Thứ Bảy, 11 tháng 8, 2018

Cảnh giác với “dân chủ” mạng

      Tự do internet không có nghĩa tuyệt đối. Không phải ai thích viết gì, nói gì, muốn xâm phạm cá nhân, tổ chức nào trên internet cũng được. Ngày nay, với sự bùng nổ internet, các quốc gia căn cứ đặc điểm, tình hình cụ thể để đề ra các quy định quản lý phù hợp. Điểm mấu chốt là dù quản lý theo phương thức nào thì cũng nhằm bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích cá nhân, tổ chức, tránh các hành vi lạm dụng phạm pháp. 
    Tại những nước phát triển như Hàn Quốc, người dùng phải cung cấp tên thật trên tất cả các nội dung bình luận, entry trên mạng. Đây là quy định chặt chẽ hơn so với nhiều nước khi phần lớn không bắt buộc phải nêu rõ tên thật khi chat, bình luận. Tại Singapore, nhằm thắt chặt an ninh, tất cả các máy tính được sử dụng bởi công chức Singapore sẽ bị cắt mạng internet từ tháng 5-2017. Còn tại Anh, tháng 8-2011, Thủ tướng Anh Cameron đã tuyên bố trước phiên họp của Quốc hội: “Chính phủ sẽ trừng trị nghiêm khắc những phần tử sử dụng các trang mạng xã hội và phương tiện truyền thông xã hội để âm mưu gây bạo loạn và bất ổn xã hội”. 
   Tại “thiên đường tự do” Mỹ thì sao? Điều 2385, Chương 115, Bộ luật Hình sự Mỹ ghi: “Nghiêm cấm mọi hành vi in ấn, xuất bản, biên tập, phát thanh, truyền bá và mọi hình thức vận động, xúi giục lật đổ, tiêu diệt chính quyền bất kỳ cấp nào”. Và thực tế, chính ở Mỹ mới là nơi có nhiều trường hợp bị xử lý vì người sử dụng mạng internet có hành vi xúc phạm, lăng mạ người khác. Đầu tháng 9 vừa qua, báo chí tại Mỹ thông tin, tờ The Huffington Post đã đuổi việc một phóng viên vì người này đã viết bài bịa đặt về tình hình sức khỏe của ứng viên nữ Tổng thống Mỹ - bà Hillary Clinton. 
   Tháng 12-2016, nhằm ngăn chặn thông tin bịa đặt, cực đoan, Chính phủ CHLB Đức đưa ra yêu cầu các hãng cung cấp dịch vụ mạng xã hội thành lập văn phòng phản ứng ngay trong vòng 24h khi có phản ánh về phát ngôn cực đoan hoặc thông tin bịa đặt, và sẽ phạt các công ty này nếu không chấp hành, mức phạt là 500.000 Euro cho mỗi lần không thực hiện.
    Rõ ràng, với hành động lợi dụng internet để xúc phạm người khác, nguy hại hơn là xâm phạm an ninh quốc gia, chống phá đất nước thì không có quốc gia nào dung túng. Việt Nam đưa ra các quy định pháp luật để quản lý mạng internet là phù hợp luật pháp quốc tế và thực tiễn chung của các quốc gia trên thế giới.
     Ai cũng có quyền tiếp cận thông tin, nhưng mỗi người hãy tự biết cách bảo vệ mình trước những thông tin sai trái, bịa đặt, độc hại. Quyền tự do thể hiện quan điểm, chính kiến nhưng quyền ấy là có ranh giới, cần tỉnh táo nhận diện để không bị rơi vào sự hỗn độn thông tin, không bị kẻ xấu hướng lái, lôi kéo, biến mình thành nhà “dân chủ mạng”, trở thành con rối của kẻ địch, sử dụng mạng internet thành công cụ xâm hại cá nhân, tổ chức, xâm hại quốc gia, dân tộc mà mình là chủ thể có nghĩa vụ bảo vệ, gìn giữ. 
    Cần đặc biệt cảnh giác với các thông tin bịa đặt, độc hại trên không gian mạng của các thế lực thù địch, phản động hòng chia rẽ nội bộ, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân và phải nghiêm trị hành vi sử dụng mạng internet phá hoại nội bộ, bôi nhọ, hạ uy tín lãnh đạo Đảng, Nhà nước./.





VÀI NÉT VỀ NGƯỜI ĐỨNG RA THÀNH LẬP "HỘI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM"

       Thời gian gần đây xuất hiện cái gọi là “Hội người có công với cách mạng Việt Nam”, người thành lập Hội này như thế nào? Nhân thân của anh ta ra sao, có đủ tư cách đứng ra thành lập một tổ chức được gọi là “Hội người có công với cách mạng Việt Nam”?
Người đứng ra kêu gọi thành lập “Hội người có công với cách mạng Việt Nam” là Nguyễn Ngọc Luân, sinh năm 1942. Quê quán: thôn Khánh Lộc, xã Hà Giang, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa; Tạm trú: số 8, Tô Hiệu, Hà Đông, Hà Nội. Quá trình công tác: Sau thời gian nhập ngũ, công tác tại dl/Lữ đoàn 144/Bộ Tổng Tham mưu (1966-1977), cấp bậc: Thượng sĩ; tháng 5/1977 chuyển ngành sang Ngân hàng Nhà nước rồi đi lao động xuất khẩu tại Cộng hòa Dân chủ Đức; năm 1979 về nước, làm giáo viên Trường cao cấp nghiệp vụ ngân hàng (nay là Học viện Ngân hàng), năm 1989, nghỉ theo chế độ mất sức lao động và tham gia sinh hoạt tại Hội Cựu chiến binh phường Quang Trung, Đống Đa, Hà Nội (hiện nay, Hội Cựu chiến binh phường Quang Trung đã đề nghị xóa tên khỏi danh sách vì Nguyễn Ngọc Luân không tham gia sinh hoạt).
Như vậy, Nguyễn Ngọc Luân chỉ là Thượng sĩ, nhưng vào trước năm 2009, ông ta tự giới thiệu là Đại tá, Giáo sư, Tiến sĩ và xin tham gia hoạt động trong Hội Truyền thống Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh. Trong quá trình hoạt động, Nguyễn Ngọc Luân đã tự nhận là Chủ tịch Hội nạn nhân chất độc da cam Bộ đội Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh và tổ chức kêu gọi, quyên góp ủng hộ tiền từ các nguồn khác nhau, tổ chức Lễ báo công dâng Bác vào sáng ngày 11/4/2009 tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, lấy mẫu huy hiệu của Hội Truyền thống Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh đem đặt làm thêm rồi cấp phát cho hội viên và tổ chức thu tiền không minh bạch. Do vi phạm các quy định, Hội Truyền thống Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh đã không cho Nguyễn Ngọc Luân tham gia hoạt động trong Hội.
Sau đó, Nguyễn Ngọc Luân vẫn tổ chức các hoạt động dưới danh nghĩa “Hội nạn nhân chất độc Da cam/Dioxin Bộ đội Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh” và tự nhận là “Trưởng Ban Liên lạc Hội người có công với cách mạng Việt Nam” từ năm 2010. Đồng thời vận động một số người khác tham gia “Ban Liên lạc Hội người có công với cách mạng Việt Nam. Trong thời gian này, Nguyễn Ngọc Luân còn tham gia sinh hoạt trong “Ban Liên lạc cựu chiến binh bộ đội công binh tỉnh Hà Tây” và nhận là Trưởng ban Liên lạc.
Như vậy, Nguyễn Ngọc Luân không phải người đàng hoàng, mới Thượng sĩ mà tự xưng là Đại tá, không có học hàm, học vị mà tự nhận là giáo sư, tiến sĩ. Hoạt động không minh bạch nên bị Hội Truyền thống Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh không cho Nguyễn Ngọc Luân tham gia hoạt động trong Hội. Điều đó cho thấy nhân thân của ông ta không tốt, không đủ tư cách đứng ra thành lập, kêu gọi thành lập “Hội người có công với cách mạng Việt Nam”.














TIẾP LỬA HOÀN LƯƠNG SỰ NHÂN ĐẠO TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Pháp luật luôn tồn tại tư tưởng, văn hoá, bản chất của nhà nước, con người Việt Nam đó là: “Đánh kẻ chạy đi, không đánh người chạy lại”. Mục đích chính của hình phạt không phải là trừng trị mà là giáo dục và cảm hoá, giúp họ nhận ra cái sai của mình và đưa họ sớm trở về với cuộc sống xã hội.
Trong một vài tuần tới, các trại giam trên cả nước sẽ thực hiện tha tù trước thời hạn có điều kiện, nhiều phạm nhân sẽ sớm được trở về với gia đình.
Là những người một thời lầm lỡ, lệch chuẩn nhân cách, do đó, gia đình của các phạm nhân đều mong muốn sau khi ra trại họ sẽ có cuộc sống lương thiện, có việc làm và thu nhập ổn định. Vì vậy, công tác đào tạo nghề cho phạm nhân trong các trại giam đã thường xuyên được tổ chức, đem lại hiệu quả cao trong lao động sản xuất và giáo dục người phạm tội.
Bên cạnh đó các phạm nhân phải nỗ lực hết mình trong chấp hành án, quá trình ở đây họ được giáo dục về nhân cách, ý thức xã hội để dần cải tạo trở thành người có ích cho xã hội và gia đình./.


Thứ Sáu, 10 tháng 8, 2018

NHẬN DIỆN RÕ RÀNG, ĐẤU TRANH KIÊN QUYẾT VỚI ÂM MƯU LỢI DỤNG VẤN ĐỀ THAM NHŨNG ĐỂ CHỐNG PHÁ VIỆT NAM

        Đấu tranh phòng, chống tham nhũng (PCTN) là một bộ phận quan trọng cấu thành toàn bộ sự nghiệp đấu tranh cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Không phải đến bây giờ mà cuộc đấu tranh PCTN đã được tiến hành ở Việt Nam kể từ khi Đảng ta ra đời và lãnh đạo cách mạng Việt Nam năm 1930 cho đến nay...
Có thể nói, chưa bao giờ công tác đấu tranh PCTN lại được Đảng, Nhà nước ta lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt như thời gian gần đây. Giữa lúc quyết tâm chính trị, tinh thần đấu tranh PCTN của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang lên cao thì các thế lực thù địch, phản động, những phần tử cơ hội lại ra sức lợi dụng vấn đề này để tiến hành các hoạt động chống phá. Hơn lúc nào hết, trách nhiệm của mỗi chúng ta là phải nhận thức rõ ràng, đấu tranh kiên quyết với những âm mưu, thủ đoạn đó.
Những giọng điệu xuyên tạc, bịa đặt trắng trợn
Trong thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động và những phần tử cơ hội chính trị thường xoáy sâu vào những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, trong đó tham nhũng là vấn đề được chúng triệt để lợi dụng. Cả thế giới đã thừa nhận, tham nhũng là tệ nạn mang tính toàn cầu, tham nhũng xuất hiện và tồn tại ở mọi quốc gia trên thế giới, các nước dù đi theo chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) hay tư bản chủ nghĩa đều phải đối mặt với tệ nạn này, nguyên nhân dẫn đến tham nhũng không phải do chế độ chính trị hay do đảng phái nào nắm quyền lãnh đạo đất nước... Thế nhưng các thế lực thù địch, phản động lại ra sức rêu rao rằng: “Chế độ một đảng cầm quyền là nguyên nhân sinh ra tệ tham nhũng”; “do đảng cầm quyền độc đoán cai trị nên tình trạng tham nhũng xảy ra...”; “tham nhũng là sản phẩm tất yếu của chế độ công hữu tư liệu sản xuất, chuyên chế độc đảng”... Không chỉ vậy, họ còn cho rằng: Tham nhũng chỉ xuất hiện ở những nước đi theo con đường XHCN, “tham nhũng là vấn đề thuộc bản chất của chế độ XHCN ở Việt Nam”... Thực chất của giọng điệu ấy không gì khác là lợi dụng cuộc đấu tranh chống tham nhũng để xuyên tạc, bịa đặt, nói xấu hòng làm suy giảm uy tín tiến tới mục tiêu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam. Khi mà chúng ta chưa đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng hoặc đã làm nhưng kết quả chưa rõ nét thì họ cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam không thể đấu tranh chống tham nhũng, suy thoái thành công vì Đảng cũng tham nhũng, suy thoái”... Khi Đảng và Nhà nước ta thể hiện quyết tâm chính trị, đẩy mạnh cuộc đấu tranh PCTN, kiên quyết xử lý hàng loạt cán bộ, đảng viên có hành vi tham nhũng, tiêu cực thì chúng lại tung ra những giọng điệu lạc lõng, dựng chuyện, xuyên tạc rằng thực chất cuộc đấu tranh PCTN ở Việt Nam hiện nay là “cuộc chiến thanh trừng phe phái trong nội bộ Đảng”, "là sự đấu đá nội bộ, phe phái trong Đảng Cộng sản Việt Nam". Đề cập đến câu hỏi làm thế nào để dẹp bỏ nạn tham nhũng ở Việt Nam, họ cho rằng: “Chỉ khi nào ở Việt Nam có chế độ đa đảng thì nạn tham nhũng mới có thể dẹp bỏ được”... Từ những thông tin cóp nhặt trên mạng xã hội, họ còn vẽ ra, dựng nên những câu chuyện nói rằng các phe nhóm nội bộ ở Trung ương và địa phương đang đấu đá nhau... Đặc biệt, họ thường suy diễn, chụp mũ, xuyên tạc những ý kiến chỉ đạo chống tham nhũng của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và một số đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước... Những giọng điệu ấy không nhằm mục đích gì khác là xuyên tạc mục đích, ý nghĩa tốt đẹp của cuộc đấu tranh này; bôi nhọ, hạ thấp uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước; chia rẽ nội bộ ta, gây phân tâm trong xã hội, làm giảm sút ý chí, quyết tâm PCTN và lòng tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ.
Kết quả của công tác chống tham nhũng là không thể phủ nhận
Cần khẳng định rõ rằng những âm mưu, thủ đoạn nham hiểm, tinh vi, những giọng điệu xuyên tạc, bịa đặt lạc lõng ấy không thể phủ nhận được sự cố gắng, quyết tâm chính trị và những thành quả trong cuộc đấu tranh PCTN của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Trong 5 năm gần đây, đặc biệt là những năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XII, công tác PCTN được Đảng, Nhà nước ta chỉ đạo rất quyết liệt, tạo được một bước tiến mạnh, đạt được nhiều kết quả quan trọng, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội. Nhiều vụ án tham nhũng, kinh tế đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm được phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh, đúng pháp luật, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai. Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng đến nay, có gần 1.300 đảng viên bị thi hành kỷ luật do tham nhũng và cố ý làm trái. Tòa án nhân dân các cấp cũng đã xét xử sơ thẩm 436 vụ án, với 1.118 bị cáo về các tội tham nhũng. Các lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực, tham nhũng đã được Thanh tra Chính phủ tập trung thanh tra, kiểm tra. Qua đó, đã chuyển cơ quan điều tra xử lý hình sự 188 vụ với 335 đối tượng. Kiểm toán Nhà nước cũng đã kiểm toán 434 đơn vị đầu mối, kiến nghị thu hồi về cho ngân sách Nhà nước hơn 65.000 tỷ đồng.
Các cơ quan chức năng đã chủ động, công khai cung cấp thông tin, định hướng dư luận trong hoạt động PCTN, phát huy vai trò tích cực của các cơ quan truyền thông, báo chí trong PCTN. Vai trò, trách nhiệm của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội, các tổ chức xã hội và người dân trong PCTN ngày càng được phát huy tốt hơn... Hoạt động hợp tác quốc tế về PCTN được mở rộng. Kết quả công tác PCTN của Việt Nam những năm gần đây đã được các tổ chức quốc tế ghi nhận có nhiều chuyển biến tích cực. Theo đánh giá của Tổ chức Minh bạch quốc tế, chỉ số cảm nhận tham nhũng của Việt Nam tăng liên tiếp trong hai năm sau nhiều năm giữ nguyên, từ 31 điểm năm 2015 tăng lên 35 điểm trong năm 2017.
Ngoài việc góp phần tạo ra bước phát triển về kinh tế-xã hội, công tác đấu tranh PCTN góp phần tăng cường, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng, vào chế độ XHCN. Kết quả của công tác PCTN đã tạo động lực mới, khí thế mới để toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng. Những kết quả ấy càng khẳng định rõ quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước về PCTN. Đồng thời đó cũng là minh chứng để khẳng định rõ việc đẩy mạnh PCTN, xây dựng, chỉnh đốn Đảng, kiên quyết xử lý nghiêm khắc nhiều cán bộ, đảng viên sai phạm không làm hạn chế sức sáng tạo, tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của những người tâm huyết, vì sự nghiệp đổi mới của Đảng, với động cơ trong sáng, lành mạnh, không “làm chậm” sự phát triển, mà ngược lại làm trong sạch, tạo sức mạnh thật sự của bộ máy và đội ngũ cán bộ, củng cố và tăng cường lòng tin của nhân dân, tạo động lực mới, khí thế mới để thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ, thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới đất nước. Những kết quả đó càng chứng tỏ những luận điệu của các thế lực phản động về cuộc đấu tranh PCTN của Việt Nam là xuyên tạc, bịa đặt, vô căn cứ.
Không thế lực nào có thể làm nhụt ý chí của chúng ta
Thực tế đã khẳng định cuộc đấu tranh PCTN của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta là trong sáng, công khai, minh bạch, khách quan, tôn trọng nhân dân và coi trọng dư luận; không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai. Những kết quả bước đầu đã để lại cho chúng ta những bài học quan trọng. Nhưng cần đặc biệt nhấn mạnh, đó là sự thống nhất một ý chí, một quyết tâm chống tham nhũng trong toàn Đảng. Chính quyết tâm chính trị của Đảng là lời hiệu triệu lòng dân và những cán bộ, đảng viên đồng lòng trong cuộc chiến này. Kết quả của cuộc đấu tranh PCTN thời gian qua cho thấy quần chúng nhân dân và toàn xã hội đã đặt trọn niềm tin, tích cực ủng hộ ý chí quyết tâm, nỗ lực đấu tranh PCTN của Đảng... Nhưng cũng cần phải thấy ngay rằng những kết quả quan trọng đạt được mới chỉ là bước đầu. Tình hình tham nhũng, tiêu cực và tệ quan liêu, lãng phí vẫn còn nhiều, phổ biến trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Bên cạnh sự vào cuộc quyết liệt của nhiều cơ quan, tổ chức, lực lượng, đơn vị, địa phương thì ở đâu đó vẫn còn những biểu hiện thiếu kiên quyết, né tránh, tình trạng "trên nóng, dưới lạnh", "trên vội vã, dưới thư thả". Thực tế ấy đòi hỏi muốn làm sạch đội ngũ đảng viên trong toàn Đảng, trong sạch đội ngũ cán bộ trong toàn bộ máy, Đảng ta phải có bản lĩnh và quyết tâm chính trị cao.
Thời gian tới, khi mà cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực càng được đẩy mạnh thì các thế lực thù địch, phản động cũng sẽ gia tăng sự chống phá. Dù cam go, phức tạp, dù khó khăn đến mấy cũng không ai có thể phủ nhận, xóa nhòa những thành công của chúng ta, không ai có thể làm nhụt ý chí, quyết tâm của chúng ta. Vấn đề đặt ra là chúng ta phải đề cao cảnh giác, nhận diện rõ ràng về những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, những phần tử cơ hội để từ đó kiên quyết đấu tranh bác bỏ những luận điệu sai trái, phản động hòng phá hoại, ngăn cản cuộc đấu tranh PCTN của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta./.
ADMIN.PSY11
       (ST)


KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC, CẢN TRỞ LUẬT AN NINH MẠNG ĐI VÀO CUỘC SỐNG

       Kỳ họp thứ năm, Quốc hội khóa XIV (từ ngày 21-5 đến 15-6-2018) đã thảo luận và quyết định nhiều vấn đề quan trọng. Tại kỳ họp này, công tác xây dựng pháp luật chiếm tới 2/3 thời gian. Kết thúc kỳ họp, Quốc hội đã thông qua 8 dự án luật, trong đó có Luật An ninh mạng.
Luật An ninh mạng được các đại biểu Quốc hội lấy ý kiến cử tri từ tháng 3-2017. Ngay tại kỳ họp, trước giờ biểu quyết, thông qua, một số điều còn có ý kiến khác nhau như Điều 10 và Điều 26 cũng được lấy ý kiến tại Quốc hội. Trong thời gian diễn ra kỳ họp, các cơ quan soạn thảo Luật An ninh mạng và Quốc hội đã lắng nghe, tiếp thu nhiều ý kiến của các cơ quan, các nhà khoa học và người dân… chỉnh lý văn bản nên luật đã được Quốc hội thông qua với tỷ lệ cao (86,86% đại biểu tán thành). Ngày 28-6-2018, Văn phòng Chủ tịch nước đã họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước về công bố Luật An ninh mạng cùng 6 luật khác vừa được Quốc hội thông qua. Luật An ninh mạng sẽ có hiệu lực kể từ ngày 1-1-2019. 
Thế nhưng cho đến nay, nhiều hãng thông tấn, báo chí phương Tây và nhiều website có máy chủ ở nước ngoài vẫn cố tình xuyên tạc, cản trở Luật An ninh mạng đi vào cuộc sống. Họ nói rằng: “Luật An ninh mạng mở đường cho một cuộc trấn áp mới!”; rằng “Luật An ninh mạng gây quan ngại về quyền con người và ảnh hưởng tới thương mại quốc gia”...
Sau khi Luật An ninh mạng được Quốc hội thông qua, từ thông tin mạng ở nước ngoài dẫn dắt, một số kẻ chống phá trong nước đã kích động người dân dẫn đến một số cuộc biểu tình gây rối ở một vài nơi. Trong những cuộc biểu tình gây rối này, khẩu hiệu được in sẵn và tán phát từ trước. Có thể nói, các thế lực thù địch đã có cả một kế hoạch khá chi tiết, bài bản nhằm xuyên tạc, cản trở Luật An ninh mạng đi vào cuộc sống.
Vậy vì sao Việt Nam cần có Luật An ninh mạng? Luật An ninh mạng có xâm phạm các quyền và lợi ích của người dân, có cản trở Nhà nước Việt Nam thực hiện các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết gia nhập không? Mục đích xuyên tạc, cản trở Luật An ninh mạng đi vào cuộc sống của những kẻ chống phá là gì?
Trước hết, vì sao Việt Nam cần phải có Luật An ninh mạng?
Khác với các thời kỳ lịch sử trước, bảo vệ Tổ quốc là bảo vệ biên cương, bảo vệ vùng đất, vùng trời, vùng biển của đất nước, ngày nay, bảo vệ Tổ quốc còn phải bảo vệ không gian điện tử của Tổ quốc. Thực tế cho thấy từ khi internet, mạng xã hội ra đời đến nay đã từng diễn ra việc lợi dụng internet, mạng xã hội để tập hợp lực lượng, kích động biểu tình, gây rối, kêu gọi lật đổ chính quyền. Ngày nay, các thế lực thù địch đã có thêm một phương thức mới để chống phá nhà nước, đó là sử dụng internet, mạng xã hội để tấn công cơ quan, tổ chức, thậm chí còn có thể gây bạo loạn, lật đổ chế độ xã hội. Chẳng hạn, chúng sử dụng hacker (tin tặc) gây ra những bất ổn về kinh tế, chính trị, xã hội. Còn nhớ tháng 3-2017 xảy ra vụ việc tin tặc tấn công hàng loạt website sân bay trong nước, khiến cho nhiều chuyến bay bị gián đoạn, đảo lộn.
Internet, mạng xã hội từng là phương thức tán phát thông tin thất thiệt vì những mục tiêu hiểm độc, đê hèn, như: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản đến khủng bố tinh thần-đe dọa đưa lên mạng những thông tin cá nhân, đời tư, khiến nhiều gia đình tan nát, cuộc sống bị xáo trộn, thậm chí không ít người còn tìm đến cái chết...
Tuy nhiên, điều nguy hiểm hơn là các thế lực thù địch sử dụng internet, mạng xã hội để thực hiện kế hoạch lật đổ chế độ, Nhà nước bằng việc kích động người dân tụ tập đông người, biểu tình “bất bạo động” gây bất ổn chính trị xã hội, gây ra hậu quả khôn lường. Vì vậy, Nhà nước Việt Nam cần có chế tài nghiêm minh đối với tội phạm mạng là điều hết sức cần thiết.
Thứ hai, Luật An ninh mạng có xâm phạm các quyền và lợi ích của người dân, có cản trở Nhà nước Việt Nam thực hiện các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết gia nhập không?
Luật An ninh mạng gồm 7 chương, 43 điều. Nguyên tắc bảo vệ an ninh mạng là: (1) Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; (2) Đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý thống nhất của Nhà nước; … (3) Kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ bảo vệ an ninh mạng… bảo đảm quyền con người, quyền công dân, tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân hoạt động trên không gian mạng…” (Điều 4).
Luật An ninh mạng chỉ quy định các chế tài đối với việc sử dụng không gian mạng để thực hiện hành vi chống Nhà nước, xâm phạm quyền và lợi ích của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Đó là những hoạt động: (1) Tổ chức, hoạt động, cấu kết, xúi giục, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo, đào tạo, huấn luyện người chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; (2) Xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc…; (3) Thông tin sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân, gây thiệt hại cho các hoạt động kinh tế-xã hội… xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác; (4) Hoạt động mại dâm, tệ nạn xã hội, mua bán người; đăng tải thông tin dâm ô, đồi trụy, tội ác; phá hoại thuần phong mỹ tục của dân tộc…; (5) Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội... (6) Lợi dụng hoặc lạm dụng hoạt động bảo vệ an ninh mạng để xâm phạm chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân hoặc để trục lợi” (Điều 8).
Luật An ninh mạng có vi phạm các cam kết với Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) hay không và các doanh nghiệp mạng lớn như Google, Facebook sẽ rời khỏi Việt Nam?
Theo Tờ trình của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các hiệp định WTO và CPTPP đều có điều khoản ngoại lệ về an ninh. Theo đó, Việt Nam có quyền yêu cầu các doanh nghiệp trong và ngoài nước cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, internet và các dịch vụ phải lưu trữ dữ liệu quan trọng của người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam-đặt máy chủ ảo tại Việt Nam là hoàn toàn hợp pháp. Được biết, cho đến nay đã có hơn 18 quốc gia thành viên của WTO (trong đó có Hoa Kỳ, Canada, Australia, Đức, Pháp) có quy định bắt buộc các doanh nghiệp mạng phải lưu trữ dữ liệu trong lãnh thổ nước mình. Theo Ủy ban Thường vụ Quốc hội, hiện nay, Google và Facebook đang lưu trữ dữ liệu của cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam tại trung tâm dữ liệu đặt ở Hồng Công (Trung Quốc) và Singapore. Luật An ninh mạng có hiệu lực thì các doanh nghiệp này phải chuyển lưu trữ dữ liệu về Việt Nam là hoàn toàn khả thi.
Còn các doanh nghiệp mạng lớn như Google, Facebook đã có mặt tại Việt Nam thì sao? Việt Nam hiện là một thị trường lớn của họ. Hơn nữa, cung cấp các dịch vụ mạng hiện nay cũng là một thị trường mà các quốc gia có thể lựa chọn theo quan điểm của mình. Với Việt Nam, bảo vệ, bảo đảm an ninh quốc gia trên không gian mạng luôn được đặt lên hàng đầu. Đây là điều mà Google và Facebook chắc chắn phải cân nhắc. Gần đây, ngày 5-7, khi mạng xã hội facebook ghi tên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào vùng biển của Trung Quốc đã nhận được sự phản ứng mạnh mẽ của cư dân mạng Việt Nam và của Bộ Thông tin và Truyền thông. Cuối cùng, mạng xã hội lớn nhất thế giới này đã phải sửa sai và xin lỗi Việt Nam.
Xét về quyền và lợi ích cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, Luật An ninh mạng hoàn toàn không hạn chế về quyền và lợi ích của nhóm đối tượng trên, vì chế tài của Luật An ninh mạng chỉ áp dụng đối với những hành vi phạm tội (thông qua lợi dụng internet, mạng xã hội-Điều 8). Mặt khác, Luật An ninh mạng còn bảo vệ người dân và doanh nghiệp luôn có một môi trường thông tin chân thực, lành mạnh, thoát khỏi tình trạng bị ô nhiễm như đối với không khí, nước uống và thực phẩm sạch cho tinh thần.
Thứ ba, mục đích xuyên tạc, cản trở Luật An ninh mạng đi vào cuộc sống của những kẻ xấu là gì?
Khác với Luật Báo chí, Luật Tiếp cận thông tin, Nghị định của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin mạng…, Luật An ninh mạng đã có những quy định cụ thể nhằm loại bỏ thông tin xấu độc, độc hại ngay tại gốc, từ những trang mạng mà các thế lực thù địch đang sử dụng để chống phá chế độ xã hội, Nhà nước Việt Nam. Đồng thời, Luật An ninh mạng là cơ sở pháp lý và cơ sở khoa học xử lý những kẻ lợi dụng internet, mạng xã hội để chống phá chế độ xã hội, Nhà nước và làm tổn hại đến cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp của Việt Nam. Căn cứ vào luật này, các cơ quan chức năng có quyền yêu cầu các nhà mạng phải cung cấp đầy đủ thông tin của những tài khoản tán phát thông tin độc hại… và đây là nỗi lo lớn của những kẻ xấu.
ADMIN.PSY11
                                                                                                (ST)

Chủ Nhật, 5 tháng 8, 2018

Xây dựng và củng cố niềm tin trong nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ”

          Một trong những vấn đề nổi cộm đang tác động mạnh mẽ đến trạng thái chính trị tinh thần của người lính hiện nay là vấn đề niềm tin vào tư­ơng lai và tiền đồ của đất nư­­ớc, tin vào khả năng bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt nam XHCN tr­­ước sự phá hoại và đe doạ của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động.
           Niềm tin là nguồn gốc của ý chí và hành động ý chí. Nhờ có niềm tin mãnh liệt vào tư­ơng lai, tiền đồ sáng lạn của Tổ quốc mà toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đang nỗ lực ý chí để v­ượt qua những thách thức to lớn của thời đại, vững bư­­ớc tiến theo định hướng XHCN, đạt tới mục tiêu “dân giàu, n­ước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”, kế tục mục tiêu đã đạt được “ai cũng đều có cơm ăn, áo mặc, ai cũng đư­ợc học hành”. Niềm tin còn giúp cho mỗi cán bộ chiến sĩ trong lực lư­ợng vũ trang nhân dân tinh chọn những giá trị mới một cách phù hợp và biết giữ gìn, phát huy những giá trị vĩnh hằng của dân tộc chứa đựng trong truyền thống yêu nư­­ớc lâu đời.
          Niềm tin vốn là một trong những thành tố tâm lí phức tạp nhất của con ngư­­ời. Niềm tin là sự phản ánh, sự thừa nhận, chấp nhận tự giác về lẽ phải và chân lí, thừa nhận xu hướng phát triển tất yếu của xã hội. Niềm tin chỉ thuộc về nhân cách khi nhân cách bị thuyết phục, là kết quả của trải nghiệm cuộc sống mà trong đó con ngư­­ời luôn so sánh, đối chiếu giữa nhận thức với thực tiễn, giữa cái đư­­ợc nghe và đư­­ợc đọc với hiện thực.
           Cơ sở của niềm tin chân chính, niềm tin khoa học trong nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ” là kiến thức, là sự am hiểu; hạt nhân của niềm tin là tình cảm và thái độ của con ng­ười trư­ớc cuộc sống hiện thực và tư­ơng lai. Do đó, con đường cơ bản để xây dựng niềm tin cho bộ đội là kết hợp giữa nâng cao nhận thức với hoạt động thực tiễn; th­ường xuyên đư­­a các quan điểm, đư­­ờng lối, chính sách của Đảng vào hoạt động huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu; đư­­a các nghị quyết của các cấp bộ đảng vào cuộc sống hàng ngày; đảng viên phải gương mẫu, lời nói phải đi đôi với việc làm.
       Niềm tin tư tưởng là cái cốt lõi tâm linh của bản lĩnh con ngư­ời, bản lĩnh chính trị lại càng như­ vậy. Đây là niềm tin khoa học nhất, tự giác nhất. Ngư­ời ta th­ường nói trọn vẹn niềm tin hay niềm tin trọn vẹn. Tin một phần, nửa tin, nửa ngờ thì không gọi là niềm tin đư­ợc. Niềm tin tư tưởng là kết quả của một nền giáo dục thật sự có chất lư­ợng, không những thế còn là kết quả của sự trải nghiệm. Khẩu phục mà tâm ch­ưa phục thì ngư­ời ta chư­a tin thật sự. Còn những vư­ớng mắc trong nhận thức, những trăn trở trong tư­ duy, những phân vân, nỗi niềm chư­a giải toả thì chưa thể có niềm tin. Trong lịch sử Công tác đảng, công tác chính trị của ta có những thành công lớn: xây dựng niềm tin cho ngư­ời lính trư­ớc cả sự nghiệp chiến đấu, trư­ớc cả từng trận đánh. Có niềm tin tư tưởng thì ngư­ời ta tin vào mục tiêu chiến đấu, tin vào thắng lợi của cách mạng, tin vào tổ chức, tin vào tập thể, tin vào cấp trên, tin vào đồng đội. Để xây dựng và củng cố thêm niềm tin vững chắc cho “Bộ đội Cụ Hồ” đòi hỏi sự nỗ lực to lớn không chỉ của quân đội mà của toàn hệ thống chính trị, giải quyết những vấn đề lớn: làm trong sạch Đảng và bộ máy nhà nư­ớc, chuyên chính thật sự với tệ nạn xã hội, thật sự lập lại trật tự kỷ cư­ơng xã hội, làm thật tốt chính sách đối với hậu phương quân đội, phát huy dân chủ tăng cư­ờng đoàn kết cán bộ, chiến sĩ, chăm sóc chu đáo đời sống tinh thần và vật chất của bộ đội.






Phát huy tối đa nhân tố “con người” trong mọi hoạt động, một trong những biện pháp quan trọng, xây dựng nhân cách Bộ đội Cụ Hồ

        Phát huy nhân tố con ng­­ười là một trong những quan điểm xuyên suốt của Đảng ta trong quá trình CNH, HĐH đất nư­­ớc cũng như­­ trong xây dựng quân đội “chính quy, tinh nhuệ và từng bư­­ớc hiện đại”. Đảng ta đã xác định và nhiều lần tái khẳng định: con ngư­­ời là “yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng tr­­ưởng kinh tế”, con ng­­ười là “vốn quý” giữ vai trò quyết định cho sự phát triển của đất nư­­ớc.
       Đối với cán bộ chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt nam thì việc quán triệt quan điểm t­­ư tư­­ởng của Đảng về nhân tố con ngư­ời và phát huy nhân tố con ng­ười có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Đây không chỉ là sự khẳng định tư­­­ tưởng nhất quán của chúng ta về xây dựng Quân đội chính quy hiện đại như­ng luôn thấm nhuần các quan điểm Mác - xít về vai trò quyết định của nhân tố con ngư­ời trong chiến tranh, về mối quan hệ biện chứng giữa con ng­ư­ời và vũ khí kỹ thuật, về sức mạnh tổng hợp của quân đội nhân dân..., mà còn có ý nghĩa giáo dục rất lớn, rất hiện thời để củng cố và tăng cư­­ờng hơn nữa niềm tin tất thắng cho bộ đội trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay, trư­­ớc những tác động tiêm nhiễm ngày càng gia tăng của quan điểm “vũ khí luận” kể từ sau chiến tranh vùng Vịnh, chiến tranh Ban căng...
Mặt khác, Quân đội nhân dân Việt Nam là một đội quân giàu truyền thống đánh giặc, có ý chí quật cư­­ờng, thông minh và sáng tạo... như­­ng vũ khí, trang bị kĩ thuật chỉ đang trong quá trình “từng bư­­ớc hiện đại” tư­­ơng ứng với quá trình công  nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì tư­ duy về nhân tố con ngư­ời và phát huy nhân tố con ngư­ời lại càng quan trọng hơn.
Khả năng và mức độ phát huy nhân tố con người của mỗi quốc gia, dân tộc cũng nh­ư của­ mỗi quân đội tất yếu phụ thuộc một cách trực tiếp vào “tiềm năng” và “nội lực” vốn có, mà tr­­ước hết là tiềm năng và nội lực tinh thần của dân tộc đó, như­­ng giữa chúng lại không đồng nghĩa và không phải lúc nào cũng tỉ lệ thuận với nhau.
Nhân tố con người là trạng thái động, trạng thái tích cực, là sự hiện hữu của tiềm năng và nội lực và nó chỉ đư­­ợc phát huy trong những điều kiện nhất định. Trong quân đội ta, điều kiện quan trọng nhất, quyết định nhất để phát huy nhân tố con người, để biến tiềm năng và nội lực thành hiện thực là trạng thái chính trị tinh thần của quân nhân và tập thể quân nhân.
Chỉ có nơi nào mà trạng thái chính trị tinh thần của họ thật sự tích cực và lành mạnh thì ở đó mới phát huy được nhân tố con người một cách đúng hướng, ở đó, cán bộ, chiến sĩ mới thật sự hăng hái tích cực đem hết tinh thần và nghị lực phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân và mới cảm nhận hết niềm vinh quang, kiêu hãnh là “Bộ đội Cụ Hồ”. Và cũng chỉ trong trạng thái ấy, các quân nhân mới không bị chiến tranh tâm lí của kẻ thù tha hoá về tinh thần, thao túng về ý thức.
Mặt khác, nhân tố con người là tổng hợp sức mạnh của cả thể chất lẫn tinh thần - tâm lý, trong đó thể chất là yếu tố “tĩnh” và giới hạn hơn nhiều so với tính năng động và phong phú, phức tạp của yếu tố tinh thần. Do đó, phát huy nhân tố con người trong quân đội ta nói chung, trong mỗi đơn vị nói riêng phải chủ yếu hướng vào phát huy nhân tố tinh thần của cán bộ, chiến sĩ, phát huy ở họ tính tích cực sáng tạo trong hoạt động huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, trong quản lí và phát triển cải biến vũ khí, trang thiết bị quân sự; trong tổ chức đời sống hàng ngày. Điều đó cũng chứng tỏ vai trò cực kỳ to lớn của trạng thái chính trị tinh thần của quân đội trong chiến tranh hiện đại. Nếu không xây dựng tốt trạng thái này thì ch­­ưa thể nói tới phát huy nhân tố con người, không thể xây dựng được ý chí quyết chiến quyết thắng và khi đư­a trang thiết bị kỹ thuật mới vào có thể nảy sinh các hiệu ứng ng­ư­ợc như­: ngại học tập, coi th­ường kết quả lao động của các nhà khoa học và những người sáng chế.
Trạng thái chính trị tinh thần là mức độ tích cực về mặt chính trị tinh thần của “Bộ đội Cụ Hồ” trong những điều kiện và hoàn cảnh nhất định. Giữa thời chiến và thời bình, trạng thái ấy có những thay đổi về thứ bậc của các mặt biểu hiện, sự phát triển về nội dung, nh­­ưng bản chất thì không thay đổi. Ngày nay, trạng thái chính trị tinh thần được biểu hiện trư­­ớc hết ở thái độ và trách nhiệm của các sĩ quan và chiến sĩ đối với Đảng, Nhà n­ư­ớc và nhân dân, trư­­ớc các tác động nhiều chiều của xã hội, trư­­ớc các thời cơ và thách thức; ở thái độ của họ đối với mục đích và phương thức bảo vệ Tổ quốc trong hoàn cảnh quốc tế và đất nư­ớc có sự chuyển biến mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực của cuộc sống xã hội; đồng thời còn được biểu hiện trong các quan hệ nội bộ, đặc biệt là quan hệ cán binh, tr­ước các biến đổi phức tạp về giá trị và định hướng giá trị trong một môi tr­ường văn hoá đa dạng.