội Thủy quân, biền binh, vệ giám thành mà cả binh đinh, dân phu (chủ yếu ở hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định). Mỗi chuyến đi ra Hoàng Sa, Trường Sa đều phải có quyết định của nhà nước dưới hình thức “tờ sai để thi hành công vụ” và nhiều khi chính nhà vua trực tiếp chỉ đạo việc quyết định cho thuyền ra khơi hay tạm dừng lại vì bão gió. Tập tài liệu của Trung Quốc Ngũ quốc Nam hải chư đảo sử liệu hội biên do Hàn Chấn Hoa chủ biên, trang 115 thiên thứ nhất, cũng ghi chép dấu vết trên đảo Vĩnh Hưng (Phú Lâm) ở Hoàng Sa có miếu gọi là Hoàng Sa tự (Hoàng Sa tự được vua Minh Mạng triều Nguyễn cho xây dựng).

Từ khi chiếm lĩnh được hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, ông cha ta đã cho người ra cắm mốc chủ quyền. Khi chính quyền Pháp bảo hộ, họ cũng đã cắm bia chủ quyền ghi “Cộng hòa Pháp- Đế quốc An Nam quần đảo Hoàng Sa”. Vào năm 1956, khi người Pháp rút, bàn giao 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa.Như vậy, qua các căn cứ trên ,chúng ta hiểu rằng Hoàng Sa,Trường Sa là của Việt Nam.Bất kì sự xâm phạm của quốc gia nào vào vùng biển thuộc chủ quyền của chúng ta là đã đi ngược Công ước về luật biển năm 1982 của Liên Hiệp Quốc.

Trong thời gian qua,Trung Quốc đã nhiều lần tái diễn hành vi xâm phạm vùng biển Việt Nam: Tập trận ở vùng biển Hoàng Sa, tàu cá Trung Quốc, tàu dân quân biển, tàu khảo sát Trung Quốc…đi vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Biển Đông của chúng ta lại “nóng”lên trước các hoạt động của Trung Quốc. Trả lời câu hỏi của một số phóng viên trong và ngoài nước liên quan đến diễn biến gần đây ở Biển Đông, Người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng cho biết: “Như đã nhiều lần khẳng định, Việt Nam có chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển ở Biển Đông được xác định theo đúng các quy định của công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 và các nước ở Biển Đông đều là thành viên. Do đó, mọi hoạt động của nước ngoài trên các vùng biển Việt Nam phải tuân thủ các quy định có liên quan của Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, pháp luật Việt Nam. Mọi hoạt động của nước ngoài trên các vùng biển Việt Nam nếu không được phép của Việt Nam đều vô giá trị, xâm phạm vùng biển Viện Nam, vi phạm luật pháp quốc tế và công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982. 

Có thể khẳng định rằng chủ trương nhất quán của Việt Nam là kiên quyết, kiên trì đấu tranh bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 trước bất cứ hành vi nào xâm lược chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên các vùng biển, được xác định phù hợp với công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982. Việt Nam hết sức coi trọng hòa bình, hữu nghị, hợp tác, thiện chí và sẵn sàng giải quyết các tranh chấp bất đồng bằng các biện pháp hòa bình. Trên cơ sở đó, trong thời gian qua, Việt Nam đã triển khai đồng bộ các biện pháp hòa bình để giải quyết vấn đề, đấu tranh yêu cầu tôn trọng vùng biển Việt Nam, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam trên vùng biển của mình, không có hành động làm phức tạp tình hình. Các lực lượng chức năng trên biển của Việt Nam đã và đang thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán một cách hòa bình, đúng pháp luật nhằm bảo vệ vùng biển Việt Nam”. Chúng ta kiên quyết, kiên trì đấu tranh để giữ vững chủ quyền quốc gia của tổ quốc, không để bị động, bất ngờ, không để mất đảo, mất dân, mất đất. Biển đảo là của tiền nhân để lại, một viên đá trên đảo, một ngụm nước biển thuộc chủ quyền của nước mình cũng khống thể để mất đi.   

Vì vậy chúng ta cần có nhận thức đúng đắn về vị trí vai trò của biển, đảo, hiểu biết sâu sắc về truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc để tìm ra phương thức bảo vệ chủ quyền một cách hữu hiệu; Xây dựng, củng cố lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lập tự cường, nâng cao ý thức bảo vệ tổ quốc; Tích cực học tập huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu nhận và hoàn thành các nhiệm vụ Quân đội./.